5
Entropy for binary source: N=2
))1(log)1(log(
22
ppppH
−⋅−+⋅−=
S={0,1}
p
0
=p
p
1
=1-p
0 1
p
1-p
H=1 bit for p
0
=p
1
=0.5
6
Entropy for uniform distribution: p
i
=1/N
Uniform distribution of probabilities: p
i
=1/N:
)(log)/1(log)/1(
2
1
2
NNNH
N
i
∑
=
=⋅−=
Examples:
N= 2: p
i
=0.5; H=log
2
(2) = 1 bit
N=256: p
i
=1/256; H=log
2
(256)= 8 bits
P
i
=1/N
s
1
s
2
s
N
7
How to get the probability distribution?
1) Static modeling:
a) The same code table is applied to all input data.
b) One-pass method (encoding)
c) No side information (không cần thông tin phụ)
2) Semi-adaptive modeling:
a) Two-pass method: (1) analysis and (2) encoding.
b) Side information needed (model, code table)
3) Adaptive (dynamic) modeling:
a) One-pass method: analysis and encoding
b) Updating the model during encoding/decoding
c) No side information
8
Static vs. Dynamic: Example
S = {a,b,c}; Data: a,a,b,a,a,c,a,a,b,a.
1) Static model: p
i
=1/10
H = -log
2
(1/10)=1.58 bits
2) Semi-adaptive method: p
1
=7/10; p
2
=2/10; p
3
=1/10;
H = -(0.7*log
2
0.7 + 0.2*log
2
0.2 + 0.1*log
2
0.1)=1.16 bits
9
3) Adaptive method: Example
S = {a,b,c}; Data: a,a,b,a,a,c,a,a,b,a.
Symbol 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
a 1 2 3 3 4 5 5 6 7 7
b 1 1 1 2 2 2 2 2 2 3
c 1 1 1 1 1 1 2 2 2 2
Pi 1/3 2/4 1/5 3/6 4/7 1/8 5/9 6/10 2/11 7/12
0.33
0.5 0.2 0.5 0.57 0.13 0.56 0.60 0.18 0.58
H 1.58 1.0 2.32 1.0 0.81 3.0 0.85 0.74 2.46 0.78
H=(1/10)(1.58+1.0+2.32+1.0+0.81+3.0+0.85+0.74+2.46+0.78)
=1.45 bits/char
1.16 < 1.45 < 1.58
S Ad. Ad. Static
10
Shannon-Fano Code: A top-down approach
1) Sort symbols according their probabilities:
p
1
≤ p
2
≤ … ≤ p
N
2) Recursively divide into parts, each with approx. the same
number of counts (probability)
11
Shannon-Fano Code: Example (1 step)
s
i
p
i
A - 15/39
B - 7/39
C - 6/39
D - 6/39
E - 5/39
A,B, C,D,E
15,7, 6,6,5
A,B
15+7 =22
C,D,E
6+6+5=17
0 1
12
Shannon-Fano Code: Example (2 step)
s
i
p
i
A - 15/39
B - 7/39
C - 6/39
D - 6/39
E - 5/39
A,B, C,D,E
15,7, 6,6,5
A,B
15+7 =22
C,D,E
6+6+5=17
A
15
B
7
C
6
D,E
6+5=11
0 1
0 01 1
13
Shannon-Fano Code: Example (3 step)
s
i
p
i
A - 15/39
B - 7/39
C - 6/39
D - 6/39
E - 5/39
A,B, C,D,E
15,7, 6,6,5
A,B
15+7 =22
C,D,E
6+6+5=17
A
15
B
7
C
6
D,E
6+5=11
D
6
E
5
0 1
0 1 0 1
0
1
14
Shannon-Fano Code: Example (Result)
Symbol p
i
-log
2
(p
i
) Code Subtotal
A 15/39 1.38 00 2*15
B 7/39 2.48 01 2*7
C 6/39 2.70 10 2*6
D 6/39 2.70 110 3*6
E 5/39 2.96 111 3*5
Total: 89 bits
0
1
0
11 0
10
A
C
B
D
E
89/39=2.28 bits
Binary tree
Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014
Giải pháp phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên .doc
1990-2002; đặc biệt ở các nước đang phát triển thì tỷ trọng của ngành du lịch
còn cao hơn, chiếm khoảng 60%.
+Góp phần cân bằng cán cân thanh toán quốc tế
Với sự gia tăng thu nhập ngoại tệ, du lịch có ảnh hưởng đáng kể đến cán cân
thanh toán của nhiều quốc gia. Trong xuất, nhập khẩu du lịch, một điều cần lưu ý
ở nước ta cũng như ở những nước đang phát triển khác là do nhu cầu bù đắp thiếu
hụt trong cán cân thanh toán quốc tế nên chính quyền một mặt kích thích xuất
khẩu du lịch (tạo khả năng thu hút khách du lịch quốc tế), mặt khác hạn chế cư
dân nước mình đi du lịch ở nước ngoài. Ngoài ra, bên cạnh việc cải thiện cán cân
thanh toán quốc tế, sự gia tăng xuất khẩu du lịch sẽ đồng thời làm tăng tổng sản
phẩm quốc dân của đất nước.
