Thứ Ba, 27 tháng 5, 2014

tiểu luận kinh tế vĩ mô hoàn chỉnhx


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "tiểu luận kinh tế vĩ mô hoàn chỉnhx ": http://123doc.vn/document/566991-tieu-luan-kinh-te-vi-mo-hoan-chinhx.htm


MỤC LỤC
Trang
I. ĐẶT VẤN ĐỀ……………………………………………………… ….01
II. NỘI DUNG
1. Tăng trưởng kinh tế……………………………………………….… 04
2. Tập trung kiềm chế lạm phát khá thành công……………………….…… 07
3. Ổn định kinh tế vĩ mô…………………………………………………… 09
4. Khó khăn và thách thức……………………………………………………12
5. Nhiệm vụ và giải pháp 14
III. KẾT LUẬN ……………………………………………………………… 17
Tài liệu tham khảo…………………………………………………………… 18
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Kết thúc năm 2011 đầy khó khăn của nền kinh tế, những tín hiệu tích cực vĩ
mô cũng những chính sách điều hành cứng rắn của Chính phủ trong nhiệm kỳ
1
mới đang mở ra kỳ vọng sáng sủa hơn cho năm 2012. Tuy nhiên bước vào năm
2012, do tiếp tục chịu hậu quả từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng
hoảng nợ công kéo dài ở khu vực Châu Âu nên kinh tế thế giới diễn biến không
thuận. Tăng trưởng của hầu hết các nền kinh tế phát triển và đang phát triển đạt
mức thấp. Thị trường việc làm bị thu hẹp, thất nghiệp gia tăng. Ở trong nước,
những vấn đề bất ổn tồn tại nhiều năm qua trong nội tại nền kinh tế chưa được
giải quyết triệt để, thiên tai dịch bệnh liên tiếp xảy ra, cùng với bối cảnh bất lợi
của tình hình thế giới đã ảnh hưởng mạnh đến sản xuất kinh doanh và đời sống
dân cư. Lạm phát, lãi suất ở mức cao. Sản xuất có dấu hiệu suy giảm trong một
vài tháng đầu năm do tiêu thụ hàng hóa chậm, hàng tồn kho tăng. Vốn huy động
thiếu cùng với thị trường tiêu thụ giảm sút gây sức ép cho sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
II. NỘI DUNG
Đối với Việt Nam, nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2012 là ưu tiên kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì mức tăng trưởng một cách hợp lý gắn
2
với đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế, nâng cao chất lượng,
hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Kết quả thực hiện trong 9 tháng đầu
năm 2012 được thể hiện ở một số điểm dưới đây:
Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) - lạm phát đã giảm mạnh so với năm
2011 (đặc biệt trong hai tháng 6 và 7 có mức tăng trưởng âm). So với tháng 12
năm 2011. chỉ số CPI 9 tháng đầu năm 2012 tăng khoảng 5%.
● Tỷ giá hối đoái ít thay đổi.
● Thị trường vàng không ổn định, tăng giảm bất thường.
● Mặt bằng lãi suất có xu hướng giảm.
● Cán cân thanh toán quốc tế trong 9 tháng ước thặng dư khoảng8 tỷ USD.
Lao động, việc làm trong 9 tháng đầu năm 2012 ước giải quyết được
khoảng 1.165 nghìn lao động, tăng khoảng 3,3% so với cùng kỳ năm 2011 và
đạt 72,8% kế hoạch năm 2012.
Số doanh nghiệp mới thành lập trong khoảng 10 tháng đầu năm 2012 đạt
hơn 46.000 doanh nghiệp (giảm khoảng 12% so với cùng kỳ năm 2011.
Số doanh nghiệp đã giải thể và dừng hoạt động trong 9 tháng đầu năm
2012 là hơn 35.483 doanh nghiệp (tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2011).
Thu NSNN tính đến 15 tháng 8 năm 2012 đạt 418 nghìn tỷ đồng (56,5% dự
toán, tăng 1,7% so cùng kỳ 2011)
Chi NSNN tính đến 15 tháng 8 năm 2012 đạt 534 nghìn tỷ đồng (59,1% dự
toán tăng 18,6% so cùng kỳ 2011).
Tổng đầu tư xã hội ước 9 tháng đầu năm 2012 đạt 708,6 nghì tỷ đồng, bằng
35,2% GDP và tăng 8,6% so cùng kỳ năm 2011.
Xuất khẩu 9 tháng 2012 ước đạt 82 tỷ USD (tăng 16,4% so cùng kỳ năm
2011). Nhập khẩu ước đạt 82,5 tỷ USD (tăng 5% so cùng kỳ năm 2011). Như
vậy nhập siêu khoảng 0,5 tỷ USD.
3
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký trong 8 tháng đầu năm 2012 đạt 8,5 tỷ
USD, bằng 66,1% cùng kỳ năm 2011. Đầu tư trực tiếp thực hiện 8 tháng đầu
năm 2012 đạt 7,28 tỷ USD, bằng 99,7% cùng kỳ năm 2011.
Như vậy, so với mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 6 - 6,5% thì năm 2012 sẽ là
năm thứ hai liên tiếp Việt Nam không đạt kế hoạch như đã dự kiến.
Từ đó, có thể tạm nhận xét rằng các chính sách kiềm chế lạm phát và ổn định
kinh tế vĩ mô về cơ bản có phát huy tác dụng, mức lạm phát đã giảm và kinh tế
vĩ mô giữ được ở mức khá ổn định trong tầm ngắn hạn. Mức lạm phát cả năm
có nhiều khả năng kiềm chế được ở mức một chữ số. Tuy nhiên, nếu xét về
trung và dài hạn thì kinh tế vĩ mô vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn.
1. Tăng trưởng kinh tế
Kịch bản tốt: Tăng trưởng vượt 6% khó khả thi với tình hình kinh tế thế giới
khả quan, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam dự báo tăng từ 12-13%; trong khi
kim ngạch nhập khẩu dự báo tăng 13-14%; tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu đạt
khoảng 11-12% vào năm 2012, tăng so với tỷ lệ 9,9% năm 2011.
Khi nền kinh tế toàn cầu duy trì được mức tăng trưởng, nguồn vốn đầu tư FDI
vào Việt Nam được dự báo duy trì ở mức tương đương năm 2011. Vốn FDI dự
kiến chiếm khoảng 23% tổng mức đầu tư toàn xã hội, tương đương khoảng 230
nghìn tỷ đồng.
Tổng hợp các yếu tố cấu phần GDP như tiêu dùng nội địa, xuất nhập khẩu
và đầu tư, với giả định các nhân tố khác không đổi, tính toán cho thấy với tổng
mức đầu tư toàn xã hội tương đương 33,5-33,9% GDP (mức kế hoạch đã được
phê chuẩn), tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2012 có thể đạt từ 6-6,3% nếu
hiệu suất đầu tư của nền kinh tế có sự cải thiện đáng kể.
Nhưng, nếu không có sự thay đổi về công nghệ để tăng năng suất, hiệu quả thì
cần tăng tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế dân doanh từ 35,2% năm 2011
lên khoảng 43% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2012 và giảm tỷ lệ đầu tư khu
vực kinh tế nhà nước từ mức 38,9% năm 2011 xuống còn 34% tổng vốn đầu tư
toàn xã hội vào năm 2012.
4
Với tốc độ tăng trưởng GDP từ 6-6,3%, lạm phát duy trì ở mức 8-10% và mức
bội chi ngân sách được thông qua cho năm 2012 ở mức 4,8% GDP, theo tính
toán của Ủy ban giám sát, nợ công Việt Nam năm 2012 dự kiến đạt mức 58,2-
58,8% GDP.
Tuy nhiên ở kịch bản này, Ủy ban cho rằng để điều chỉnh cơ cấu đầu tư như
trên là một thách thức rất lớn. Bởi vì, muốn tăng tỷ trọng đầu tư của khu vực
dân doanh từ 35,2% của năm 2011 lên tới 43% tổng đầu tư toàn xã hội vào năm
2012, theo tính toán của Ủy ban, tăng trưởng tín dụng cần đạt trên 25%, cao
hơn nhiều so với định mức tăng tín dụng từ 15-17% để kiểm soát lạm phát từ 8-
10%.
Trong khi đó, để đảm bảo an sinh xã hội và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế
giai đoạn sau, Việt Nam cần tiếp tục quan tâm đầu tư hạ tầng cơ sở, đặc biệt là
khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Vì vậy, khó có thể giảm tỷ trọng đầu tư
của khu vực kinh tế nhà nước từ mức 38,9% tổng đầu tư toàn xã hội năm 2011
xuống chỉ còn 34% ngay trong năm 2012.
“Như vậy, trong điều kiện chưa tạo được bước đột phá công nghệ để tăng năng
suất, hiệu quả đầu tư kinh tế, nếu năm 2012 không có những đột biến về nguồn
huy động vốn sản xuất thông qua nguồn huy động vốn khác ngoài kênh tín
dụng, vốn tự có của doanh nghiệp, thì khả năng tăng trưởng GDP ở mức 6-6,3%
là khó đạt được”, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia nhìn nhận.
Kịch bản trung bình: GDP có thể đạt 5,6-5,9%
Ở kịch bản trung bình, giả định đặt ra là sản lượng nền kinh tế thế giới giảm
khoảng 1%, tác động làm thương mại giảm khoảng 3-4% so với 2011. Ảnh
hưởng đến Việt Nam, tốc độ tăng trưởng xuất, nhập khẩu của nước ta năm 2012
dự báo đạt tương ứng 8-9% và 7-8%, tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu theo đó đạt từ 7-
8%.
5
Trong khi đó, lượng vốn FDI vào Việt Nam dự báo sẽ thấp hơn một chút so với
kịch bản tốt, chỉ chiếm từ 22-22,5% tổng mức đầu tư toàn xã hội.
Với các dữ liệu trên, cùng với cơ cấu đầu tư khu vực kinh tế nhà nước chiếm
36,5-37% và khu vực kinh tế dân doanh chiếm 40,5-41% tổng đầu tư toàn xã
hội, mô hình tính toán của Ủy ban cho thấy, tăng trưởng GDP của Việt Nam
năm 2012 có thể đạt từ 5,6-5,9%.
Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cho rằng, đây là kịch bản có nhiều khả
năng nhất và các chỉ số, các cân đối cũng mang tính khả thi nhất, mức tăng
trưởng này cũng tương đối sát với mức sản lượng tiềm năng hiện tại của Việt
Nam.
Ở kịch bản này, mô hình tính toán về quan hệ giữa tăng trưởng GDP, bội chi
ngân sách và nợ công cho kết quả, với tỷ lệ bội chi ngân sách ở mức 4,8%
GDP, nợ công Việt Nam năm 2012 sẽ đạt mức 58,8-59,2% GDP.
Kịch bản xấu: GDP chỉ đạt 5,2-5,5%
Nhưng với giả định trường hợp xấu nhất, kinh tế thế giới có khả năng rơi vào
suy thoái và đạt mức tăng trưởng dưới 2,4%; thương mại thế giới tăng ở mức
dưới 3% về khối lượng và giá cả có thể giảm sâu hơn mức dự báo 10% sẽ tác
động mạnh đến tăng trưởng kinh tế cũng như tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của
Việt Nam.
Dự báo trong trường hợp này, kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng từ 5-6% so với
năm 2011. Trong khi đó, nhiều khả năng Chính phủ sẽ phải điều chỉnh chính
sách vĩ mô, tăng đầu tư nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, ngăn chặn suy giảm kinh tế,
nên chính sách có phần nới lỏng hơn và vì thế nhập khẩu dự báo tăng 5-6%.
Theo đó, tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu vào khoảng 9-10%.
6
Tương ứng, nguồn vốn FDI vào Việt Nam ước chỉ đạt khoảng 10 tỷ USD,
tương đương khoảng 21% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Lạm phát dự báo sẽ
giảm còn 8-9%.
Ủy ban lưu ý rằng, trường hợp suy thoái kinh tế thế giới như tại kịch bản xấu
có thể khuếch đại những điểm yếu nội tại của nền kinh tế Việt Nam, như đã
từng xảy ra trong cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm
2008-2009.
Bởi vậy, khi khả năng này xảy ra, Ủy ban khuyến nghị cần duy trì đầu tư của
khu vực kinh tế nhà nước nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng cho nền kinh tế,
giảm tối đa những tác động tiêu cực từ bên ngoài. Theo đó, tỷ trọng đầu tư của
khu vực kinh tế nhà nước cần duy trì ở mức tương đương năm 2011 (38,9%), tỷ
trọng đầu tư của khu vực kinh tế dân doanh khoảng 40%.
Với những giả định như trên, tính toán của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia
cho thấy, tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ đạt từ 5,2-5,5%.
Kết hợp với tỷ lệ bội chi ngân sách của năm 2012 được thông qua là 4,8%
GDP, tính toán của cho thấy, nợ công của Việt Nam năm 2012 sẽ ở mức 59,8-
60,4% GDP.
→ Tuy nhiên thực tế: Tăng trưởng GDP của Việt Nam từ đầu năm tới nay hạ xuống mức
4,31% dù mức tăng trưởng của quý hai tăng được 4,5%.
2. Tập trung kiềm chế lạm phát khá thành công
Trước bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm khó lường, Việt Nam đã có chủ
trương đúng về tập trung cho mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm
phát, bảo đảm tăng trưởng hợp lý. Tiếp nối Nghị quyết 11/2011/NQ-CP, điều
này đã được khẳng định trong các Nghị quyết gần đây của các Hội nghị Trung
ương Đảng (nhất là Hội nghị Trung ương 3 về cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới
mô hình tăng trưởng), Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội năm 2012 và các Nghị quyết 01/2012/NQ-CP của Chính phủ về điều
hành năm 2012, Nghị quyết 13/2012/NQ-CP về tháo gỡ khó khăn cho sản xuất
kinh doanh, hỗ trợ thị trường,…. Nhờ các chủ trương đúng đắn này và sự chỉ
7
đạo kiên quyết của lãnh đạo cấp cao, lãnh đạo ở các ngành, các địa phương, tình
trạng lạm phát biểu hiện bằng chỉ số CPI các tháng liên tiếp đã được điều chỉnh
khá thành công, CPI hằng tháng giảm khá đều đặn từ 8/2011, dù có tác động
tăng lên chút ít trong dịp Tết. Lạm phát tháng 8/2011 (so cùng kỳ) là 23% đã
giảm dần, đến đến 8/2012 chỉ còn 5%. Dù còn có thể có những biến động trong
hệ thống tiền tệ, giá nông sản và xăng dầu, cũng như giá các dịch vụ y tế, giáo
dục,… nhưng theo dự báo sơ bộ của Bộ KHĐT tiến hành cuối tháng 8/2012, chỉ
số CPI tháng 12/2012 so tháng 12/2011 sẽ tăng khoảng 7-8%, và CPI trung bình
năm tăng 8,5-9,5% so cùng kỳ.
Một nguyên nhân cốt lõi của thành quả này là đã kiên trì chính sách điều tiết
hợp lý việc cung tiền, bảo đảm cân đối khá tốt hàng - tiền. Nếu so sánh với việc
tăng đầu tư ngân sách khi kích cầu năm 2009 và tín dụng dễ dãi năm 2010 mới
thấy việc kiểm soát tiền tệ năm 2012 là có kết quả, sau chuyển biến bước đầu
năm 2011. Tuy kiểm soát chặt chẽ, nhưng khi cần thiết, NHNN đã bơm tiền ra
thị trường bằng các kênh chính thức (như hỗ trợ đầu tư, kể cả trái phiếu chính
phủ, hỗ trợ thanh khoản cho NHTM qua thị trường mở) và sau đó bằng các biện
pháp nghiệp vụ đã thu tiền về nhanh, làm cho việc cung tiền (qua M2) danh
nghĩa thì lớn, nhưng tiền (nhất là tiền mặt) thực sự tham gia lưu thông thì ít hơn,
bằng các biện pháp nghiệp vụ thu tiền, nhất là tiền mặt về NHNN. Thêm vào
đó, năm 2012 việc cung tiền qua kênh tín dụng cũng bị giảm mạnh do hoạt
động tín dụng rất khó khăn, sau 8 tháng mới tăng chưa tới 2%, do cả phía doanh
nghiệp (tiêu thụ khó, tồn kho cao) và thanh khoản của ngân hàng thương mại
(do nợ xấu). Có thể nói, trong các nguyên nhân giảm lạm phát năm 2012,
khoảng phân nửa là do yếu tố điều hành tiền tệ khá tốt, làm ổn định cung-cầu
hàng-tiền. Thêm vào đó, trong các tháng đầu năm, giá xăng dầu và năng lượng
nói chung trên thế giới khá ổn định. Thậm chí giảm cũng như giá lương thực
thực phẩm trong nước cũng được bảo đảm ở mức ổn định đã tác động tích cực
đến quá trình giảm lạm phát khá ngoạn mục. Tuy nhiên, trong các tháng cuối
năm, nhất là quý IV có nhiều tác động mới theo hướng tăng CPI trở lại,do tác
động tăng giá xăng dầu, các dịch vụ y tế, giáo dục,… và cả giá lương thực thực
phẩm. Riêng về các giải pháp “bình ổn giá” của một số địa phương chưa có
nhiều tác dụng thực tế, tuy tác động tâm lý tốt.
Việc giảm lạm phát ở nước ta cũng được hỗ trợ thêm bởi yếu tố giá đầu vào
của các giá nhập khẩu cũng thấp trong điều kiện ổn định tỷ giá, nên đã làm
8
cho việc giảm CPI được thực hiện thành công hơn mong đợi. Tuy nhiên, sự lo
lắng về đình đốn cũng phần nào làm giảm niềm hưng phấn do thành công
không chế lạm phát rất đáng khích lệ này.
Nhìn chung, sự chỉ đạo tiếp tục thận trọng theo hướng kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô là hoàn toàn đúng, phải kiên trì trong tầm trung dài hạn. Dự
báo cả năm sẽ tăng khoảng 7-8%, nếu không có biến động lớn (còn theop bình
quân năm thì có thể tăng 8-9%). Tuy mức tăng giá này còn khá cao so với các
nước trong khu vực và thế giới, CPI chỉ khoảng 2-4%, nhưng CPI nước ta so
với năm 2011 và mấy năm gần đây, đã đạt được sự khống chế đáng khích lệ.
Cần cảnh báo rằng nếu lỏng tay, như bung tiền ra quá mạnh hay điều hành giá
cả thị trường, nhất là lương thực thực phẩm theo vùng và giá xăng dầu bất cẩn,
có thể làm lạm phát tăng cao năm 2013 và các năm sau !
Tuy nhiên, nếu tính lạm phát mà bỏ yếu tố xăng dầu và lương thực, thực
phẩm để xét lạm phát “lõi” core inflation thì vẫn còn cao. Do đó, cần rất kiên trì
kiềm chế lạm phát, mà không thể hài lòng và buông lơi.
Nhìn lại thành tựu khống chế lạm phát 20 năm qua, nhất là sau năm 1994, có
thể thấy các thành tựu kiềm chế lạm phát năm 2012 đạt được là rất đáng trân
trọng. Tác động của yếu tố điều hành theo đúng chính sách chủ Đảng và Nhà
nước là quan trọng
3. Ổn định kinh tế vĩ mô
Trong các chỉ tiêu về ổn định kinh tế vĩ mô có thể ghi nhận về các chỉ tiêu
tài chính, ngân hàng, tỷ giá, dự trữ ngoại tệ, đôi khi cũng tính cả xuất nhập khẩu
và cán cân thanh toán quốc tế, việc làm…
Tăng trưởng kinh tế: Cùng với thành tựu kiềm chế lạm phát, kinh tế Việt
Nam vẫn tăng trưởng khoảng 5% trong khó khăn của kinh tế thế giới. Đó là
mức tăng trưởng phù hợp, thích ứng với khó khăn chung, cả xuất nhập khẩu,
sức cạnh tranh kém,… Trong điều kiện kinh tế thế giới suy giảm mạnh đó, kinh
tế nước ta tuy có giảm sút, nhưng vẫn ở mức trên 5%, cao hơn mức thấp nhất
năm 1999 (có 4,77%) khi bị tác động bởi khủng hoảng tài chính Đông Á. Do
đó, khi cả nền kinh tế toàn cầu tiếp tục có sụt giảm và khởi sắc yếu ớt, thì
những bất cẩn trong điều hành hệ thống tài chính tiền tệ và an sinh xã hội, có
9
thể làm cho bất ổn kinh tế vĩ mô dẫn tới một số xáo trộn khó lường về chính trị
xã hội
Tỷ giá hối đoái đã giữ được ổn định, sau thời kỳ điều chỉnh mạnh mấy năm
gần đây, thậm chí điều chỉnh quá mạnh đầu năm 2012
Kiều hối tăng mạnh (lên tới 6 tỷ$ trong 6 tháng) đã tạo điều kiện để NHNN
mua được số lượng lớn ngoại tệ và sau đó bằng các biện pháp nghiệp vụ ngân
hàng đã thu hồi tiền mặt trong lưu thông. Trên cơ sở ổn định tỷ giá, Việt Nam
cũng đã tăng cường được nguồn dự trữ ngoại tệ một cách ổn định: riêng năm
2012 mua ngoại tệ tăng thêm gần 10 tỷ$. Dự trữ ngoại tệ đạt mức cao nhất
trong ba năm qua.A
Xuất khẩu cũng được tăng trưởng mạnh. Năm 2012 dù kinh tế khó khăn
nhưng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vẫn đạt khá trên 15% và xuất hiện những
mặt hàng xuất khẩu cao như máy tính, điện thoại, v.v…. Trong xuất khẩu, do
duy trì được sự tham gia vững chắc trong chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu nên các
doanh nghiệp FDI đã có mức tăng trưởng xuất khẩu (ngoài dầu khí) khá cao,
đạt 35-40%. Tuy nhiên, do doanh nghiệp nội địa chưa tham gia nhiều vào chuỗi
giá trị toàn cầu. Đây là những yếu kém cực lớn, ảnh hưởng lớn đến tốc độ tăng
trưởng 2012 cần chăm chút trong trung và dài hạn. Điều này chỉ có thể giải
quyết được nếu gắn các vấn đề kinh tế trước mắt với tái cấu trúc trong trung và
dài hạn, nhất là ba khâu quan trọng nhất đã nêu như doanh nghiệp nhà nước,
đầu tư công và hệ thống tài chính tiền tệ… để hướng đến nền kinh tế hiệu quả
hơn theo hướng xây dựng mô hình tăng trưởng mới.
Các cân đối vĩ mô cũng được giữ vững ổn định. Tỷ lệ tích lũy vẫn được giữ
ở mức hợp lý, với việc giảm sút đầu tư công và đầu tư FDI nên tỷ trọng đầu
tư/GDP đã giảm một cách có hệ thống. Hệ quả là tốc độ tăng trưởng đã được
giảm bớt hợp lý khoảng 5%, khi các nền kinh tế trên thế giới đều giảm sút
mạnh. Cán cân vãng lại được cải thiện do dòng kiều hối vẫn ổn định khi thâm
hụt thương mại giảm mạnh. Cán cân tổng thể dương 7-8 tỷ$ nhờ luồn vốn bên
ngoài vẫn tiếp tục thực dương 7-8 tỷ$. Tuy nhiên, những biến động gần đây
trong xử lý các gian lận trong hoạt động mờ ám thôn tính ngân hàng, phản ánh
tiình trạng quản lý yếu kém hiện nay chưa được cải thiện. Đặc biệt, cân đối
ngân sách năm 2012 gặp khó khăn lớn khi thu nhập từ xuất nhập khẩu, thuế cho
10
hoạt động sản xuất kinh doanh và thu từ đất… đều giảm mạnh. Lũy kế đến
15/8/2012 tổng thu NSNN ước đạt 418 nghìn tỷ VND bằng 56,5% dự toán; tổng
chi NSNN ước đạt 534 nghìn tỷ VND, bằng 59,1% dự toán. Tình trạng vượt thu
như nhiều năm chắc sẽ không đáng kể, gây khó khăn cho cân đối ngân sách ở
trung ương và nhiều địa phương.
Tái cơ cấu kinh tế đã có sự khởi động, tập trung vào ba khâu trọng điểm là
đầu tư, ngân hàng tiền tệ và DNNN:Tái cơ cấu đầu tư mà trọng tâm là đầu tư
công theo hướng giảm dần tỷ trọng và nâng cao hiệu quả. Việc triển khai chỉ thị
1792 về đầu tư công đã được tiếp nối bằng việc Quốc Hội ra Nghị quyết về ổn
định vốn trái phiếu chính phủ đến hết 2015 và triển khai ý đồ xây dựng kế
hoạch đầu tư trung hạn, đã làm cho các ngành, các địa phương phải chú ý nhiều
sử dụng nguồn vốn đầu tư công cho hiệu quả. Đã chú trong hơn việc xây dựng
cơ chế, chính sách định hướng và tạo điều kiện đẩy mạnh xã hội hóa trong hoạt
động đầu tư, nhất là hình thức hợp tác công tư PPP. Các ngành và địa phương
cũng chú trọng nâng cao chất lượng và tính bền vững của nguồn vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài. Cơ cấu lại thị trường tài chính mà trọng tâm là tái cơ cấu hệ
thống ngân hàng, các tổ chức tài chính đã được triển khai bước đầu, nhưng còn
lúng túng khi các NHTM có tình trạng nợ xấu rất lớn. Trên thực tế, nói nhiều
hơn làm trong việc “nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng tính an toàn hệ thống;
giảm dần việc huy động đầu tư chủ yếu từ tín dụng ngân hàng; tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp huy động vốn đầu tư từ thị trường vốn; kiểm soát chặt
chẽ hoạt động của các công ty chứng khoán”, thậm chí việc “tăng hiệu quả hoạt
động bảo hiểm; kiểm soát hiệu quả các quỹ đầu tư, ngăn chặn hiện tượng đầu
cơ lũng đoạn thị trường” còn có nhiều yếu kém, thậm chí bị một số Nhóm lũng
đoạn đã bị cơ quan công an bắt tạm giam. Tuy nhiên, vụ Nguyễn Đức Kiên
đang có những tác động không nhỏ, cần theo dõi sát sao (không chỉ tiền nội tệ,
mà cả ngoại tệ và vàng. Trong vấn đề này, cả phương án dự bị rủi ro và công
tác tuyên truyền đều rất cần thiết để đảm bảo không để xẩy ra các tác động xấu
không lường trước. Liên quan lĩnh vực này là tài chính công cũng cần được soi
xét kỹ khi cả chi tiêu thường xuyên và đầu tư còn nhiều khoản để ngoài ngân
sách và chia cắt giữa trung ương và địa phương, làm khó cho việc tái cơ cấu
đầu tư công, đi cùng với tiết kiệm chi thường xuyên. Toàn bộ đầu tư công và cả
chi tiêu công nói chung còn chưa được kiểm soát như cần thiết, đang làm cho
mất cân đối ngân sách thêm nghiêm trọng khi sản xuất đình đốn. Nếu không cắt
11
giảm chi tiêu công thì sẽ làm mất cân đối thêm nghiêm trọng. Cơ cấu lại doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, trong đó trọng tâm là các tập đoàn kinh tế,
tổng công ty nhà nước là công việc có ý nghĩa chiến lược, nhưng chậm được
triển khai vì còn bị níu kéo bởi tư duy cũ về vị trí của khu vực DNNN. Hàng
loạt đề án, kể cả quyết định 929 ngày 27/7 cũng còn chưa quyết liệt. Qua kiểm
tra, việc “nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp nhà nước; minh bạch hóa tài
chính và kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh góp phần tăng tính an toàn
của nền kinh tế” tuy có nêu trong Nghị quyết nhưng chưa được triển khai mạnh,
khi nợ xấu của các DNNN quá lớn. Trong năm 2012, chưa thực hiện tốt việc
“tăng khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp
xuất khẩu, các doanh nghiệp chế biến nông sản, sản xuất hàng tiêu dùng phục
vụ trực tiếp đời sống nhân dân, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động”.
Nhìn chung, cùng với kiềm chế lạm phát, các vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô
đã đạt được kết quả bước đầu, cần được lưu ý lâu dài, tạo điều kiện để tiến hành
tái cấu trúc kinh tế trong trung và dài hạn, hướng tới năng suất, chất lượng, hiệu
quả, tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường. Mất cân đối vĩ mô nhiều năm đã
là căn nguyên sâu xa của tình trạng lạm phát tăng cao, trực tiếp ảnh hưởng tới
đời sống nhân dân, tới tâm lý xã hội.
4. Khó khăn và thách thức
Với bội chi, mặc dù lần đầu tiên chúng ta kéo giảm được xuống mức dưới 5% GDP, nhưng
bội chi ngân sách đã kéo dài liên tục trong nhiều năm qua chưa có xu hướng cân bằng. Năm
2011 đã chi vượt dự toán là 9,7%, tương đương khoảng 70.400 tỷ đồng.Để bù đắp bội chi ngân
sách, Chính phủ phải phát hành trái phiếu để huy động vốn và trở thành đối thủ cạnh tranh của
chính các doanh nghiệp Việt Nam, người nộp tiền cho ngân sách nhà nước, từ đó đẩy lãi suất
tăng cao. Doanh nghiệp đã khó khăn lại càng thêm khó khăn, nhiều doanh nghiệp đã ngừng
hoạt động và thất nghiệp gia tăng.
Nền kinh tế của chúng ta trong năm tới sẽ tiếp tục phải đối mặt với ba thách thức.
- Trước hết, đó là lạm phát. Lạm phát tại Việt Nam đã tăng cao và kéo dài trong suốt 5 năm
qua, kể từ năm 2007 đến nay và bình quân mỗi năm là 13%, gấp 3 lần so với các nước trong
khu vực. Giá cả tăng cao và nhiều thời điểm còn có nhiều mặt hàng tăng phi lý, ảnh hưởng đến
niềm tin của người dân vào sự điều hành của Chính phủ.
Lạm phát của Việt Nam có nhiều nguyên nhân, trong đó có chính sách tiền tệ, có chính
sách tài khóa, nhưng tôi nghĩ rằng yếu tố quan trọng hơn nữa là vấn đề quản lý giá. Chúng ta
thường nói rằng, giá cả biến động theo quy luật cung cầu, nếu nhu cầu tăng, giá có thể tăng và
12
ngược lại. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, mặc dù đường cung dịch chuyển hướng tăng lên
theo đúng quy luật giá phải giảm, nhưng giá vẫn tăng.
Việt Nam có những thế mạnh về nông nghiệp, về lương thực, thực phẩm nhưng giá cả về mặt
lương thực, thực phẩm tăng cao hơn các nước trong khu vực. Chúng ta có thể thấy một điều
bất hợp lý là không phải thiếu nguồn cung giá sốt, cung tăng dồi dào nhưng giá vẫn sốt, vì vậy,
tôi cho rằng, Chính phủ phải quyết liệt hơn trong quản lý và điều hành giá.
- Thứ hai là vấn đề lãi suất cho vay cao khiến việc vực dậy nền kinh tế nội tại cũng như sản
xuất kinh doanh trong nước càng khó khăn hơn. Nếu không giảm nhanh được mức lãi suất cho
vay mà để tiếp tục ở mức cao như hiện nay, sẽ “giết chết” doanh nghiệp của chúng ta ngay
trên sân nhà.
- Thứ ba là thách thức về độ mở của nền kinh tế chúng ta đã lên đến 166%. Với độ mở như
vậy, Việt Nam rất nhạy cảm với “thời tiết” kinh tế của thế giới. Các nước ASEAN, sau cuộc
khủng hoảng vừa qua, họ đã kéo độ mở xuống như Thái Lan dưới 100% GDP, Indonesia là
36,7% và Phillipines là 53,6%.
Các nước này đều là các nước xuất siêu mà họ còn phải nỗ lực kéo giảm như vậy, trong khi
nước ta lại là nước nhập siêu và nhập siêu liên tục trong nhiều năm với mức nhập siêu rất cao.
5 năm 2001 – 2005 nhập siêu chỉ có 19 tỷ USD, nhưng trong 5 năm 2006 – 2010 ta nhập siêu
63 tỷ USD. Kế hoạch 5 năm 2011 – 2015, chúng ta tiếp tục nhập siêu 68 tỷ USD…
Chính phủ cũng đã thể hiện rõ quyết tâm trong điều hành để nền kinh tế nước ta có được một
sự ổn định kinh tế vĩ mô và trụ vững được trước thách thức. Vì thế, Chính phủ đã đề ra mục
tiêu là không chạy theo tăng trưởng cao, mà chỉ phấn đấu ở mức tăng trưởng vừa phải, còn lại
tiếp tục tập trung sức cho kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
13
5. Nhiệm vụ và giải pháp
Theo nhiều dự báo, kinh tế thế giới đang có những dấu hiệu tích cực nhưng vẫn
còn nhiềudiễn biến phức tạp, khó lường. Tình hình kinh tế - xã hội trong nước còn nhiều khó
khăn, thiên tai, dịch bệnh còn tiềm ẩn, nguy cơ bất ổn kinh tế vĩ mô vẫn còn lớn; lãi suất tín
dụng còn cao; áp lực tăng giá của một số loại hàng hóa là đầu vào của sản xuất sẽ tiếp tục gây
khó khăn cho sản xuất kinh doanh cũng như điều hành kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, có thể thấy
rằng một số lĩnh vực của nền kinh tế như nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, sản xuất hàng xuất
khẩu, hàng tiêu dùng trong nước, nhất là các sản phẩm nông nghiệp, thủy sản chế biến, điện
tử… vẫn đang có mức tăng khá. Đây chính là những yếu tố quan trọng cần phát huy, tiếp tục
tập trung lãnh đạo, chỉ đạo điều hành để vượt qua khó khăn, thực hiện thắng lợi mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội năm 2012.
Căn cứ các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 mà các Nghị quyết của
Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã đề ra đồng thời xuất phát từ tình hình thực tiễn khó khăn của
nền kinh tế trong những tháng gần đây, Chính phủ xác định nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian
tới là: Tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, đồng thời tiếp tục
thực hiện nhất quán chủ trương kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô để tạo nền tảng cho
tăng trưởng bền vững; từng bước thực hiện có kết quả chủ trương tái cấu trúc nền kinh tế theo
hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.
Trong đó tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:
Một là, tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và đầu tư, đồng thời tiếp tục thực
hiện nhất quán chủ trương kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.
Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương thực hiện có hiệu quả các giải pháp thiết thực, phù hợp,
kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để thúc đẩy sản xuất phát triển, nhất là về vốn, mặt
bằng, nhân lực, thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu theo các cơ chế, chính sách đã ban
hành, tập trung thực hiện tốt Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10 tháng 5 năm 2012 về một số
giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Đặc biệt cần điều chỉnh
giảm lãi suất vay phù hợp với mức giảm của lạm phát; tăng khả năng vay vốn cho doanh
nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp
phụ trợ và khu vực nông nghiệp, nông thôn. Thực hiện việc kéo dài thời hạn nộp thuế, giảm
tiền thuê đất, miễn thuế môn bài đối với một số đối tượng doanh nghiệp; đẩy nhanh giải ngân
vốn đầu tư nhà nước; đồng thời trình Quốc hội xem xét miễn giảm thêm một số loại thuế. Tăng
cường thu hút, giải ngân các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn hỗ trợ phát
triển chính thức (ODA). Triển khai áp dụng các giải pháp xử lý nợ phù hợp đối với các doanh
nghiệp, nhất là các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, có tiềm năng phát triển nhưng đang
gặp khó khăn tạm thời (cơ cấu lại nợ, giãn nợ, thay đổi thời hạn, lãi suất…). Xoá bỏ các rào
cản đầu tư bất hợp lý, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho đầu tư và kinh
doanh.
14

(Hình học 10 - Chương III) Bài giảng: Đường parabol


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "(Hình học 10 - Chương III) Bài giảng: Đường parabol ": http://123doc.vn/document/567152-hinh-hoc-10-chuong-iii-bai-giang-duong-parabol.htm


4. phơng pháp giải Các dạng toán thờng gặp
Bài toán 1: Xác định các thuộc tính của Parabol (P).
Phơng pháp thực hiện
Ta thực hiện theo các bớc:
Bớc 1: Chuyển phơng trình ban đầu của Parabol (P) về dạng chính tắc
(P): y
2
= 2px hoặc (P): x
2
= 2py.
Bớc 2: Xét các khả năng:
Dạng 1: Parabol (P): y
2
= 2px (p>0)
Các thuộc tính của (P) gồm:
Đỉnh O(0. 0),
Tiêu điểm F (
2
p
, 0),
Đờng chuẩn (d): x =
2
p
,
Parabol, nhận Ox làm trục đối xứng, đồ thị ở bên phải Ox.
Dạng 2: Parabol (P): y
2
= 2px (p>0)
Các thuộc tính của (P) gồm:
Đỉnh O(0. 0),
Tiêu điểm F (
2
p
, 0),
Đờng chuẩn (d): x =
2
p
,
Parabol, nhận Ox làm trục đối xứng, đồ thị ở bên trái Ox.
Dạng 3: Parabol (P): x
2
= 2py (p>0)
Các thuộc tính của (P) gồm:
Đỉnh O(0. 0),
Tiêu điểm F (0,
2
p
),
Đờng chuẩn (d): y =
2
p
,
Parabol, nhận Oy làm trục đối xứng, đồ thị có hớng lên trên.
Dạng 4: Parabol (P): x
2
= 2py (p>0)
Các thuộc tính của (P) gồm:
Đỉnh O(0. 0),
Tiêu điểm F (0,
2
p
),
Đờng chuẩn (d): y =
2
p
,
Parabol, nhận Ox làm trục đối xứng, đồ thị có hớng xuống dới.
Chú ý: Trong trờng hợp phơng trình của (P) có dạng:
5
F
(d)
L
O
y
x
(P)
p/2
p/2
F
(d)
L
O
y
x
(P)
p/2
p/2
F
(
d
)
L
O
x
(P)
p/2
p/2
y
F
(d)
L
O
x
(P)
p/2
p/2
y
(P): (y )
2
= 2p(x ) hoặc (P): (x )
2
= 2p(y ).
ta thực hiện phép tịnh tiến hệ trục Oxy theo vectơ
OI
với I(, ) thành hệ trục IXY
với công thức đổi trục:



=
=
yY
xX




+=
+=
Yy
Xx
ta đợc:
(P): Y
2
= 2pX hoặc (P): X
2
= 2pY.
từ đó chỉ ra các thuộc tính của (P) trong hệ trục IXY rồi suy ra các thuộc tính của (P)
trong hệ trục Oxy.
Ví dụ 1: Cho họ đờng cong (P
m
) có phơng trình:
(P
m
): y
2
2my 2m
2
x + m
2
+ 2m 1 = 0.
Tìm điều kiện của m để (P
m
) là phơng trình một Parabol, khi đó:
a. Tìm quĩ tích đỉnh của họ (P
m
).
b. Tìm quĩ tích tiêu điểm của họ (P
m
).
c. Tìm đểm cố định mà họ (P
m
) luôn đi qua.
Giải
Chuyển phơng trình của (P
m
) về dạng:
(P
m
): (y m)
2
= 2m
2
(x
2
m2
1m2

).
Để phơng trình trên là phơng trình của một Parabol điều kiện là m 0.
Thực hiện phép tịnh tiến hệ trục toạ độ Oxy theo vectơ
OS
với S(
2
m2
1m2

, m) thành hệ trục SXY, với công thức đổi trục:





=

=
myY
m2
1m2
xX
2






+=

+=
mYy
m2
1m2
Xx
2
Khi đó:
(P): Y
2
= 2m
2
X p = m
2
.
Khi đó trong hệ trục SXY, (P
m
) có các thuộc tính:
Đỉnh S.
Trục đối xứng SX chứa tiêu điểm F(
2
m
2
, 0).
Phơng trình đờng chuẩn (d): X =
2
m
2
.
Do đó trong hệ trục Oxy, (P
m
) có các thuộc tính:
6
Đỉnh S(
2
m2
1m2

, m).
Trục đối xứng là y m = 0 chứa tiêu điểm F(
2
m
2
+
2
m2
1m2

, m).
Phơng trình đờng chuẩn (d): x +
2
m
2

2
m2
1m2

= 0.
a. Quĩ tích đỉnh của họ (P
m
).
S :





=

=
my
m2
1m2
x
2
x =
2
y2
1y2

.
Vậy quĩ tích đỉnh của (P
m
) thuộc đờng cong (C
1
): x =
2
y2
1y2

.
b. Quĩ tích tiêu điểm của họ (P
m
).
F:





=

+=
my
m2
1m2
2
m
x
2
2
x =
2
y
2
+
2
y2
1y2

x =
2
4
y2
1y2y
+
.
Vậy quĩ tích đỉnh của (P
m
) thuộc đờng cong (C
2
): x =
2
4
y2
1y2y
+
.
c. Gọi M(x, y) là đểm cố định mà họ (P
m
) luôn đi qua, khi đó:
y
2
2my 2m
2
x + m
2
+ 2m 1 = 0, m
(1 2x)m
2
+ 2(1 y)m + y
2
1 = 0, m






=
=
=
01y
0y1
0x21
2






=
=
1y
2
1
x
.
Vậy (P
m
) luôn đi qua điểm cố định M(
2
1
, 1).
Bài toán 2: Lập phơng trình của Parabol (P).
Phơng pháp thực hiện
Ta lựa chọn một trong hai cách sau:
Cách 1: Sử dụng phơng trình chính tắc của Parabol
(P): y
2
= 2px hoặc (P): x
2
= 2py.
7
Từ đó cần tìm a, b (hoặc a
2
, b
2
) bằng cách thiết lập một hệ hai phơng trình với ẩn a,
b (hoặc a
2
, b
2
).
Cách 2: Sử dụng định nghĩa
Bớc 1: Lấy điểm M(x, y)(P) có tiêu điểm F và dờng chuẩn (d).
Bớc 2: Chuyển MF = MH thành biểu thức giải tích nhờ:
MF
2
= (x x
F
)
2
+ (y y
F
)
2
và MH = d(M, (d)).
Bớc 3: Thu gọn.
Chú ý:
1. Cần phải cân nhắc giả thiết của bài toán thật kỹ càng để lựa chọn dạng phơng trình
thích hợp. Trong trờng hợp không có gì đặc biệt, ta luôn giả sử Parabol (P) có ph-
ơng trình:
(P): y
2
= 2px.
2. Trong nhiều trờng hợp đặc thù chúng ta còn sử dụng phơng pháp quỹ tích để xác phơng
trình Parabol hoặc chứng minh tập hợp điểm là Parabol.
Ví dụ 1: Cho điểm F(3, 0) và đờng thẳng (d) có phơng trình:
(d): 3x 4y + 16 = 0.
a. Tính khoảng cách từ F đến (d) từ đó suy ra phơng trình đờng tròn tâm F tiếp
xúc với đờng thẳng (d).
b. Viết phơng trình Parabol (P) có tiêu điểm F và đỉnh là gốc toạ độ. Chứng minh
rằng (P) tiếp xúc với (d). Tìm toạ độ của tiếp điểm.
Giải
a. Gọi h khoảng cách từ F đến (d), ta có:
h =
22
43
|160.43.3|
+
+
= 5.
Đờng tròn (C) tâm F(3, 0) tiếp xúc với (d)
(C):



=
5RBkính
)0,3(Ftam
(C): (x 3)
2
+ y
2
= 25.
b. Parabol (P) có tiêu điểm F(3, 0) và đỉnh O(0, 0) có phơng trình
(P): y
2
= 2px.
Ta có
2
p
= 3 p = 6.
Vậy phơng trình Parabol (P): y
2
= 12x.
Chứng minh rằng (P) tiếp xúc với (d). Thật vậy, xét hệ phơng trình



=+
=
016y4x3
x12y
2
y
2
= 4(4y 16)
y
2
16y + 64 = 0 y = 8 (nghiệm kép) x =
3
16
.
8
Vậy (P) tiếp xúc với (d) tại tiếp điểm A(
3
16
, 8).
Bài toán 3: Vị trí tơng đối của điểm, đờng thẳng và Parabol.
Phơng pháp thực hiện
1. Xét vị trí tơng đối của điểm M(x
0
, y
0
) với Parabol (P) : y
2
= 2px, ta thực hiện theo
các bớc:
Bớc 1: Xác định phơng tích của M đối với Parabol (P) là :
)P/(M
P
=
2
0
y
2px
0
.
Bớc 2: Kết luận:
Nếu
)P/(M
P
<0 M nằm trong Parabol.
Nếu
)P/(M
P
= 0 M nằm trên Parabol.
Nếu
)P/(M
P
>0 M nằm ngoài Parabol.
Chú ý: Ta có các kết quả sau:
M(x, y) miền trong của (P) qua M không thể kẻ đợc tiếp tuyến tới (P).
M(x, y) miền ngoài của (P) qua M kẻ đợc 2 tiếp tuyến tới (P).
M(x, y) nằm trên (P) qua M kẻ đợc một tiếp tuyến tới (P).
2. Xét vị trí tơng đối của đờng thẳng với Parabol bằng việc xét hệ phơng trình tạo bởi
(P) và (d), khi đó số nghiệm của phơng trình bằng số giao điểm của (d) và (P).
Ví dụ 1: Cho Parabol (P) và đờng thẳng (d) có phơng trình:
(P): y
2
= 4x và (d): 2x y 4 = 0.
Tìm các điểm M(d) để từ đó:
a. Không kẻ đợc tiếp tuyến nào tới (P).
b. Kẻ đợc một tiếp tuyến tới (P).
c. Kẻ đợc hai tiếp tuyến tới (P).
Giải
Với mỗi điểm M(x
0
, y
0
)(d), ta có:
2x
0
y
0
4 = 0 y
0
= 2x
0
4.
)P/(M
P
=
2
0
y
4x
0
= (2x
0
4)
2
4x
0
= 4
2
0
x
20x
0
+ 16.
a. Để từ M không kẻ đợc tiếp tuyến nào tới (P)

)P/(M
P
<0 4
2
0
x
20x
0
+ 16<0 1<x
0
<4.
Vậy, tập hợp các điểm M(x
0
, y
0
)(d) có hoành độ thoả mãn 1<x
0
<4 không kẻ đợc
tiếp tuyến nào tới (P).
b. Để từ M kẻ đợc một tiếp tuyến tới (P)

)P/(M
P
= 0 4
2
0
x
20x
0
+ 16 = 0



=
=
4x
1x
0
0





)4,4(M
)2,1(M
2
1
.
Vậy, tồn tại hai điểm M
1
(1, 2) và M
2
(4, 4) thuộc (d) từ đó kẻ đợc một tiếp tuyến
tới (P).
c. Để từ M kẻ đợc hai tiếp tuyến tới (P)
9

)P/(M
P
>0 4
2
0
x
20x
0
+ 16>0



>
<
4x
1x
0
0
Vậy, tập hợp các điểm M(x
0
, y
0
)(d) có hoành độ x
0
( , 1)(4, + ) kẻ đợc hai
tiếp tuyến tới (P).
Bài toán 4: Điểm và Parabol.
Phơng pháp thực hiện
Với Parabol (P) có phơng trình:
(P): y
2
= 2px.
ta thực hiện theo các bớc:
Bớc 1: Lấy điểm M(x
0
, y
0
)(P)
2
0
y
= 2px
0
.
Bớc 2: Dựa vào điều kiện K có thêm đợc điều kiện cho x
0
, y
0
.
Chú ý: Ta cần lu ý các trờng hợp sau:
1. Nếu điểm phải tìm thoả mãn điều kiện về bán kính qua tiêu điểm ta sử dụng công
thức tính bán kính qua tiêu điểm theo toạ độ điểm đó là MF = x
0
+
2
p
.
2. Nếu điểm phải tìm thoả mãn điều kiện về góc ta đa bài toán về xét hệ thức lợng
trong tam giác.
3. Nếu điểm phải tìm là giao của Parabol với một đờng khác ta xét hệ phơng trình t-
ơng giao để tìm toạ độ giao điểm.
Ví dụ 1: Cho Parabol (P) có phơng trình y = x
2
.
Một góc vuông ở đỉnh O cắt Parabol tại A
1
và A
2
. Hình chiếu của A
1
và A
2
lên Ox
là B
1
và B
2
.
a. Chứng minh rằng OB
1
.OB
2
= const.
b. Chứng minh rằng A
1
A
2
luôn đi qua một điểm cố định.
Giải
a. Giả sử A
1
(P) A
1
(x
0
,
2
0
x
).
Khi đó:
- B
1
(x
0
, 0) OB
1
= |x
0
|.
- Phơng trình đờng thẳng (OA
1
): y = xx
0
.
- Theo giả thiết OA
2
OA
1

phơng trình đờng thẳng (O A
2
): y =
0
x
1
x.
- Toạ độ của A
2
là nghiệm hệ phơng trình:
A
2
:





=
=
x
x
1
y
xy
0
2
A
2
:







=
=
2
0
0
x
1
y
x
1
x
A
2
(
0
x
1
,
2
0
x
1
).
10
O
y
x
(P)
A
2
A
1
B
2
B
1
I
- B
2
(
0
x
1
, 0) OB
2
= |
0
x
1
|.
Vậy OB
1
.OB
2
= 1.
b. Ta lần lợt có:
Phơng trình (A
1
A
2
) đợc xác định bởi:
(A
1
A
2
):
2
0
2
0
2
0
0
0
0
x
1
x
x
1
y
x
1
x
x
1
x


=
+
+

(A
1
A
2
): x
3
0
x
+ (1 y)
2
0
x
xx
0
= 0.
(1)
Ta đi chứng minh A
1
A
2
luôn đi qua một điểm cố định.
Thật vậy giả sử I(x, y) là điểm cố định của họ đờng thẳng A
1
A
2
(1) đúng với mọi x
0




=
=
0y1
0x




=
=
1y
0x
I(0, 1).
Vậy (A
1
A
2
) luôn đi qua một điểm cố định I(0, 1).
B. bài tập rèn luyện
B. bài tập rèn luyện
Bài tập 1. Cho Parabol (P) có phơng trình:
(P) : y
2
+ 4y 4x = 0.
Chuyển phơng trình Parabol (P) về dạng chính tắc, từ đó xác định các thuộc tính
của nó và vẽ hình
Bài tập 2. Lập phơng trình Parabol (P) có đỉnh là gốc toạ độ và đi qua điểm A(2, 2).
Bài tập 3. Lập phơng trình Parabol (P) có tiêu điểm F(1, 1) và đờng chuẩn (d): x + y =
0.
Bài tập 4. Lập phơng trình Parabol (P) có tiêu điểm F(4, 2) và đờng chuẩn là trục Ox.
Bài tập 5. Lập phơng trình Parabol (P) có đỉnh S(3, 2) và đờng chuẩn là trục Oy.
Bài tập 6. Lập phơng trình Parabol (P) có đỉnh S( 1, 2) và tiêu điểm F(1, 4).
Bài tập 7. Cho Parabol (P) có phơng trình:
(P): y
2
= 2px, với p > 0.
Chứng minh rằng đờng tròn có đờng kính là dây cung quá tiêu, tiếp xúc với đờng
chuẩn.
Bài tập 8. Cho Parabol (P) có phơng trình:
(P): y
2
= 4x.
Một đờng thẳng bất kỳ đi qua tiêu điểm của (P) cắt (P) tại hai điểm phân biệt A và
B. Chứng minh rằng tích các khoảng cách từ A và B đến trục của (P) là một đại lợng
không đổi, tính giá trị đó.
11
Bài tập 9. Cho Parabol (P) và Elíp (E) có phơng trình:
(P): y = x
2
2x và (E):
1
1
y
9
x
22
=+
.
a. Chứng minh rằng (P) cắt (E) tại bốn điểm phân biệt A, B, C, D.
b. Lập phơng trình đờng tròn đi qua các giao điểm đó.
Bài tập 10.Cho Parabol (P) và đờng thẳng (d) có phơng trình:
(P): y
2
= x và (d): x y 2 = 0.
a. Xác định toạ độ giao điểm A, B của (d) và (P).
b. Tìm toạ độ điểm C thuộc (P) sao cho :
- ABC có diện tích bằng 6.
- ABC đều
c. Tìm điểm M trên cung AB của Parabol (P) sao cho tổng diện tích hai phần hình
phẳng giới hạn bởi (P) và hai dây cung MA, MB là nhỏ nhất.
Bài tập 11.Cho Parabol (P) có phơng trình:
(P): y
2
= 2px với p>0.
Điểm M khác O chạy trên (P). Gọi A, B theo thứ tự là hình chiếu vuông góc của M
lên Ox và Oy. CMR
a. Đờng thẳng qua B vuông góc với OM luôn đi qua một điểm cố định.
b. Đờng thẳng qua B vuông góc với AB luôn đi qua một điểm cố định.
c. Đờng thẳng AB luôn tiếp xúc với một Parabol cố định.
Bài tập 12.Cho Parabol (P) có phơng trình:
(P): y
2
= 2px.
Tìm hai điểm A, B trên (P) sao cho OAB nhận tiêu điểm F làm trực tâm.
Bài tập 13.Cho Parabol (P) có phơng trình y
2
= 2px.
Tìm hai điểm A, B trên (P) sao cho OAB đều.
Bài tập 14.Cho Parabol (P) có phơng trình:
(P): y
2
= 2px.
Đờng thẳng (d) có phơng không đổi cắt Parabol (P) tại A, B. Chứng minh rằng trung
điểm I của AB chạy trên một đờng thẳng cố định cùng phơng với Ox
Bài tập 15.Đờng thẳng (d) cắt Parabol (P): y
2
= 4x tại A, B. Chứng minh rằng trung
điểm I của AB chạy trên:
a. Một đờng thẳng cố định cùng phơng với Ox nếu (d) có hệ số góc k = 1.
b. Một Parabol cố định nếu (d) luôn đi qua M(1, 1).
Bài tập 16.Cho Parabol (P) có phơng trình:
(P): y
2
= 2px.
Giả sử đờng thẳng (d) đi qua tiêu điểm F của (P) và tạo với chiều dơng của trục Ox
một góc và cắt (P) tại hai điểm M, N.
a. Tìm toạ độ trung điểm I của đoạn thẳng MN theo p và .
b. Từ đó suy ra quỹ tích I khi thay đổi.
C. h
C. h
ớng dẫn
ớng dẫn


đáp số
đáp số
12
Bài tập 1. Chuyển phơng trình của (P) về dạng:
(P): (y + 2)
2
= 4(x + 1)
Thực hiện phép tịnh tiến hệ trục toạ độ Oxy theo vectơ
OS
với S(1, 2) thành hệ trục
SXY, với công thức đổi trục:



+=
+=
2yY
1xX




=
=
2Yy
1Xx
Khi đó:
(P): Y
2
= 4X p = 2.
Khi đó, trong hệ trục SXY, (P) có các thuộc tính:
Đỉnh S.
Trục đối xứng SX chứa tiêu điểm F(1, 0).
Phơng trình đờng chuẩn (d): X = 1
Do đó trong hệ trục Oxy, (P) có các thuộc tính:
Đỉnh S( 1, 2).
Trục đối xứng là đờng thẳng y + 2 = 0 chứa tiêu điểm F(0, 2).
Phơng trình đờng chuẩn (d): x + 2 = 0
Bài tập 2. Parabol (P) có đỉnh O có phơng trình
(P): y
2
= 2px hoặc (P): x
2
= 2py.
Trờng hợp 1: Nếu phơng trình của (P) là:
(P): y
2
= 2px.
Vì A(P), suy ra 4 = 4p p = 1.
Khi đó phơng trình Parabol (P
1
): y
2
= 2x.
Trờng hợp 2: Nếu phơng trình của (P) là:
(P): x
2
= 2py.
Vì A(P), suy ra 4 = 4p p = 1.
Khi đó phơng trình Parabol (P
2
): x
2
= 2y.
Vậy tồn tại hai Parabol (P
1
) và (P
2
) thoả mãn điều kiện đầu bài.
Bài tập 3. Lấy M(x, y)(P), ta có:
MF = d(M, (d)) MF
2
= d
2
(M, (d))
(x 1)
2
+ (y 1)
2
=
2
)yx(
2
+
x
2
+ y
2
2xy 4x 4y + 4 = 0
Vậy, ta có (P): x
2
+ y
2
2xy 4x 4y + 4 = 0.
Bài tập 4. (P): (x 4)
2
= 4(y 1).
Bài tập 5. (P): (y 2)
2
= 12(x 3).
13
F
(d)
O
y
x
(P)
S
2
2
1
O
y
x
(d): x+y=0
F
H
M
1
1
Bài tập 6. (P): (x + 1)
2
= 8(y 2).
Bài tập 7. Phơng trình đờng thẳng (d) đi qua F có dạng:
(d): 2mx 2y mặt phẳng = 0.
Toạ độ giao điểm A(x
A
, y
A
) và B(x
B
, y
B
) của (P) và (d) là
nghiệm của hệ:



=
=
0mpy2mx2
px2y
2

Phơng trình hoành độ giao điểm của (P) và (d):
4m
2
x
2
4p(m
2
+ 2)x + m
2
p
2
= 0 (1)
Từ đó, ta có :







=
+
=+
4
p
x.x
m
)2m(p
xx
2
BA
2
2
BA
.
Phơng trình tung độ giao điểm của (P) và (d) có dạng:
my
2
2py mp
2
= 0 (2)
Từ đó, ta có





=
=+
2
BA
BA
py.y
m
p
yy
.
Phơng trình đờng tròn (C) đờng kính AB:
M(x, y)(C)

MA
.

MB
= 0
x
2
+ y
2
(x
A
+ x
B
)x (y
A
+ y
B
)y + x
A
x
B
+ y
A
y
B
= 0.
Gọi I(x
I
, y
I
) là tâm của đờng tròn (C), ta có:
I:







+
=
+
=
2
yy
y
2
xx
x
BA
BA
I:







=
+
=
m
p
y
m2
)2m(p
x
2
2
.
Gọi R là bán kính của đờng tròn (C), ta có:
14
O
y
x
(P)
A
B
F
J
I
B
1
A
1

Bài 38. Chương I X


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Bài 38. Chương I X": http://123doc.vn/document/567339-bai-38-chuong-i-x.htm






BÀI 38 - THỰC HÀNH

Kênh đào Pa –
Na- Ma ở đâu

Con đường ngắn nhất nối
Thái Bình Dương và Đại Tây Dương
cắt qua eo đất Pa-na-ma là kênh đào

Bạn đã biết gì
về kênh đào
này chưa?
Xin mời các bạn cùng tìm hiểu về
lịch sử của kênh đào PA-NA-MA

Năm 1502 Cristobal Colon đến Panama. Tám
năm sau, vào năm 1510, thực dân Tây Ban
Nha bắt đầu đô hộ Panama. Vào lúc đó, việc
làm một con đường qua Panama là rất có lợi
cho việc vận chuyển hàng hoá từ các thuộc
địa Nam Mỹ về mẫu quốc.
Chính vì vậy, vào năm 1534 Vua
Carlos V đã ra lệnh thực hiện những
nghiên cứu đầu tiên về địa hình để
xây dựng một kênh đào dài 80 km
tại Panama. Tuy nhiên, việc xây
dựng công trình này đã vượt quá
khả năng của thời kỳ đó.

Hơn 3 thế kỷ sau, bá tước người Pháp Ferdinand de Lesseps, người xây kênh
đào Suez từ năm 1859 đến 1869, đã lập Công ty Quốc tế Kênh đào liên đại
dương Panama với mục tiêu xây dựng kênh đào tại Panama. Năm 1880, bá
tước Lesseps khởi công công trình, bán ngân phiếu và cổ phần để huy động
vốn. Tuy nhiên, việc xây dựng kênh đào gặp nhiều trở ngại về địa hình, khí hậu
cũng như những thiếu sót trong quản lý dẫn đến phá sản về tài chính vào năm
1889.

ăm 1894, Tân Công ty
Kênh đào Panama của Pháp
được thành lập để tiếp tục các
nỗ lực của Lesseps. Một ủy ban
kỹ thuật đã nghiên cứu các đặc
điểm địa hình, địa chất, thuỷ
văn của Panama và đề xuất xây
dựng kênh đào theo các cửa để
có thể kiểm soát được mực nước
dâng của hồ Chagres và giảm số
lượng các hố đào trong công
đoạn xây dựng.
N
Lần cố gắng thứ hai này cũng không thành công. Thiếu sự giúp
đỡ về tài chính của chính phủ và tư nhân, hết vốn, các đại diện
của Tân Công ty của kênh đào Panama buộc phải bán lại cho
chính phủ Mỹ quyền sở hữu và xây dựng kênh đào vào năm 1904
với giá 40 triệu đô la.

Kênh đào Panama khánh thành ngày 15
tháng 8 năm 1914, nằm dưới sự quản lý và vận
hành của chính phủ Mỹ. Một chương trình bảo
dưỡng nâng cấp cơ sở hạ tầng nghiêm ngặt được
lập ra để giữ cho kênh đào trong điều kiện hoạt
động tốt nhất.
Năm 1977 Panama và Mỹ ký hiệp định
Torrijos-Carter, quy định lộ trình huỷ bỏ Khu vực
kênh ago đặc quyền của Mỹ, tăng nhân lực
Panama vào việc quản lý kênh đào và chuyển
nhượng dần kênh đào cho
Panama.
Thực hiện hiệp định
Torrijos-Carter,
Panama đã tiếp
quản hoàn toàn
kênh đào vào 12
giờ trưa ngày 31
tháng 12 năm
1999.

Theo Điều luật 19 ngày 11 tháng 7 năm 1997, Ban
quản lý Kênh đào Panama (ACP) là cơ quan trực
thuộc chính phủ Panama, chỉ đạo bởi một Giám đốc
và một Phó Giám đốc dưới sự kiểm soát của Hội đồng
quản trị gồm 11 người. ACP chịu trách nhiệm quản
lý, vận hành, bảo dưỡng, nâng cấp và hiện đại hoá
kênh đào, cũng như các hoạt động và dịch vụ kết nối
với mục đích bảo đảm hoạt động an toàn, liên tục, có
hiệu quả và đem lại lãi suất.

`
Bạn đã biết gì về
cấu trúc của dòng kênh này

Trong thời gian đó, hành khách
có cơ hội để quan sát quy trình
hoạt động của một trong
những kỳ quan của kiến trúc
hiện đại.
Kênh đào được cấu thành bởi
các bộ phận chính: Hồ Gatun,
đoạn cắt Culebra và ba bộ âu
tàu: Miraflores và Pedro Miguel
ở phía Thái Bình dương, Gatun
ở phía Đại Tây dương.
Kênh đào Panama dài 80km
nối liền Đại tây dương và Thái
bình dương, đi xuyên qua một
trong những địa điểm hẹp nhất
của dải đất Trung Mỹ, nơi thấp
nhất của dãy núi chính nối liền
Bắc và Nam Mỹ. Một con tàu
trung bình sẽ mất khoảng 8 đến
10 giờ để đi qua kênh.

Hồ Gatun là hồ nhân tạo trải rộng
423km vuông, là nơi tàu thuyền đi qua
37.8km từ cửa kênh Gatun đến mỏm phía
Bắc của đoạn cắt Culebra. Hồ được tạo
ra bằng việc xây dựng âu tàu Gatun trên
dòng chảy của sông Chagres. Để tăng
khả năng tích trữ của hồ Gatun và khả
năng hoạt động của kênh đào, tháng 3
năm 2002, Ban quản lý kênh đào Panama
bắt đầu tiến hành đào sâu thêm đường đi
của tàu thuyền và nâng khả năng cung
cấp nước của kênh đến hơn 300 triệu
galông mỗi ngày.

Đoạn cắt Culebra dài 13.7km, là một công trình được
đào phần lớn trên nền đá rắn và chất liệu cứng. Ban đầu,
nhánh sông được đào với 92m chiều rộng, đến tháng 11
năm 2001 được mở rộng ra 192m ở đoạn thẳng và 222m
ở đoạn cong, đủ để lưu thông 2 tàu cỡ rộng, loại
Panamax.
Kênh đào sử dụng một hệ thống âu tàu và cửa nước,
phân chia theo đường vào và đường ra. Các âu tàu và cửa
nước hoạt động như những thang máy: tàu thuyền được
nâng lên từ mực nước biển (phía Thái Bình dương hoặc
Đại Tây dương) cho đến khi bằng mực nước hồ Gatun
(cao 26m so với mực nước biển).
Bằng cách này tàu có thể tiếp tục
đi qua hồ Gatun và được hạ xuống
tới mực nước biển ở hệ thống âu
tàu phía đầu bên kia của kênh đào
và đi ra biển. Các ngăn âu tàu
rộng 33.53m và dài 304.8m. Hiện
nay, kích thước lớn nhất của các
tàu có thể qua kênh đào là: chiều
rộng 32.3m, mớn nước 12m nước
ngọt, chiều dài 294.1m.

Kênh đào PA - NA - MA có vai trò gì ?

gdqp-an lop 10


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "gdqp-an lop 10": http://123doc.vn/document/567562-gdqp-an-lop-10.htm



Phần 1: Lý thuyết
I. Cấp cứu ban đầu các tai nạn thông thường
1. Bong gân
6. Chết đuối
7. Say nắng, say nóng
5. Ngộ độc thức ăn
4. Điện giật
3. Ngất
2. Sai khớp
8. Nhiễm độc lân hữu cơ
*Đại cương
Làm rõ KN,
tính chất phổ
biến, nguyên
nhân xảy ra
tai nạn, tính
chất tổn thư
ơng.
* Triệu chứng
Mô tả triệu
chứng tại chỗ.
triệu chứng toàn
thân, khái quát
nội dung ngắn
gọn, dễ hiểu, dễ
nhớ. Triệu chứng
điển hình hơn nói
trước.
* Cấp cứu
ban đầu và
cách đề
phòng.
Chủ yếu đưa
ra những biện
pháp đơn
giản, dễ hiểu,
dễ làm, có khả
năng tiến
hành tại chỗ
I. Cấp cứu ban đầu các tai nạn thông thường
Từng trường hợp cụ thể ta đi theo cấu trúc
Sau khi trình bày từng tai nạn giáo viên cần đưa ra
ví dụ cụ thể trong thực tiễn để liên hệ. Ví dụ:
1. Bong gân.
* Đại cương: Bong gân là sự tổn thương của dây
chằng chung quanh khớp do chấn thương gây nên.
Các dây chằng có thể bong ra khỏi chỗ bám, bị
rách hoặc đứt, khớp không sai lệch (hình 25).

I. Cấp cứu ban đầu
các tai nạn thông thường
Hỡnh 25: Dõy chng khp c chõn (ng ngang).
1. Bong gân.
* Triệu chứng được khái quát như sau:
Đau, sưng, ổ khớp lỏng lẻo, chi vận động khó,
không biến dạng
* Cấp cứu ban đầu và cách đề phòng
- Cấp cứu ban đầu: Băng ép, chườm đá, bất động
chi và chuyển đến cơ sở y tế.
- Tập luyện đúng tư thế, bảo đảm an toàn H luyện

I. Cấp cứu ban đầu
các tai nạn thông thường
Trên cơ sở VD 1, lớp tập huấn xây dựng phương
án trình bày nội dung 2.
2. Sai khớp
* Đại cương:
* Triệu chứng
* Cấp cứu ban đầu và cách đề phòng

I. Cấp cứu ban đầu
các tai nạn thông thường
Kết luận phương án
2. Sai khớp
* Đại cương:
- Là sự di lệch các đầu xương ở khớp một phần
hay hoàn toàn do chấn thương mạnh một cách trực
tiếp hoặc gián tiếp gây nên (Hình 31).
- Khớp dễ bị sai là: Khớp vai, khớp khuỷu, khớp
háng

I. Cấp cứu ban đầu
các tai nạn thông thường
a. Khớp bình thường ở tư thế duỗi
b. Tư thế khớp bị di lệch
Hình ảnh sai khớp

I. Cấp cứu ban đầu
các tai nạn thông thường
- Sưng
- Đau
- mất vận động
- khớp và
chi biến dạng
- Đau dữ dội liên tục nhất là lúc chạm
vào khớp hay lúc nạn nhân cử động
- Mất vận động hoàn toàn không gấp,
duỗi được
- Khớp biến dạng, đầu xương có thể
lồi ra và sờ thấy được. Chi dài hơn
hoặc ngắn lại, có thấy thay đổi hướng
- Sưng nề, bầm tím quanh khớp, có
thể gãy hoặc rạn xương vùng khớp.
2. Sai khớp
*Triệu chứng
2. Sai khớp
* Cấp cứu ban đầu và đề phòng:
- Cấp cứu ban đầu:
+ Bất động khớp bị sai.
+ Chuyển nạn nhân đến các cơ sở y tế.
- Đề phòng:
Bảo đảm an toàn trong huấn luyện.

I. Cấp cứu ban đầu
các tai nạn thông thường

Thứ Tư, 21 tháng 5, 2014

Truyện Kiều trọn bộ (Nguyễn Du)


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Truyện Kiều trọn bộ (Nguyễn Du)": http://123doc.vn/document/567786-truyen-kieu-tron-bo-nguyen-du.htm


160 Gặp tuần đố lá thoả lòng tìm hoa.
Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai.
Người quốc sắc, kẻ thiên tài,
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.
165 Chập chờn cơn tỉnh cơn mê.
Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn.
Bóng tà như giục cơn buồn,
Khách đà lên ngựa, người còn nghé theo.
Dưới cầu nước chảy trong veo,
170 Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.
Kiều từ trở gót trướng hoa,
Mặt trời gác núi chiêng đà thu không.
Mảnh trăng chênh chếch dòm song,
Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân.
175 Hải đường lả ngọn đông lân,
Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà.
Một mình lặng ngắm bóng nga,
Rộn đường gần với nỗi xa bời bời:
Người mà đến thế thì thôi,
180 Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi!
Người đâu gặp gỡ làm chi,
Trăm năm biết có duyên gì hay không?
Ngổn ngang trăm mối bên lòng,
Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình.
185 Chênh chênh bóng nguyệt xế mành,
Tựa nương bên triện một mình thiu thiu.
Thoắt đâu thấy một tiểu kiều,
Có chiều thanh vận, có chiều thanh tân.
Sương in mặt, tuyết pha thân,
190 Sen vàng lãng đãng như gần như xa.
Chào mừng đón hỏi dò la:
Đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây ?
Thưa rằng: Thanh khí xưa nay,
Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên.
195 Hàn gia ở mé tây thiên,
Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu.
Mấy lòng hạ cố đến nhau,
Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng.
Vâng trình hội chủ xem tường,
200 Mà sao trong sổ đoạn trường có tên.
Âu đành quả kiếp nhân duyên,
Cùng người một hội, một thuyền đâu xa!
Này mười bài mới mới ra,
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.
205 Kiều vâng lĩnh ý đề bài,
Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm.
Xem thơ nức nở khen thầm:
Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường
Ví đem vào tập đoạn Trường
210 Thì treo giải nhất chi nhường cho ai.
Thềm hoa khách đã trở hài,
Nàng còn cầm lại một hai tự tình.
Gió đâu xịch bức mành mành,
Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao.
215 Trông theo nào thấy đâu nào
Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây.
Một mình lưỡng lự canh chầy,
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.
Hoa trôi bèo dạt đã đành,
220 Biết duyên mình, biết phận mình thế thôi !
Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi,
Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi đòi cơn.
Giọng Kiều rền rĩ trướng loan,
Nhà Huyên chợt tỉnh hỏi: Cơn cớ gì ?
225 Cớ sao trằn trọc canh khuya,
Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa ?
Thưa rằng: Chút phận ngây thơ,
Dưỡng sinh đôi nợ tóc tơ chưa đền.
Buổi ngày chơi mả đạm Tiên,
230 Nhắp đi thoắt thấy ứng liền chiêm bao.
đoạn trường là số thế nào,
Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia.
Cứ trong mộng triệu mà suy,
Phận con thôi có ra gì mai sau !
235 Dạy rằng: Mộng triệu cớ đâu,
Bỗng không mua não chuốc sầu nghĩ nao.
Vâng lời khuyên giải thấp cao,
Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch Tương.
Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng,
240 Nách tường bông liễu bay ngang trước mành.
Hiên tà gác bóng chênh chênh,
Nỗi riêng, riêng trạnh tấc riêng một mình.
Cho hay là thói hữu tình,
Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong.
245 Chàng Kim từ lại thư song,
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây.
Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dồn lại một ngày dài ghê.
Mây Tần khóa kín song the,
250 Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao.
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao,
Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.
Buồng văn hơi giá như đồng,
Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan.
255 Mành Tương phất phất gió đàn,
Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình.
Vì chăng duyên nợ ba sinh,
Thì chi đem thói khuynh thành trêu ngươi.
Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người,
260 Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi.
Một vùng cỏ mọc xanh rì,
Nước ngâm trong vắt, thấy gì nữa đâu !
Gió chiều như gợi cơn sầu,
Vi lô hiu hắt như màu khảy trêu.
265 Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều,
Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.
Thâm nghiêm kín cổng cao tường,
Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh.
Lơ thơ tơ liễu buông mành,
270 Con oanh học nói trên cành mỉa mai.
Mấy lần cửa đóng then cài,
đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu ?
Tần ngần đứng suốt giờ lâu,
Dạo quanh chợt thấy mái sau có nhà.
275 Là nhà Ngô Việt thương gia,
Buồng không để đó người xa chưa về.
Lấy điều du học hỏi thuê,
Túi đàn cặp sách đề huề dọn sang.
Có cây, có đá sẵn sàng,
280 Có hiên Lãm thúy, nét vàng chưa phai.
Mừng thầm chốn ấy chữ bài,
Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây.
Song hồ nửa khép cánh mây,
Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông.
285 Tấc gang đồng tỏa nguyên phong,
Tuyệt mù nào thấy bóng hồng vào ra.
Nhẫn từ quán khách lân la,
Tuần trăng thấm thoắt nay đà thèm hai.
Cách tường phải buổi êm trời,
290 Dưới đào dường có bóng người thướt tha.
Buông cầm xốc áo vội ra,
Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh.
Lần theo tường gấm dạo quanh,
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa.
295 Giơ tay với lấy về nhà:
Này trong khuê các đâu mà đến đây ?
Ngẫm âu người ấy báu này,
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm !
Liền tay ngắm nghía biếng nằm,
300 Hãy còn thoang thoảng hương trầm chưa phai.
Tan sương đã thấy bóng người,
Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ.
Sinh đà có ý đợi chờ,
Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng:
305 Thoa này bắt được hư không,
Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về ?
Tiếng Kiều nghe lọt bên kia:
Sinh rằng: Phác họa vừa rồi,
Phẩm đề xin một vài lời thêm hoa .
Tay tiên gió táp mưa sa,
Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu .
405.Khen: Tài nhả ngọc phun châu,
Nàng Ban ả Tạ cũng đâu thế này !
Kiếp tu xưa ví chưa dày,
Phúc nào nhắc được giá này cho ngang !
Nàng rằng: Trộm liếc dung quang,
410.Chẳng sân bội ngọc cũng phường kim môn .
Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn,
Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay ?
Nhớ từ năm hãy thơ ngây,
Có người tướng sĩ đoán ngay một lời:
415.Anh hoa phát tiết ra ngoài,
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa .
Trông người lại ngẫm đến ta,
Một dầy một mỏng biết là có nên ?'
Sinh rằng: Giải cấu là duyên,
420.Xưa nay nhân định thắng nhiên cũng nhiều .
Ví dù giải kết đến điều,
Thì đem vàng đá mà liều với thân !
đủ điều trung khúc ân cần,
Lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng.
425.Ngày vui ngắn chẳng đầy gang,
Trông ra ác đã ngậm gương non đoài .
Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai,
Giã chàng nàng mới kíp dời song sa .
đến nhà vừa thấy tin nhà,
430.Hai thân còn dở tiệc hoa chưa về.
Cửa ngoài vội rủ rèm the,
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình.
Nhặt thưa gương giọi đầu cành,
Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu .
435.Sinh vừa tựa án thiu thiu,
Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê .
Tiếng sen sẽ động giấc hòe,
Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.
Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần,
440.Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.
Nàng rằng: Khoảng vắng đêm trường,
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa .
Bây giờ rõ mặt đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao ?
445.Vội mừng làm lễ rước vào,
đài sen nối sáp song đào thêm hương .
Tiên thề cùng thảo một chương,
Tóc mây một món dao vàng chia đôi .
Vầng trăng vằng vặc giữa trời,
450.đinh ninh hai mặt một lời song song .
Tóc tơ căn vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương .
Chén hà sánh giọng quỳnh tương,
Dải là hương lộn bình gương bóng lồng.
455.Sinh rằng: Gió mát trăng trong,
Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam .
Chày sương chưa nện cầu Lam,
Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng ?
Nàng rằng: Hồng diệp xích thằng,
460.Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri .
đừng điều nguyệt nọ hoa kia .
Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai .
Rằng: Nghe nổi tiếng cầm đài,
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ.
465.Thưa rằng: Tiện kỹ sá chi,
đã lòng dạy đến dạy thì phải vâng .
Hiên sau treo sẵn cầm trăng,
Vội vàng Sinh đã tay nâng ngang mày.
Nàng rằng: Nghề mọn riêng tay,
470.Làm chi cho bận lòng này lắm thân !
So dần dây vũ dây văn,
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương .
Khúc đâu Hán Sở chiến trường,
Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau .
475.Khúc đâu Tư mã Phượng cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng !
Kê Khang này khúc Quảng lăng,
Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân .
Qua quan này khúc Chiêu Quân,
480.Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia .
Trong như tiếng hạc bay qua,
đục như tiếng suối mới sa nửa vời .
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa .
485.Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu .
Khi tựa gối khi cúi đầu,
Khi vò chín khúc khi chau đôi mày .
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu .
Khi tựa gối khi cúi đầu,
Khi vò chín khúc khi chau đôi mày .
Rằng: Hay thì thật là hay,
490.Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào !
Lựa chi những bậc tiêu tao,
Dột lòng mình cũng nao nao lòng người ?
Rằng: Quen mất nết đi rồi,
Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao !
495.Lời vàng âm lĩnh ý cao,
Họa dần dần bớt chút nào được không .
Hoa hương càng tỏ thức hồng,
đầu mày cuối mắt càng nồng tấm yêu .
Sóng tình dường đã xiêu xiêu,
500.Xem trong âu yếm có chiều lả lơi .
Thưa rằng: đừng lấy làm chơi,
Dẽ cho thưa hết một lời đã nao !
Vẻ chi một đóa yêu đào,
Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh .
505.đã cho vào bậc bố kinh,
đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầụ
Ra tuồng trên Bộc trong dâu,
Thì con người ấy ai cầu làm chi !
Phải điều ăn xổi ở thì,
510.Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày !
Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,
Lứa đôi ai đẹp lại tày Thôi Trương .
Mây mưa đánh đổ đá vàng,
Quá chiều nên đã chán chường yến anh .
505.Trong khi chắp cánh liền cành,
Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên .
Mái tây để lạnh hương nguyền,
Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng.
Gieo thoi trước chẳng giữ giàng,
520.để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai ?
Vội chi liễu ép hoa nài,
Còn thân ắt lại đền bồi có khi !
Thấy lời đoan chính dễ nghe,
Chàng càng thêm nể thêm vì mười phân .
525.Bóng tàu vừa lạt vẻ ngân,
Tin đâu đã thấy cửa ngăn gọi vào .
Nàng thì vội trở buồng thêu,
Sinh thì dạo gót sân đào bước ra .
Cửa sài vừa ngỏ then hoa,
530.Gia đồng vào gởi thư nhà mới sang.
đem tin thúc phụ từ đường,
Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề.
Liêu dương cách trở sơn khê,
Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang.
535.Mảng tin xiết nỗi kinh hoàng,
Băng mình lẻn trước đài trang tự tình.
Gót đầu mọi nỗi đinh ninh,
Nỗi nhà tang tóc nỗi mình xa xôi:
Sự đâu chưa kịp đôi hồi,
540.Duyên đâu chưa kịp một lời trao tơ,
Trăng thề còn đó trơ trơ,
Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng.
Ngoài nghìn dặm chốc ba đông,
Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy !
545.Gìn vàng giữ ngọc cho hay,
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời .
Tai nghe ruột rối bời bời,
Ngập ngừng nàng mới giãi lời trước sau:
ông tơ ghét bỏ chi nhau,
550.Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi !
Cùng nhau trót đã nặng lời,
Dẫu thay mái tóc dám dời lòng tơ !
Quản bao tháng đợi năm chờ,
Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm.
555.đã nguyền hai chữ đồng tâm,
Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai .
Còn non còn nước còn dài,
Còn về còn nhớ đến người hôm nay !
Dùng dằng chưa nỡ rời tay,
560.Vầng đông trông đã đứng ngay nóc nhà.
Ngại ngùng một bước một xa,
Một lời trân trọng châu sa mấy hàng.
Buộc yên quảy gánh vội vàng,
Mối sầu xẻ nửa bước đường chia hai .
565.Buồn trông phong cảnh quê người,
đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa .
Não người cữ gió tuần mưa,
Một ngày nặng gánh tương tư một ngày .
Nàng còn đứng tựa hiên tây,
570 Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ.
Trông chừng khói ngất song thưa,
Hoa trôi trác thắm, liễu xơ xác vàng.
Tần ngần dạo gót lầu trang,
Một đoàn mừng thọ ngoại hương mới về,
575 Hàn huyên chưa kịp giãi dề,
Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao.
Người nách thước, kẻ tay đao;
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.
Già giang một lão một trai,
580 Một dây vô lại buộc hai thâm tình.
Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh,
Rụng rời khung dệt, tan tành gói may.
Đồ tế nhuyễn, của riêng tây,
Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham.
585 Điều đâu bay buộc ai làm ?
Này ai dan dậm, giật giàm bỗng dưng ?
Hỏi ra sau mới biết rằng:
Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ.
Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ,
590 Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây.
Hạ từ van lạy suốt ngày,
Điếc tai lân tuất, phũ tay tồi tàn.
Rường cao rút ngược dây oan,
Dẫu là đá cũng nát gan, lọ người.
595 Mặt trông đau đớn rụng rời,
Oan này còn một kêu trời, nhưng xa.
Một ngày lạ thói sai nha,
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.
Sao cho cốt nhục vẹn tuyền,
600 Trong khi ngộ biến tòng quyền biết sao ?
Duyên hội ngộ, đức cù lao,
Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn ?
Để lời thệ hải minh sơn,
Làm con trước phải đền ơn sinh thành.
605 Quyết tình nàng mới hạ tình:
Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha !
Họ Chung có kẻ lại già,
Cũng trong nha dịch lại là từ tâm.
Thấy nàng hiếu trọng tình thâm,
610 Vì nàng nghĩ cũng thương thầm xót vay.
Tính bài lót đó luồn đây,
Có ba trăm lạng việc này mới xuôi.
Hãy về tạm phó giam ngoài,
Dặn nàng qui liệu trong đôi ba ngày.
615 Thương tình con trẻ thơ ngây,
Gặp cơn vạ gió tai bay bất kỳ!
Đau lòng tử biệt sinh ly,
Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên !
Hạt mưa sá nghĩ phận hèn,
620 Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân.
Sự lòng ngỏ với băng nhân,
Tin sương đồn đại xa gần xôn xao.
Gần miền có một mụ nào,
Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh.
625 Hỏi tên rằng: Mã Giám sinh.
Hỏi quê, rằng: Huyện Lâm Thanh cũng gần.
Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.
Trước thầy sau tớ lao xao
630 Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang.
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,
Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra.
Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,
Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng !
635 Ngại ngùng giợn gió e sương,
Nhìn hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày.
Mối càng vén tóc bắt tay,
Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai.
Đắn đo cân sắc cân tài,
640 ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ.
Mặn nồng một vẻ một ưa,
Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu.
Rằng: Mua ngọc đến Lam Kiều,
Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường ?
645 Mối rằng: đáng giá nghìn vàng,
Gấp nhà nhờ lượng người thương dám nài.
Cò kè bớt một thêm hai,
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm.
Một lời thuyền đã êm dằm
650 Hãy đưa canh thiếp trước cầm làm ghi.
Định ngày nạp thái vu qui,
Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong !
Một lời cậy với Chung công,
Khất từ tạm lĩnh Vương ông về nhà.
655 Thương tình con trẻ cha già,
Nhìn nàng ông những máu sa ruột dàu:
Nuôi con những ước về sau,
Trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi.
Trời làm chi cực bấy trời,
660 Này ai vu thác cho người hợp tan !
Búa rìu bao quản thân tàn,
Nỡ đầy đọa trẻ, càng oan khốc già.
Một lần sau trước cũng là,
Thôi thì mặt khuất chẳng thà lòng đau !
665 Theo lời càng chảy dòng châu,
Liều mình ông rắp gieo đầu tường vôi.
Vội vàng kẻ giữ người coi,
Nhỏ to nàng lại tìm lời khuyên can:
Vẻ chi một mảnh hồng nhan,
670 Tóc tơ chưa chút đền ơn sinh thành.
Dâng thư đã thẹn nàng Oanh,
Lại thua ả Lý bán mình hay sao ?
Cỗi xuân tuổi hạc càng cao,
Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành.
675 Lòng tơ dù chẳng dứt tình,
Gió mưa âu hẳn tan tành nưóc non.
Thà rằng liều một thân con,
Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây.
Phận sao đành vậy cũng vầy,
680 Cầm như chẳng đậu những ngày còn xanh.
Cũng đừng tính quẩn lo quanh,
Tan nhà là một thiệt mình là hai.
Phải lời ông cũng êm tai,
Nhìn nhau giọt vắn giọt dài ngổn ngang.
685 Mái ngoài họ Mã vừa sang,
Tờ hoa đã ký, cân vàng mới trao.
Trăng già độc địa làm sao ?
Cầm dây chẳng lựa buộc vào tự nhiên.
Trong tay đã sẵn đồng tiền,
690 Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì !
Họ Chung ra sức giúp vì,
Lễ tâm đã đặt, tụng kỳ cũng xong.
Việc nhà đã tạm thong dong,
Tinh kỳ giục giã đã mong độ về.
695. Một mình nàng ngọn đèn khuya,
áo dầm giọt lệ, tóc xe mối sầu.
Phận dầu, dầu vậy cũng dầu,
Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời!
Công trình kể biết mấy mươi.
700. Vì ta khăng khít, cho người dở dang.
Thề hoa chưa ráo chén vàng,
Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa.
Trời Liêu non nước bao xa.
Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi.
705. Biết bao duyên nợ thề bồi.
Kiếp này thôi thế thì thôi còn gì.
Tái sinh chưa dứt hương thề.
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.
Nợ tình chưa trả cho ai,
710. Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.
Nỗi riêng riêng những bàng hoàng,
Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn.
Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân,
Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han:
715. Cơ trời dâu bể đa đoan,
Một nhà để chị riêng oan một mình,
Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh ?
Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây\?
Rằng: Lòng đương thổn thức đầy,
720. Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong.
Hở môi ra cũng thẹn thùng,
Để lòng thì phụ tấm lòng với ai.
Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
725. Giữa đường đứt gánh tương tư,
Loan giao chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
730. Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai !
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
735. Chiếc thoa với bức tờ mây,
Duyên này thì giữ vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc, ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin,
740. Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Mai sao dầu có bao giờ.
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
745. Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai;
Dạ đài cách mặt khuất lời,
Rẩy xin chén nước cho người thác oan.
Bây giờ trâm gẫy bình tan,
750. Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.
Trăm nghìn gửi lại tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phận sao phận bạc như vôi,
Đã đành nước chẩy hoa trôi lỡ làng.
755. ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
Cạn lời hồn ngất máu say,
Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng.
Xuân Huyên chợt tỉnh giất nồng,
760. Một nhà tấp nập, kẻ trong người ngoài.
Kẻ thang người thuốc bời bời,
Mới dằn cơn vựng, chưa phai giọt hồng.
Hỏi: Sao ra sự lạ lùng?
Kiều càng nức nở mở không ra lời.
765. Nỗi nàng Vân mới rỉ tai,
Chiếc thoa này với tờ bồi ở đây

Các nước Tây Âu


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Các nước Tây Âu": http://123doc.vn/document/568010-cac-nuoc-tay-au.htm



CHÀO MỪNG CÁC
CHÀO MỪNG CÁC
THẦY CÔ VỀ DỰ GIỜ
THẦY CÔ VỀ DỰ GIỜ
LỊCH SỬ LỚP 9
LỊCH SỬ LỚP 9
Soạn giảng
Soạn giảng
Giáo viên Trường THCS Hòa Phú – TP. Buôn Ma Thuột
Giáo viên Trường THCS Hòa Phú – TP. Buôn Ma Thuột

Kiểm tra bài cũ
Kiểm tra bài cũ
Những cải cách dân chủ
Những cải cách dân chủ
của Nhật Bản sau chiến
của Nhật Bản sau chiến
tranh thế giới II ? Ý nghĩa
tranh thế giới II ? Ý nghĩa
của những cải cách trên ?
của những cải cách trên ?
Những cải cách dân chủ
Những cải cách dân chủ
của Nhật Bản sau chiến
của Nhật Bản sau chiến
tranh thế giới II ? Ý nghĩa
tranh thế giới II ? Ý nghĩa
của những cải cách trên ?
của những cải cách trên ?
-


Ban hành hiến pháp mới
Ban hành hiến pháp mới
-


Thực hiện cải cách ruộng đất
Thực hiện cải cách ruộng đất
-


Xoá bỏ chủ nghĩa quân phiệt
Xoá bỏ chủ nghĩa quân phiệt
- giải giáp các lực lượng vũ trang
- giải giáp các lực lượng vũ trang
- Giải thể các công ty độc quyền lớn
- Giải thể các công ty độc quyền lớn
-


Ban hành quyền tự do dân chủ
Ban hành quyền tự do dân chủ




Mang lại một luồng không khí mới đối với các tầng lớp
Mang lại một luồng không khí mới đối với các tầng lớp
ND,là nhân tố quan trọng giúp kinh tế Nhật phát triển
ND,là nhân tố quan trọng giúp kinh tế Nhật phát triển
mạnh mẽ sau này
mạnh mẽ sau này

Con người là một trong những
Con người là một trong những
nhân tố có ý nghĩa quyết định
nhân tố có ý nghĩa quyết định
đến sự phát triển thần kỳ của
đến sự phát triển thần kỳ của
nền kinh tế Nhật. Hãy nêu ngắn
nền kinh tế Nhật. Hãy nêu ngắn
gọn đức tính con người Nhật ?
gọn đức tính con người Nhật ?
Con người là một trong những
Con người là một trong những
nhân tố có ý nghĩa quyết định
nhân tố có ý nghĩa quyết định
đến sự phát triển thần kỳ của
đến sự phát triển thần kỳ của
nền kinh tế Nhật. Hãy nêu ngắn
nền kinh tế Nhật. Hãy nêu ngắn
gọn đức tính con người Nhật ?
gọn đức tính con người Nhật ?
-


Cần cù lao động, yêu thiên nhiên
Cần cù lao động, yêu thiên nhiên
-


Học hỏi cái hay cái đẹp
Học hỏi cái hay cái đẹp
-


Tính kỷ luật giữ chữ tín
Tính kỷ luật giữ chữ tín
-


Biết chịu đựng và giữ phép lịch sự
Biết chịu đựng và giữ phép lịch sự
-


Tiết kiệm và biết lo xa
Tiết kiệm và biết lo xa
Tiết 12
Tiết 12
Bài 10
Bài 10

CÁC NƯỚC TÂY ÂU
CÁC NƯỚC TÂY ÂU
CÁC NƯỚC TÂY ÂU
CÁC NƯỚC TÂY ÂU
Tây Âu là một trung tâm văn minh thế giới, nhất là trong
thời kỳ phục hưng và hiện đại, là cái nôi của các cuộc CM
công nghiệp then chốt. Các nước tây âu đều có nền kinh
tế phát triển và không cách biệt nhau lắm. Sau chiến
tranh thế giới II ,Tây Âu phát triển nhanh về kinh tế , xã
hội và đã liên kết đi tới một tổ chức thống nhất , ngày nay
gọi là liên minh Châu Âu ( EU ). Châu Âu (EU) có vị trí
quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị , tài chính
quốc tế . Chúng ta sẽ tìm hiểu Tây Âu sau chiến tranh thế
giới II đến nay
Tiết 12
Tiết 12
Bài 10
Bài 10

BẢN ĐỒ TÂY ÂU
BẢN ĐỒ TÂY ÂU
ANH
ANH
PHÁP
PHÁP
Ý
Ý
ĐỨC
ĐỨC


Khái niệm đựợc sử dụng sau chiến tranh thế giới thứ
Khái niệm đựợc sử dụng sau chiến tranh thế giới thứ
II để chỉ các nước Tư bản ở phía tây Châu Âu với các
II để chỉ các nước Tư bản ở phía tây Châu Âu với các
nước XHCN ở phía đông Châu Âu
nước XHCN ở phía đông Châu Âu


Giải thích khái niệm các
Giải thích khái niệm các


nước Tây Âu ?
nước Tây Âu ?
I / TÌNH HÌNH CHUNG
I / TÌNH HÌNH CHUNG
-
Trong CT thế giới II nhiều nước Tây Âu bị
Trong CT thế giới II nhiều nước Tây Âu bị
Phát xít chiếm đóng và tàn phá nặng nề
Phát xít chiếm đóng và tàn phá nặng nề
Ví dụ : - Pháp CN giảm 38% ,
Ví dụ : - Pháp CN giảm 38% ,
nông nghiệp giảm 60%
nông nghiệp giảm 60%
- Anh mắc nợ 21 tỷ bảng
- Anh mắc nợ 21 tỷ bảng
-
Kế hoạch phục hưng Châu Âu ( Kế
Kế hoạch phục hưng Châu Âu ( Kế
hoạch Mác-san )
hoạch Mác-san )
+ Do Mỹ vạch ra
+ Do Mỹ vạch ra
+ Từ 1948 – 1951
+ Từ 1948 – 1951
+ Kết quả: Kinh tế các nước Tây Âu
+ Kết quả: Kinh tế các nước Tây Âu
phục hồi, nhưng ngày càng lệ thuộc
phục hồi, nhưng ngày càng lệ thuộc
Mỹ
Mỹ
Các nước Tây âu chấp nhận kế
Các nước Tây âu chấp nhận kế
hoạch Mac-san phải tuân theo các
hoạch Mac-san phải tuân theo các
điều kiện của Mỹ đặt ra, Đó là điều
điều kiện của Mỹ đặt ra, Đó là điều
kiện gì ?
kiện gì ?

-
-
Chính sách đối nội (SGK)
Chính sách đối nội (SGK)
Ví dụ: Pháp quay lại xâm
Ví dụ: Pháp quay lại xâm
lược Đông Dương; Anh trở
lược Đông Dương; Anh trở
lại MaLai ( 1945 )
lại MaLai ( 1945 )
- Chính sách đối ngoại:
- Chính sách đối ngoại:
+ Nhiều nước tiến hành
+ Nhiều nước tiến hành


chiến tranh xâm lược
chiến tranh xâm lược
+
+
Các nước Tây Âu tham gia khối
Các nước Tây Âu tham gia khối


quân sự Bắc Đại Tây Dương
quân sự Bắc Đại Tây Dương


( NATO ) do Mỹ lập (tháng 04 /
( NATO ) do Mỹ lập (tháng 04 /
1949 )
1949 )
+ Chạy đua vũ trang
+ Chạy đua vũ trang
Máy bay mang đầu đạn hạt nhân
Tên lửa mang đầu đạn hạt nhân

- Nước Đức sau chiến tranh
- Nước Đức sau chiến tranh
thế giới lần thứ II
thế giới lần thứ II
Đức là một nước lớn ở Châu Âu có
Đức là một nước lớn ở Châu Âu có
trình độ phát triển cao về kinh tế và
trình độ phát triển cao về kinh tế và
khoa học kỹ thuật,
khoa học kỹ thuật,
Có vị trí quan trọng .
Có vị trí quan trọng .
Vì sao sau chiến tranh thế giới II Đức bị chia làm hai nhà nước
Vì sao sau chiến tranh thế giới II Đức bị chia làm hai nhà nước ?
Lãnh thổ bị chia làm 2:
+ Tháng 9/1949 CHLB
Đức ra đời
+ Tháng 10 / 1949 CHDC
Đức ra đời
Nhận xét: CHLB Đức trội hơn CHDC Đức về kinh tế
Nhận xét: CHLB Đức trội hơn CHDC Đức về kinh tế
+ Ngày 3/10/1990 CHLB Đức
+ Ngày 3/10/1990 CHLB Đức
sát nhập với CHDC Đức.
sát nhập với CHDC Đức.
Nước Đức thống nhất
Nước Đức thống nhất
Hiện nay Đức là nước có tiềm lực kinh tế , quân sự lớn mạnh ở Châu Âu.
Hiện nay Đức là nước có tiềm lực kinh tế , quân sự lớn mạnh ở Châu Âu.




II. SỰ LIÊN KẾT KHU VỰC
II. SỰ LIÊN KẾT KHU VỰC
Sau chiến tranh thế giới II ở Châu
Sau chiến tranh thế giới II ở Châu
Âu xuất hiện xu hướng liên kết
Âu xuất hiện xu hướng liên kết
kinh tế khu vực . Vì vậy cộng
kinh tế khu vực . Vì vậy cộng
đồng than thép Châu Âu ra đời.
đồng than thép Châu Âu ra đời.
Từ đó đến nay, sự liên kết ngày
Từ đó đến nay, sự liên kết ngày
càng được mở rộng
càng được mở rộng
Cộng đồng than
Cộng đồng than
thép Châu Âu
thép Châu Âu
4 / 1951
4 / 1951
Pháp, Đức, Ý,
Pháp, Đức, Ý,
Bỉ , Hà Lan
Bỉ , Hà Lan
Luc xăm bua
Luc xăm bua
Cộng đồng năng
Cộng đồng năng
Lượng nguyên tử
Lượng nguyên tử
Châu Âu
Châu Âu


cộng
cộng
đồngkinh tế Châu
đồngkinh tế Châu
Âu (EEC)
Âu (EEC)
1957
1957
Pháp, Đức, Ý,
Pháp, Đức, Ý,
Bỉ , Hà Lan
Bỉ , Hà Lan
Luc-xăm-bua
Luc-xăm-bua

Liên kết về kinh tế,
Liên kết về kinh tế,
hình thành thị trường
hình thành thị trường
chung Châu Âu
chung Châu Âu




Cộng đồng
Cộng đồng


Châu Âu
Châu Âu
(EC)
(EC)
7 / 1967
7 / 1967
Thành viên mới :
Thành viên mới :
Anh, Ai len,
Anh, Ai len,
Đan Mạch,
Đan Mạch,
Hy Lạp,
Hy Lạp,
Tây Ban Nha,
Tây Ban Nha,
Bồ Đào Nha
Bồ Đào Nha
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12

Liên kết kinh tế chính trị tiền tệ
Liên kết kinh tế chính trị tiền tệ




Tháng 12 1991 Hội nghi cấp cao
Tháng 12 1991 Hội nghi cấp cao
Tại Ma-a-xtơ-rich ( Hà Lan)
Tại Ma-a-xtơ-rich ( Hà Lan)
Đánh dấu một mốc mới
Đánh dấu một mốc mới
Của các nước EC.
Của các nước EC.
Quyết định của Hội nghị
Quyết định của Hội nghị
-Xây dựng thị trường chung
-Xây dựng thị trường chung
- Đồng tiền chung Ơrô (EURO)
- Đồng tiền chung Ơrô (EURO)
Liên Minh Châu Âu
Liên Minh Châu Âu
( EU
( EU
)
)
12 / 1991
12 / 1991
Áo, Phần Lan’
Áo, Phần Lan’
Thuỵ Điển
Thuỵ Điển
5 / 2004
5 / 2004
Sip, E-tô-nia, Hungari,
Sip, E-tô-nia, Hungari,
Lat-vi-a, Lit-va, BaLan
Lat-vi-a, Lit-va, BaLan
Slôvakia, sec,
Slôvakia, sec,
Sô-vê-nia, Manta
Sô-vê-nia, Manta
1 / 2007
1 / 2007
Bungari, Rumani
Bungari, Rumani




Hội nghị Ma-a-xtơ-rich quyết định
Hội nghị Ma-a-xtơ-rich quyết định
cộng đồng Châu Âu mang tên gọi mới
cộng đồng Châu Âu mang tên gọi mới
Liên Minh Châu Âu (EU)
Liên Minh Châu Âu (EU)


Đánh dấu
Đánh dấu
một mốc đột biến của quá trình liên
một mốc đột biến của quá trình liên
kết quốc tế ở Tây Âu
kết quốc tế ở Tây Âu
= >
= >
Hiện nay: Liên Minh Châu Âu có 27 thành viên; là
Hiện nay: Liên Minh Châu Âu có 27 thành viên; là
tổ chức thành công nhất, chặt chẽ nhất thế giới
tổ chức thành công nhất, chặt chẽ nhất thế giới
Liên hệ với Việt Nam: 1990 thiết lập
Liên hệ với Việt Nam: 1990 thiết lập
quan hệ ngoại giao với EU. 1995 ký
quan hệ ngoại giao với EU. 1995 ký
hiệp định khung. Hiện nay quan hệ
hiệp định khung. Hiện nay quan hệ
song phương ngày càng mở rộng
song phương ngày càng mở rộng


I.
I.
Tình hình chung
Tình hình chung
:
:


- Châu Âu trong chiến tranh thế giới II
- Châu Âu trong chiến tranh thế giới II


- Kế hoạch phục hưng Châu Âu
- Kế hoạch phục hưng Châu Âu


- Chính sách đối nội
- Chính sách đối nội


- Chính sách đối ngoại
- Chính sách đối ngoại


- Nước Đức sau chiến tranh thế giới II
- Nước Đức sau chiến tranh thế giới II
II.
II.
Sự liên kết khu vực
Sự liên kết khu vực
- Cộng đồng than thép Châu Âu ( 1951- 6 nước)
- Cộng đồng than thép Châu Âu ( 1951- 6 nước)




Cộng đồng Năng lượng nguyên tử Châu Âu
Cộng đồng Năng lượng nguyên tử Châu Âu


Cộng đồng kinh tế Châu Âu (
Cộng đồng kinh tế Châu Âu (
1957 – EEC – 6 nước )
1957 – EEC – 6 nước )




Cộng đồng Châu Âu ( 1967- EC – 12 nước )
Cộng đồng Châu Âu ( 1967- EC – 12 nước )


Liên minh Châu Âu (1991 –
Liên minh Châu Âu (1991 –
EU – 15 nước)
EU – 15 nước)
- 2004 có 25 nước thành viên
- 2004 có 25 nước thành viên
- 2007 có 27 nước thành viên
- 2007 có 27 nước thành viên
Bài tập về nhà:
Bài tập về nhà:
Câu 1: hãy cho biết những mốc thời gian thành lập các tổ chức
Câu 1: hãy cho biết những mốc thời gian thành lập các tổ chức
liên kết kinh tế ở khu vực Tây Âu
liên kết kinh tế ở khu vực Tây Âu
Câu 2: Kể tên 27 thành viên của liên minh Châu Âu EU theo thời
Câu 2: Kể tên 27 thành viên của liên minh Châu Âu EU theo thời
gian thành lập.
gian thành lập.

Giao thức IP


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Giao thức IP": http://123doc.vn/document/568224-giao-thuc-ip.htm


(1987) và CIDR (1993), các kỹ thuật trên đã không cứu vớt IPv4 ra khỏi một vấn đề
đơn giản: không có đủ địa chỉ cho các nhu cầu tương lai. Có khoảng 4 tỉ địa chỉ IPv4
nhưng khoảng địa chỉ này là sẽ không đủ trong tương lai với những thiết bị kết nối
vào Internet và các thiết bị ứng dụng trong gia đình có thể yêu cầu địa chỉ IP. Do đó,
một vài giải pháp tạm thời, chẳng hạn như dùng RFC1918 trong đó dùng một phần
không gian địa chỉ làm các địa chỉ dành riêng và NAT là một công cụ cho phép hàng
ngàn host truy cập vào Internet chỉ với một vài IP hợp lệ để tận dụng tốt hơn không
gian địa chỉ của IPv4.
Đại diện của Trung Tâm Internet Việt Nam (VNNIC) cho biết, đến thời điểm này, Việt Nam
chưa sử dụng nhiều tài nguyên Internet và cũng chưa có nguy cơ quá tải. Tuy nhiên việc cạn kiệt
IPv4 trên thế giới sẽ ít nhiều gây ảnh hưởng đến Việt Nam.
Vị đại diện này cho biết thêm, hiện VNNIC đang thử nghiệm cung cấp địa chỉ IPv6. Tập đoàn
Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) là đơn vị duy nhất hiện đang thực hiện triển khai thử
nghiệm IPv6 tại Việt Nam.
- Quá nhiều các rounting entry (bản ghi định tuyến) trên các backbone
router : Với tình hình hiện tại, do không có sự phân cấp địa chỉ IPv4 nên số lượng
các rounting entry trở nên rất lớn, lên tới 110.000 bản ghi. Mỗi router phải duy trì
bảng thông tin định tuyến lớn, đòi hỏi router phải có dung lượng bộ nhớ lớn. IPv4
cũng yêu cầu router phải can thiệp xử lý nhiều đối với gói tin IPv4, ví dụ thực hiện phân mảnh,
điều này tiêu tốn CPU của router và ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý (gây trễ, hỏng gói tin)(Việc
này làm chậm quá trình xử lý của router, làm giảm tốc độ của mạng)
- Hạn chế về tính bảo mật và kết nối đầu cuối – đầu cuối.
Trong cấu trúc thiết kế của IPv4 không có cách thức bảo mật nào đi kèm, IPv4
không cung cấp các phương tiện hỗ trợ mã hóa dữ liệu. Kết quả là bảo mật ở mức
ứng dụng được dùng phổ biến nhưng không bảo mật lưu lượng truyền tải giữa các
máy.
Với IPv4, đã có nhiều giải pháp khắc phục nhược điểm này như IPSec, DES,
3DES… nhưng các giải pháp này đều phải cài đặt thêm và có nhiều phương thức
khác nhau đối với mỗi loại sản phảm chứ không được hỗ trợ ở mức bản thân của
giao thức.
Nếu áp dụng IPSec ( IP Security – phương thức bảo mật phổ biến tại tầng IP ) thì
mô hình bảo mật chủ yếu là bảo mật lưu lượng giữa các mạng, việc bảo mật lưu
lượng đầu cuối – đầu cuối được sử dụng rất hạn chế.
Nói thêm về IPSec: IPSec là phương thức bảo mật phổ biến tại tầng IP, nó thực
hiện chức năng xác thực nơi gửi và mã hóa đường kết nối, do vậy đảm bảo có kết nối
bảo mật. IPSec có 2 phương thức làm việc: “phương thức đường hầm – tunnel mode”
và “phương thức truyền tải – transport mode”. Tunnel mode áp dụng IPSec bằng
cách: thiết bị thực hiện IPSec ( firewall…) sẽ thêm 1 Header mới và lấy toàn bộ gói
tin IP trước kia làm phần dữ liệu ( payload ). Chế độ này thường được sử dụng trong
VPN sử dụng 2 thiết bị thực hiện bảo mật giữa 2 mạng. Transport mode áp dụng
IPSec cho truyền gói tin IP bởi host, được sử dụng trong bảo mật kết nối đầu cuối –
đầu cuối giữa các node.
- Nhu cầu về các ứng dụng thời gian thực hay vấn đề đảm bảo chất lượng
dịch vụ QoS : Các thách thức mới từ việc nảy sinh các dịch vụ viễn thông, các yêu
cầu truyền thời gian thực cho các dịch vụ multimedia, video, âm thanh qua mạng, sự
phát triển của thương mại điện tử đã đặt ra việc đảm bảo QoS cho các ứng dụng
này. QoS trong IPv4 cũng được xác định trong trường TOS và phần nhận dạng tải
trọng của gói tin IP. Tuy nhiên trường TOS này có ít tính năng.
Nói thêm về QOS :Trong hoạt động mạng, chất lượng ( Quality ) tức là truyền tải dữ liệu tốt hơn bình
thường. Nó bao gồm: độ mất dữ liệu, trễ ( hay còn gọi độ dịch – jitter ), băng thông… Dịch vụ ( Service ) là
những gì cung cấp cho người sử dụng, có thể là kết nối đầu cuối – đầu cuối, các ứng dụng chủ - khách,
truyền tải dữ liệu… Như vậy, chất lượng dịch vụ QoS được nhắc đến là phương thức đo đạc cách thức cư
xử đáp ứng của mạng đối với lưu lượng. Thông tin để router thiết lập cách thức xử lý cụ thể đối với gói tin
có thể được chuyển tới bằng 1 thủ tục điều khiển hoặc bằng chính thông tin chứa trong gói tin.
Một cách lý thuyết, QoS được nhắc đến là phương thức đo đạc cách thức cư xử của mạng (của các router)
đối với lưu lượng, trong đó có để ý tới những đặc tính nhất định của những dịch vụ xác định. Thông tin để
router thiết lập cách thức cư xử cụ thể đối với gói tin có thể được chuyển tới bằng một thủ tục điều khiển,
hoặc bằng chính thông tin chứa trong gói tin.Có thể thấy đây là một định nghĩa không thật sự rõ ràng, khó
có thể phân định thật rạch ròi. Tuy nhiên, có một số khái niệm thông thường trong mọi định nghĩa về QoS.
Đó là:
- Lưu lượng (traffic) và sự phân biệt về dạng thức dịch vụ
- Người sử dụng có khả năng đối xử khác nhau đối với một hay nhiều loại lưu lượng.
Nói thêm về hỗ trợ QoS trong địa chỉ IPv4
Header của địa chỉ IPv4 có trường Service Type 8 bít có thể giúp phân định mức độ ưu tiên và một số giá
trị khác dành cho lưu lượng IPv4 .3 bít đầu xác định độ ưu tiên (precedence) của gói tin . Với 3 bít, có thể
có 8 mức độ ưu tiên khác nhau đối với lưu lượng IPv4. 4 bít tiếp theo được gọi là ToS (Type of Service)
giúp xác định dịch vụ và một số các thông số khác như độ trễ, thông lượng, độ tin cậy.
Tuy nhiên, sử dụng các giá trị của Service Type trong việc phân định loại dịch vụ và mức ưu tiên phục vụ
cho QoS có một số vấn đề như sau
- Trường này cung cấp một mô hình cố định và hạn chế trong việc phân dạng loại dịch vụ
- Gía trị độ ưu tiên: Chỉ mã hoá một cách tương đối mức ưu tiên
Địa chỉ IPv4 có những hạn chế như sau trong hỗ trợ QoS:
- Phân mảnh gói tin trong IPv4: Việc thực hiện phân mảnh gói tin tại router là một vấn đề điển hình
của IPv4. Nó dẫn đến khả năng làm tắc nghẽn mạng, tiêu tốn bằng thông và CPU của thiết bị.
- Quá tải về quản lý: ICMPv4 có quá nhiều tuỳ chọn (option)
- Định tuyến không hiệu quả: Đây cũng là một hậu quả trực tiếp của việc phân mảnh gói tin. Mặc
khác, nó cũng do cấu trúc đánh số và quản lý địa chỉ không hoàn toàn phân cấp.
Những yếu tố đó ảnh hưởng đến khả năng hỗ trợ QoS trong IPv4, đặc biệt trong phạm vi rộng lớn.
Giới thiệu về IP v6.
Giao thức IPng (Next General Internet Protocol) là phiên bản mới của giao thức IP được IETF
(Internet Engineering Task Force) đề xướng và năm 1994, IESG (Internet Engineering Steering
Group) phê chuẩn với tên chính thức là IPv6. IPv6 là phiên bản kế thừa phát triển từ IPv4.
1. Nguyên nhân ra đời của IPv6
- Internet phát triển mạnh, nhu cầu sử dụng địa chỉ IP tăng dẫn đến không gian địa chỉ ngày càng
bị thu hẹp và tình trạng thiếu hụt địa chỉ tất yếu sẽ xảy ra trong vài năm tới.
- Việc phát triển quá nhanh của mạng Internet dẫn đến kích thước các bảng định tuyến trên mạng
ngày càng lớn.
- Cài đăt IPv4 bằng thủ công hoặc bằng giao thức cấu hình địa chỉ trạng thái DHCP (Dynamic Host
Configuration Protocol), khi mà nhiều máy tính và các thiết bị kết nối vào mạng thì cần thiết phải có
một phương thức cấu hình địa chỉ tự động và đơn giản hơn.
- Trong quá trình hoạt động IPv4 đã phát sinh một số vấn đề về bảo mật và QoS. Khi kết nối thành
mạng Intranet cần nhiều địa chỉ khác nhau và truyền thông qua môi trường công cộng. Vì vậy đòi
hỏi phải có các dịch vụ bảo mật để bảo vệ dữ liệu ở mức IP.
- Mặc dù có các chuẩn đảm bảo chất lượng dịch vụ QoS trong IPv4 trường IPv4 TOS (Type of
Service), nhưng hạn chế về mặt chức năng, cần thiết hỗ trợ tốt hơn cho các ứng dụng thời gian
thực.
-Vì vậy việc cần thiết phải thay thế giao thức IPv4 là tất yếu. Thiết kế IPv6 nhằm mục đích tối thiểu
hóa ảnh hưởng qua lại giữa các giao thức lớp trên và lớp dưới bằng cách tránh việc bổ sung một
cách ngẫu nhiên các chức năng mới.
2.Các đặc trưng của IPv6
IPv6 được chọn thay thế cho giao thức IPv4 không chỉ do IPv4 không còn phù hợp với yêu cầu phát
triển hiện tại của mạng Internet mà còn vì những ưu điểm của giao thức IPv6:
-Đơn giản hoá Header: Một số trường trong Header của IPv4 bị bỏ hoặc chuyển thành các trường
tuỳ chọn. Giảm thời gian xử lý và tăng thời gian truyền.
-Không gian địa chỉ lớn: Độ dài địa chỉ IPv6 là 128 bit, gấp 4 lần độ dài địa chỉ IPv4. gian địa chỉ
IPv6 không bị thiếu hụt trong tương lai.
-Khả năng địa chỉ hoá và chọn đường linh hoạt: IPv6 cho phép nhiều lớp địa chỉ với số lượng các
node. Cho phép các mạng đa mức và phân chia địa chỉ thành các mạng con riêng lẻ. Có khả năng tự
động trong việc đánh địa chỉ. Mở rộng khả năng chọn đường bằng cách thêm trường “Scop” vào địa
chỉ quảng bá (Multicast).
-Tự động cấu hình địa chỉ: Khả năng tự cấu hình của IPv6 được gọi là khả năng cắm và chạy (Plug
and Play). Tính năng này cho phép tự cấu hình địa chỉ cho giao diện mà không cần sử dụng các giao
thức DHCP.
-Khả năng bảo mật: IPsec bảo vệ và xác nhận các gói tin IP:
Mã hóa dữ liệu: Phía gửi sẽ tiến hành mã hóa gói tin trước khi gửi.
Toàn vẹn dữ liệu: Phía nhận có thể xác nhận gói tin nhận được để đảm bảo rằng dữ liệu không bị
thay đổi trong quá trình truyền.
Xác nhận nguồn gốc dữ liệu: Phía nhận có thể biết được phía gửi gói tin. Dịch vụ này phụ thuộc vào
dịch vụ toàn vẹn dữ liệu.
Antireplay: Phía nhận có thể phát hiện và từ chối gói tin gửi lại.
-Chất lượng dịch vụ QoS (Quanlity Of Service): Chất lượng dịch vụ QoS trong IPv4 không cao.Trong
Header IPv4 chứa địa chỉ nguồn và địa chỉ đích, truyền có độ tin cậy không cao. IPv6 Header có
thêm một số trường mới để xử lý và xác định lưu lượng trên mạng. Do cơ chế xác nhận gói tin ngay
trong Header nên việc hỗ trợ QoS có thể thực hiện được ngay cả khi gói tin được mã hóa qua IPsec.
- Giao thức phát hiện lân cận NDP (Neighbor Discovery Protocol) của IPv6 là một dãy các thông báo
ICMPv6 cho phép quản lý tương tác giữa các node lân cận, thay thế ARP trong IPv4. Các thông báo
ICMPv4 Router Discovery và ICMPv4 Redirect được thay bởi các thông báo Multicast, Unicast
Neighbor Discovery.
- Khả năng mở rộng: Thêm vào trường Header mở rộng tiếp ngay sau Header, IPv6 có thể được mở
rộng thêm các tính năng mới một cách dễ dàng.
- Tính di động: IPv4 không hỗ trợ cho tính di động, IPv6 cho phép nhiều thiết bị di động kết nối vào
Internet theo chuẩn của PCMCIA (Personal Computer Memory Card International Association) qua
mạng công cộng nhờ sóng vô tuyến.
Các ưu điểm của IPv6 so với IPv4
Để có cái nhìn tổng quan nhất, tớ tổng hợp lại một số các đặc điểm chinh như sau:
Do các vấn đề đặt ra ở trên nên một phiên bản của giao thức đã được giới thiệu. Xuất
phát điểm của IPv6 có tên gọi là IPng (Internet Protocol Next Generation). Sau đó,
IPng được gán với phiên bản 6 và lấy tên chính thức IPv6. Quan điểm chính khi thiết
kế IPv6 là từng bước thay thế IPv4, không tạo ra sự biến đổi quá lớn với các tầng
trên và dưới.
- Mở rộng của không gian địa chỉ : Địa chỉ của IPv6 bao gồm 128bit so với 32 bít
của địa chỉ IPv4. Với phạm vi của địa chỉ IPv6, việc cung cấp địa chỉ trở nên thoải
mái hơn rất nhiều. Về mặt lý thuyết, 128bit địa chỉ có khả năng cung cấp 2 128 =
340 282 366 920 938 463 374 607 431 768 211 456 địa chỉ, nhiều hơn địa chỉ của
IPv4 khoảng 8 tỷ tỷ tỷ lần (vì 232 lấy tròn là 4x109 còn 2128 lấy tròn là 340x1036).
Số địa chỉ này nếu rải đều trên bề mặt trái đất thì trung bình mỗi mét vuông sẽ có
khoảng 665 570 tỷ tỷ địa chỉ. Số lượng địa chỉ này sẽ đáp ứng được sự bùng nổ của
các thiết bị IP trong tương lai. Ngoài ra IPv6 còn cung cấp phương thức mới tự động
cấu hình địa chỉ và xây dựng một phép kiểm tra tính duy nhất của địa chỉ IP.
- Kết cấu địa chỉ định tuyến được phân cấp hiệu quả: Địa chỉ IPv6 được thiết kế
để tạo ra cơ sở định tuyến phân cấp, hiệu quả và có khả năng tập hợp lại dựa trên sự
phân cấp thành nhiều mức của các nhà cung cấp dịch vụ (ISP). Như vậy các bảng
định tuyến trên các router backbone sẽ gọn nhẹ hơn nhiều.
- Đơn giản hóa dạng thức của Header: Mặc dù chiều dài bit của địa chỉ IPv6 gấp 4
lần chiều dài bit địa chỉ IPv4 nhưng kích thước Header IPv6 chỉ gấp 2 lần Header
IPv4. Phần Header của IPv6 được giảm xuống tới mức tối thiểu bằng việc chuyển tất
cả các trường phụ thuộc hoặc không cần thiết xuống phần header mở rộng nằm ngay
sau phần header của IPv6 Phần Header cơ bản có kích thước cố định giúp tăng hiệu
quả router. Việc đặt các tùy chọn sang phần Header mở rộng cho phép nâng cao tính
linh hoạt, có thể đáp ứng được nếu trong tương lai có thêm các tùy chọn mới.
Việc tổ chức hợp lý phần header này làm tăng hiệu quả xử lý tại các router trung
gian. IPv6 header và IPv4 header là không tương thích với nhau, do đó các node phải
được cài đặt 2 phiên bản IP mới có thể xử lý được các header khác nhau này
- Tự động cấu hình địa chỉ : Tương tự như IPv4, IPv6 cũng cung cấp khả năng cấu
hình địa chỉ tự động bởi DHCP, ngoài ra còn đưa thêm khả năng tự động cấu hình địa
chỉ khi không có DHCP Server. Trong một mạng, các host có thể tự động cấu hình
địa chỉ của nó bằng cách sử dụng IPv6 Prefix nhận được từ router(gọi là địa chỉ link-
local). Hơn nữa trong một mạng mà không có router thì host cũng có thể tự động
cấu hình địa chỉ link-local để liên lạc với các host khác.
- Bảo mật : Hỗ trợ IPSec đã được hỗ trợ ở ngay bản thân của IPv6. Yêu cầu bắt
buộc này như là một tiêu chuẩn cho an ninh mạng, đồng thời mở rộng khả năng làm
việc được với nhau của các loại sản phẩm.
Trong IPv6 thực thi IPSec được định nghĩa như là 1 đặc tính bắt buộc của địa chỉ
IPv6 khi các thủ tục bảo mật của IPSec được đưa thành 2 đặc tính là 2 Header mở
rộng của địa chỉ IPv6: Authentication Header – AH ( phần đầu xác thực ) và
Encapsulating Security Payload – ESP ( phần đầu mã hóa ). Hai Header này có thể
được sử dụng cùng lúc hoặc riêng rẽ để cung cấp các mức bảo mật khác nhau.
IPSec được coi là 1 trong những đặc tính cơ bản của địa chỉ IPv6. Tuy nhiên tại thời
điểm hiện nay, dù nhiều hệ điều hành có hỗ trợ IPSec nhưng việc sử dụng IPSec
trong IPv6 cho kết nối đầu cuối – đầu cuối là chưa phổ biến. Một trong những
nguyên nhân gây nên là do mô hình kết nối có tường lửa hiện nay và thói quen sử
dụng những thủ tục bảo mật tại tầng ứng dụng. Mục tiêu sắp tới là hoàn thiện sửa
đổi các tiêu chuẩn hóa liên quan đến IPSec như về AH, ESP và tiến đến mọi node
IPv6 đều có khả năng sử dụng IPSec, đưa IPSec phổ dụng cùng với sự phổ biến ngày
càng nhiều của địa chỉ IPv6.
- Chất lượng dịch vụ tốt hơn (QoS) : Phần header của IPv6 được đưa thêm một
số trường mới. Trường nhãn luồng (Flow Label) ở IPv6 header được dùng để đánh
nhãn cho các luồng dữ liệu. Từ đó các router có thể có những xử lý khác nhau với các
gói tin thuộc các luồng dữ liệu khác nhau. Do trường Flow Label nằm trong IPv6
header nên QoS vẫn được đảm bảo khi phần tải trọng được mã hóa bởi IPSec.
Hỗ trợ QoS trong địa chỉ IPv6:
IPv6 header có hai trường dữ liệu Traffic Class (8 bít) và Flow label (20 bít). Một host có thể sử
dụng Flow Label và Traffic trong IPv6 header để phân dạng gói tin trong đó host yêu cầu IPv6
router có những cách cư xử đặc biệt nào đó. Ví dụ, host có thể yêu cầu chất lượng dịch vụ khác
mặc định cho những dịch vụ thời gian thực.
Traffic Class: Trường Traffic Class thực hiện chức năng tương tự trường “Service Type” của địa
chỉ ipv4. Trường này được sử dụng để biểu diễn mức ưu tiên của gói tin. Node gửi gói tin cần
thiết lập giá trị phân loại độ ưu tiên nhất định cho gói tin IPv6, sử dụng trường Traffic Class.
Router khi xử lý chuyển tiếp gói tin cũng sử dụng trường này cho mục đích tương tự.
Đối với thế hệ địa chỉ IPv6, trường Traffic Class với số bít nhiều hơn sẽ giúp phân định tốt hơn
mức độ ưu tiên cho gói tin.
Flow Label : Trường Flow label sử dụng để định danh một dòng dữ liệu giữa nguồn và đích.
Flow Label được sử dụng trong IPv6 sẽ hỗ trợ tốt hơn thực thi QoS.
Khái niệm một dòng (flow):Một dòng (flow) là một chuỗi các gói tin được gửi từ một
nguồn tới một đích nhất định (có thể là unicast hay multicast). Nguồn sẽ yêu cầu các
router có các cư xử đặc biệt đối với các gói tin thuộc một flow. Việc cần phải cư xử như
thế nào đối với gói tin có thể được truyền tới router bằng một thủ tục điều khiển, hoặc
cũng có thể là thông tin chứa trong chính gói tin của dòng, ví dụ như header mở rộng
hop-by-hop của gói tin.
Giữa một nguồn và một đích có thể có nhiều dòng. Việc kết hợp giữa địa chỉ nguồn và một số
Flow label khác 0 sẽ xác định duy nhất một dòng. Những gói tin không thuộc dòng nào cả sẽ
được thiết lập toàn bộ các bít Flow Label có giá trị 0.
Mọi gói tin thuộc cùng một dòng phải được gửi với cùng địa chỉ nguồn, cùng địa chỉ đích, và
cùng có một số Flow label khác 0. Router xử lý gói tin sẽ thiết lập trạng thái xử lý đối với một
label cụ thể và có thể lựa chọn lưu trữ thông tin (cache), sử dụng giá trị địa chỉ nguồn và flow
label làm khoá. Đối với những gói tin sau đó, có cùng địa chỉ nguồn và giá trị flow label, router
có thể áp dụng cách thức xử lý dựa trên thông tin hỗ trợ từ vùng cache.
Một nguồn IPv6 có thể sử dụng 20 bít flow label trong IPv6 header để xác định gói tin gửi đi
trong một dòng nhất định, yêu cầu cách thức cư xử đặc biệt của router. Ví dụ nguồn yêu cầu chất
lượng dịch vụ không mặc định hoặc dịch vụ thời gian thực.
Tại thời điểm hiện nay, việc sử dụng trường này trong thực thi QoS vẫn nằm ở mức thử nghiệm,
các tiêu chuẩn hoá trường này còn chưa hoàn thiện. Hiện nay chưa có một cấu trúc thông dụng
cho việc sử dụng nó. IETF đang tiếp tục tiêu chuẩn hoá và đưa ra những yêu cầu rõ ràng hơn cho
Internet về hỗ trợ trường Flow Label. Nhiều router, host chưa hỗ trợ việc sử dụng trường label.
Đối với những router và host này, toàn bộ các bít của trường label sẽ được thiết lập giá trị 0 và
các host, router này bỏ qua trường đó khi nhận được gói tin.
Bên cạnh những cải tiến trong IPv6 header, cùng với những ưu điểm khác của IPv6 như: không
phân mảnh, định tuyến phân cấp, đặc biệt gói tin IPv6 được thiết kế với mục đích xử lý thật hiệu
quả tại router. Tất cả tạo ra khả năng hỗ trợ tốt hơn cho chất lượng dịch vụ QoS. Tuy nhiên để đạt
tới trạng thái hoàn thiện và sử dụng rộng rãi thống nhất, còn cần thời gian và công sức của những
tổ chức nghiên cứu và tiêu chuẩn hoá.
- Khả năng mở rộng tốt : IPv6 có khả năng mở rộng tốt bằng việc sử dụng phần header
mở rộng ngay sau phần IPv6 header. Điều này cho phép thêm vào các chức năng mạng
mới. Không giống như IPv4, phần lựa chọn chỉ có 40 byte thì với IPv6, phần mở rộng chỉ
bị hạn chế bởi kích thước của gói tin IPv6.
Tham kh ảo
Một số giao thức cơ bản của bộ giao thức TCP/IP
1).Giao thức điều khiển truyền TCP (Transmission Control Protocol)
TCP là một giao thức hướng liên kết (Connection Oriented), tức là trước khi truyền dữ liệu, thực thể
TCP gởi và thực thể TCP nhận thương lượng để thiết lập một kết nối logic tạm thời, tồn tại trong quá
trình truyền số liệu. TCP nhận thông tin từ tầng trên, chia dữ liệu thành nhiều gói theo độ dài quy
định và chuyển giao các gói tin xuống cho các giao thức tầng mạng (Tầng IP) để định tuyến. Bộ xử
lý TCP xác nhận từng gói, nếu không có xác nhận gói dữ liệu sẽ được truyền lại. Thực thể TCP bên
nhận sẽ khôi phục lại thông tin ban đầu dựa trên thứ tự gói và chuyển dữ liệu lên tầng trên.
TCP cung cấp khả năng truyền dữ liệu một cách an toàn giữa các thành trong bộ liên mạng. Cung
cấp các chức năng kiểm tra tính chính xác của dữ liệu khi đến đích và truyền lại dữ liệu khi có lỗi
xảy ra. TCP cung cấp các chức năng chính sau :
- Thiết lập, duy trì, giải phóng liên kết giữa hai thực thể TCP.
- Phân phát gói tin một cách tin cậy.
- Tạo số thứ tự (Sequencing) các gói dữ liệu. - Điều khiển lỗi.
- Cung cấp khả năng đa kết nối cho các quá trình khác nhau giữa thực thể nguồn và thực thể đích
thông qua việc sử dụng số hiệu cổng.
- Truyền dữ liệu theo chế độ song công (Full-Duplex).
TCP có những đặc điểm sau:
- Hai thực thể liên kết với nhau phải trao đổi, đàm phán với nhau về các thông tin liên kết. Hội
thoại, đàm phán nhằm ngăn chặn sự tràn lụt và mất dữ liệu khi truyền.
- Máy nhận phải gửi xác nhận cho máy gởi biết rằng nó đã nhận gói dữ liệu.
- Các Datagram IP có thể đến đích không đúng theo thứ tự , TCP nhận sắp xếp lại.
- Hệ thống chỉ phát lại gói tin bị lỗi, không loại bỏ toàn bộ dòng dữ liệu.
2).Giao thức gói tin người sử dụng UDP (User Datagram Protocol)
UDP là giao thức không liên kết (Connectionless). UDP sử dụng cho các tiến trình không yêu cầu về
độ tin cậy cao, không có cơ chế xác nhận ACK, không đảm bảo chuyển giao các gói dữ liệu đến đích
và theo đúng thứ tự và không thực hiện loại bỏ các gói tin trùng lặp. Nó cung cấp cơ chế gán và
quản lý các số hiệu cổng để định danh duy nhất cho các ứng dụng chạy trên một Client của mạng
và thực hiện việc ghép kênh. UDP thường sử dụng kết hợp với các giao thức khác, phù hợp cho các
ứng dụng yêu cầu xử lý nhanh như các giao thưc SNMP và VoIP.
- Giao thức SNMP (Simple Network Management Protocol) là giao thức quản lý mạng phổ biến, khả
năng tương thích cao. SNMP cung cấp thông tin quản trị MIB (Management Information Base) và hỗ
trợ quản lý và giám sát Agent.
- VoIP ứng dụng UDP: Kỹ thuật VoIP (Voice over IP) được thừa kế kỹ thuật giao vận IP. Các mạng
IP sử dụng hai loại giao thức định tuyến: định tuyến vectơ khoảng cách và định tuyến trạng thái liên
kết. Hệ thống đảm bảo tính năng thời gian thực, tốc độ truyền cao, các gói thoại không có trễ quá
mức và độ tin cậy cao.
3). Giao thức mạng IP (Internet Protocol)
IP (Internet Protocol) là giao thức không liên kết. Chức năng chủ yếu của IP là cung cấp các dịch vụ
Datagram và các khả năng kết nối các mạng con thành liên mạng để truyền dữ liệu với phương thức
chuyển mạch gói IP Datagram, thực hiện tiến trình định địa chỉ và chọn đường. IP Header được
thêm vào đầu các gói tin và được giao thức tầng thấp truyền theo dạng khung dữ liệu (Frame). IP
định tuyến các gói tin thông qua liên mạng bằng cách sử dụng các bảng định tuyến động tham chiếu
tại mỗi bước nhảy. Xác định tuyến được tiến hành bằng cách tham khảo thông tin thiết bị mạng vật
lý và logic như ARP giao thức phân giải địa chỉ. IP thực hiện việc tháo rời và khôi phục các gói tin
theo yêu cầu kích thước được định nghĩa cho các tầng vật lý và liên kết dữ liệu thực hiện. IP kiểm
tra lỗi thông tin điều khiển, phần đầu IP bằng giá trị tổng CheckSum.
4).Giao thức thông báo điều khiển mạng ICMP (Internet Control Message Protocol)
Giao thức IP không có cơ chế kiểm soát lỗi và kiểm soát luồng dữ liệu. Các nút mạng cần biết tình
trạng các nút khác, các gói dữ liệu phát đi có tới đích hay không…
Các chức năng chính: ICMP là giao thức điều khiển của tầng IP, sử dụng để trao đổi các thông tin
điều khiển dòng dữ liệu, thông báo lỗi và các thông tin trạng thái khác của bộ giao thức TCP/IP.
- Điều khiển lưu lượng (Flow Control): Khi các gói dữ liệu đến quá nhanh, thiết bị đích hoặc thiết bị
định tuyến ở giữa sẽ gửi một thông điệp ICMP trở lại thiết bị gửi, yêu cầu thiết bị gửi tạm thời ngừng
việc gửi dữ liệu.
- Thông báo lỗi: Trong trường hợp không tới được địa chỉ đích thì hệ thống sẽ gửi một thông báo lỗi
"Destination Unreachable".
- Định hướng lại các tuyến (Redirect Router): Một Router gửi một thông điệp ICMP cho một trạm
thông báo nên sử dụng Router khác. Thông điệp này có thể chỉ được dùng khi trạm nguồn ở trên
cùng một mạng với hai thiết bị định tuyến.
- Kiểm tra các trạm ở xa: Một trạm có thể gửi một thông điệp ICMP "Echo" để kiểm tra trạm có hoạt
động hay không.
Các loại thông điệp ICMP: Các thông điệp ICMP được chia thành hai nhóm: các thông điệp truy vấn
và các thông điệp thông báo lỗi. Các thông điệp truy vấn giúp cho người quản trị mạng nhận các
thông tin xác định từ một node mạng khác. Các thông điệp thông báo lỗi liên quan đến các vấn đề
mà bộ định tuyến hay trạm phát hiện ra khi xử lý gói IP. ICMP sử dụng địa chỉ IP nguồn để gửi
thông điệp thông báo lỗi cho node nguồn của gói IP.
5).Giao thức quản lý nhóm Internet IGMP (Internet Group Management Protocol)
Giao thức quản lý nhóm Internet IGMP (Internet Group Management Protocol) là một giao thức
quản lý các trạm thành viên trong nhóm truyền IP multicast. Một nhóm IP multicast, đ¬ược biết đến
như¬ một nhóm trạm. Gói tin IP multicast đ¬ược truyền tới một địa chỉ MAC đơn như¬ng đ¬ược xử
lý bởi nhiều trạm sử dụng giao thức IP. Một trạm cụ thể sẽ nghe một địa chỉ gói tin IP multicast cụ
thể và nhận tất cả các gói tin từ địa chỉ đó.
6).Giao thức phân giải địa chỉ ARP (Address Resolution Protocol)
Giao thức TCP/IP sử dụng ARP để tìm địa chỉ vật lý của trạm đích. Ví dụ khi cần gửi một gói dữ liệu
IP cho một hệ thống khác trên cùng một mạng vật lý Ethernet, hệ thống gửi cần biết địa chỉ
Ethernet của hệ thống đích để tầng liên kết dữ liệu xây dựng khung gói dữ liệu. Thông thường, mỗi
hệ thống lưu giữ và cập nhật bảng thích ứng địa chỉ IP-MAC tại chỗ (còn được gọi là bảng ARP
Cache). Bảng thích ứng địa chỉ được cập nhật bởi người quản trị hệ thống hoặc tự động bởi giao
thức ARP sau mỗi lần ánh xạ được một địa chỉ tương ứng mới.
Trước khi trao đổi thông tin với nhau, node nguồn cần phải xác định địa chỉ vật lý MAC của node
đích bằng cách tìm kiếm trong bảng địa chỉ IP. Nếu không tìm thấy, node nguồn gửi quảng
bá(Broadcast) một gói yêu cầu ARP(ARP Request) có chứa địa chỉ IP nguồn, địa chỉ IP đích cho tất
cảc các máy trên mạng. Các máy nhận, đọc, phân tích và so sánh địa chỉ IP của nó với địa chỉ IP
của gói. Nếu cùng địa chỉ IP, nghĩa là node đích tìm trong bảng thích ứng địa chỉ IP-MAC của nó và
trả lời bằng một gói ARP Rely có chứa địa chỉ MAC cho node nguồn. Nếu không cùng địa chỉ IP, nó
chuyển tiếp gói yêu cầu nhận được dưới dạng quảng bá cho tất cả các trạm trên mạng.
Tóm lại tiến trình của ARP được mô tả như sau:
- IP yêu cầu địa chỉ MAC.
- Tìm kiếm trong bảng ARP.
- Nếu tìm thấy sẽ trả lại địa chỉ MAC.
- Nếu không tìm thấy, tạo gói ARP yêu cầu và gửi tới tất cả các trạm.
- Tuỳ theo gói tin trả lời, ARP cập nhật vào bảng ARP và gửi địa chỉ MAC cho IP.
7).Giao thức phân giải địa chỉ ngược RARP (Reverse Address Resolution Protocol)
-RARP là giao thức phân giải địa chỉ ngược. Quá trình này ngược lại với quá trình ARP ở trên, nghĩa
là cho trước địa chỉ mức liên kết, tìm địa chỉ IP tương ứng. Như vậy RARP được sử dụng để phát hiện
địa chỉ IP, khi biết địa chỉ vật lý MAC. Và cũng được sử dụng trong trường hợp trạm làm việc không
có đĩa
-Khuôn dạng gói tin RARP tương tự như khuôn dạng gói ARP đã trình bày, chỉ khác là trường Opcode
có giá trị 0×0003 cho mã lệnh yêu cầu(RARP Request) và có giá trị 0×0004 cho mã lệnh trả
lời(RARP Reply).
-Nguyên tắc hoạt động của RARP ngược với ARP, nghĩa là máy đã biết trước địa chỉ vật lý MAC tìm
địa chỉ IP tương ứng của nó. Hình 3.12 minh họa hoạt động của giao thức RARP. Máy A cần biết địa
IP của nó, nó gửi gói tin RARP Request chứa địa chỉ MAC cho tất cả các máy trong mạng LAN. Mọi
máy trong mạng đều có thể nhận gói tin này nhưng chỉ có Server mới trả lại RARP Reply chứa địa
chỉ IP của nó.
RFC
Trong kỹ nghệ liên mạng và mạng máy tính, các tài liệu RFC (tiếng Anh: Request for
Comments - Đề nghị duyệt thảo và bình luận) là một chuỗi các bản ghi nhớ chứa đựng
những nghiên cứu mới, những đổi mới, và những phương pháp luận ứng dụng cho công
nghệ Internet.
Thông qua Đoàn thể Internet (Internet Society), các kỹ sư và các nhà khoa học máy tính
có thể công bố luận văn dưới hình thức là một bản ghi nhớ RFC, hoặc là để cho những
người đồng nghiệp phê bình (peer review), hoặc chỉ đơn thuần thông báo những quan
điểm mới, tin tức, hoặc (thỉnh thoảng) hài hước về kỹ thuật. Tổ chức Lực lượng chuyên
trách về kỹ thuật liên mạng (Internet Engineering Task Force - IETF) chấp nhận một số
những lý thuyết thông tin đã ứng dụng được công bố trong các bản RFC như những tiêu
chuẩn về liên mạng (Internet standards).
* Sự kiến tạo và tiến triển của RFC
Chủ biên tập RFC phát hành cho mỗi một bản tài liệu RFC một số đăng ký duy nhất. Một
khi số đăng ký đã được phát hành và công bố, bản RFC sẽ không bao giờ bị hủy bỏ hay
bị sửa đổi; nếu bản tài liệu cần phải được chỉnh lý, các tác giả của nó sẽ công bố một bản
chỉnh lý; chính vì vậy, một số RFC trở nên lỗi thời vì những bản mới của nó. Các bản
RFC đã được đăng ký cùng nhau tạo nên một loạt hồ sơ nối tiếp, hình thành lịch sử tiến
triển của tiêu chuẩn liên kết mạng (Internet standards).Xin chú ý cụm từ "RFC" không
phải là đặc thù riêng cho loạt các tài liệu này. Một số tổ chức khác cũng cho xuất bản
những tài liệu, dùng cụm từ "RFC". Dầu vậy, cụm từ này đã từ lâu được nổi tiếng là cụm
từ chỉ loạt tài liệu "RFC" về Internet;
Tiến trình kiến tạo RFC không giống với những tiến trình tiêu chuẩn hóa do những tổ
chức chính quy về tiêu chuẩn như ANSI thường làm. Những chuyên gia về kỹ thuật liên
mạng truyền thông có thể tự đề bạt một bản dự thảo Internet (Internet Draft) mà không
cần có sự hỗ trợ từ những cơ quan bên ngoài. Những bản RFC được công nhận là tiêu
chuẩn thường được công bố với sự phê chuẩn của Lực lượng chuyên trách kỹ thuật kết
nối mạng (IETF), và đa số do những chuyên gia tham dự trong các nhóm điều hành của
IETF thi hành. Khi mới bắt đầu, chúng đều là những bản dự thảo Internet. Cách sắp xếp
này cho phép những bản dự thảo được thông qua những vòng thăm dò ý kiến ban đầu, từ
những đồng nghiệp, trước khi tài liệu được thanh lọc và trưởng thành nên những bản
RFC.
Truyền thống của RFC dựa vào tính thực dụng, vào kinh nghiệm từng trải, quyền tiêu
chuẩn hóa những bản thảo thông qua thực tế đạt được bởi các cá nhân hoặc một nhóm
cộng tác nhỏ, có những ưu điểm, hơn rất nhiều tiến trình chính quy do hội đồng điều
khiển, mà chúng ta thường thấy ở ANSI hoặc ISO.
Ví dụ điển hình cho những ưu điểm trên đây là sự tồn tại phồn thịnh của truyền thống
những RFC hài hước (joke RFCs), được công bố vào ngày hài hước tháng Tư (April
Fool's Day) hằng năm.
Các bản RFC đã từng nổi tiếng vì chất lượng của chúng. Trong các bản RFC chúng ta
vừa không gặp những sự nhập nhằng khó hiểu, một vấn đề phổ biến trong các bản thiết
kế dự thảo, vừa không có những chức năng ngoài dự kiến do sai lầm của hội đồng gây ra,
là những cái ám ảnh các tiêu chuẩn chính quy, và chúng vạch đường cho một mạng lưới
đang được phát triển tới tầng cỡ toàn cầu. Để biết thêm chi tiết về RFC và tiến trình của
RFC, xin xem RFC 2026, "Tiến trình của tiêu chuẩn Internet, phiên bản số 3" ("The
Internet Standards Process, Revision 3).
*Lịch sử
Mẫu hình RFC được khởi đầu vào năm 1969, khi nó là một phần trong hội thảo của dự án
ARPANET. Hiện nay, nó là tuyến công bố chính thức của IETF, của Ủy ban kiến trúc
liên kết mạng (Internet Architecture Board - viết tắ là IAB)), và tới một mức độ nào đó,
của cộng đồng những kỹ sư nghiên cứu về mạng lưới truyền thông vi tính toàn cầu.
Những bản RFC đầu tiên được tác giả của chúng đánh bằng máy chữ và truyền tay các
bản in giữa nhóm những kỹ sư nghiên cứu tại ARPA. Tháng 12 năm 1969, các kỹ sư
nghiên cứu phân phát các bản RFC mới được viết thông qua mạng lưới truyền thông, vốn
là ARPANET, mà hiện nay đang hoạt động. Bản RFC số 1, với đề tài "Phần mềm dành
cho máy chủ" (Host Software), được Steve Crocker sinh viên trường đại học California
(University of California, Los Angeles - viết tắt là UCLA) viết, và được công bố vào ngày
7 tháng 4, năm 1969. Crocker đã thảo bản dự thảo này trong phòng tắm để tránh đánh
thức bạn cùng phòng của mình.
Trong phiên bản RFC số 3, khai điểm của chuỗi các bản RFC, Steve Crocker đặt các bản
RFC đưới quyền của "Nhóm điều hành liên mạng" (Network Working Group). Nhóm này
hình như chưa bao giờ tồn tại một cách chính thức, chỉ được định nghĩa là "nhóm người
này", song sự ủy quyền vẫn còn tồn tại trong các RFC cho đến ngày nay.
Trường đại học UCLA tiếp tục cho ra nhiều các bản RFC trong những năm của thập niên
kỷ 1970, không những vì chất lượng uyên thâm, song còn là vì UCLA là những Bộ điều
hành giao diện thông điệp (Interface Message Processor) (nút kết nối mạng) đầu tiên trên
mạng ARPANET.
Trung tâm nghiên cứu phát triển (Augmentation Research Center - viết tắt là ARC) của
ông Douglas Engelbart tại Học viện nghiên cứu Stanford (Stanford Research Institute) -
là một trong bốn nút mạng đầu tiên của mạng ARPANET. Nó cũng đồng thời là Trung
tâm tin tức liên mạng (Network Information Centre) đầu tiên, đồng thời nó còn là (như đã
được nhà xã hội học Thierry Bardini ghi chú) nguồn gốc của một số lớn những RFC ở
thời kỳ đầu.
Từ năm 1969 đến năm 1998, ông Jon Postel làm chủ biên tập RFC. Sau khi hợp đồng ủng
hộ tài chính của chính phủ Mỹ hết hạn, Hội đồng Internet (thay mặt cho IETF) ký hợp
đồng với Chi nhánh điều hành liên mạng (Networking Division) của trường đại học miền
Nam California (University of Southern California - viết tắt là USC) đứng ra làm quyền
biên tập và chịu trách nhiệm về việc xuất bản (dưới sự chỉ đạo của IAB). Jon Postel tiếp
tục giữ chức chủ biên tập cho đến khi ông mất; sau này, Bob Braden lãnh chức chủ nhiệm
đề án, trong khi Joyce Reynolds tiếp tục làm một thành viên của nhóm.
*Cấp bậc
Không phải bản RFC nào cũng là tiêu chuẩn. Chỉ có nhóm IETF đại diện cho Nhóm chỉ
đạo kỹ thuật liên kết mạng (Internet Engineering Steering Group - viết tắt là IESG) là có
quyền chuẩn y các bản RFC đang trên đà trở thành tiêu chuẩn. Cấp bậc của các bản RFC
được chia ra thành những phần như đề cử (proposed) (PS), dự thảo (draft) (DS), và toàn
phần (full) tiêu chuẩn Internet (Internet Standards (STD)). Mỗi một biên tập phụ, thuộc
một tiêu chuẩn STD nào đó, đều có riêng một con số đặc thù; Kể từ năm 2006 trở đi, tiêu
chuẩn số 1 là RFC 3700. Một số các STD tạo nên nhiều nhóm nhỏ, gồm nhiều những
RFC liên quan.