+Kích thích đầu tư
Nhìn chung, sự phát triển của bất kỳ ngành kinh tế nào cũng tạo ra cơ hội
đầu tư. Nhưng khác với các ngành khác, ngành du lịch có một cấu trúc độc đáo -
đó là ngành được tạo nên bởi rất nhiều doanh nghiệp nhỏ của các loại dịch vụ
khác nhau. Vì thế, sự đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng (hệ thống đường sá
công viên ) và đôi khi cả kiến trúc thượng tầng (nghệ thuật văn hóa dân
gian ) nhằm tạo điều kiện cho du lịch phát triển sẽ khích thích sự đầu tư rộng
rãi của các tầng lớp nhân dân và của các doanh nghiệp nhỏ.
+ Thúc đẩy sự phát triển của địa phương
Thường những vùng có khả năng thu hút khách du lịch là những vùng có
phong cảnh thiên nhiên đẹp nhưng nền kinh tế còn ít phát triển. Khi du lịch phát
triển, sự tiêu dùng của khách du lịch sẽ làm cho sự phân phối tiền tệ và cơ hội
tìm việc làm đồng đều hơn. Do vậy, du lịch là một trong những biện pháp hữu
hiệu để giúp tăng tốc những vùng có tốc độ phát triển kinh tế thấp.
+ Du lịch là phương tiện tuyên truyền và quảng cáo không mất tiền cho nước
chủ nhà
Khi khách đến du lịch, khách có điều kiện làm quen với một số mặt hàng ở
nước mà họ đến. Khi trở về đất nước của mình, khách bắt đầu tìm kiếm những
mặt hàng đó ở thị trường địa phương và nếu không tìm thấy, khách có thể yêu
cầu cơ quan ngoại thương nhập khẩu những mặt hàng ấy. Theo cách này, du lịch
quốc tế góp phần tuyên truyền cho nền sản xuất của nước du lịch chủ nhà.
+ Tạo nên hiệu quả kinh tế liên đới trong du lịch
Tiêu dùng của khách du lịch sẽ tạo nên thu nhập của các doanh nghiệp du
lịch. Các doanh nghiệp du lịch lại tiêu dùng các thu nhập của mình và lại tạo nên
thu nhập cho các ngành khác và cứ như thế nó tạo nên một chuỗi tiêu dùng - thu
nhập - tiêu dùng - thu nhập và chuỗi này tiếp tục cho đến khi có sự “rò rỉ” làm
chuỗi này tạ
-Ý nghĩa về mặt xã hội
+ Du lịch củng cố cộng đồng
Du lịch có thể tăng cường sức sống cho cộng đồng theo nhiều cách. Du lịch
tạo ra việc làm góp phần làm giảm sự di cư từ các vùng nông thôn lên thành thị.
Cũng nhờ những lợi ích do du lịch mang lại, các cộng đồng địa phương thể hiện
sự đoàn kết và quyết tâm của cộng đồng đối với các tài sản vốn có của mình
+ Phát triển du lịch đem lại lợi ích cho người dân địa phương, tạo cơ hội
việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp
Du lịch góp phần tăng cường cơ sở vật chất và dịch vụ cho cộng đồng, đem
lại mức sống cao hơn cho các địa điểm du lịch. Những lợi ích này bao gồm cả
việc cải tạo cơ sở hạ tầng, cải thiện điều kiện y tế, giao thông, xây dựng các cơ
sở thể thao và giải trí, các nhà hàng mới, đồng thời có được nhiều loại hàng hóa
và thức ăn với chất lượng cao hơn.
+ Du lịch nâng cao các giá trị văn hóa và truyền thống
Du lịch có thể đẩy mạnh việc bảo tồn và giao lưu các truyền thống văn hoá-
lịch sử, góp phần bảo tồn và quản lý bền vững các nguồn tài nguyên, bảo vệ các
di sản ở địa phương, phục hưng các nền văn hóa bản xứ, các nghề thủ công mỹ
nghệ
1.2.Xu hướng phat triển du lịch
1.2.1. Du lịch ngày càng được khẳng định là một hiện tượng kinh tế
-xã hội phổ biến
Trong thời kỳ hiện đại, số lượng khách du lịch ra nước ngoài tăng nhanh.
Những yếu tố được coi là những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến sự tăng
trưởng này là mức sống của người dân, giá cả các dịch vụ hạ hơn trong khi mức
thu nhập của họ lại tăng dần. Mặt khác cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch như lưu
trú, vận chuyển ngày càng thuận tiện và thoải mái hơn. Trong lúc đó, tại nơi ở
thường xuyên của du khách, mức độ ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng đã
trở thành một yếu tố quan trọng thúc đẩy họ đi du lịch.
Điều kiện sống của nhân dân là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch.
Nó được hình thành nhờ việc tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sinh
hoạt, nâng cao khẩu phần ăn uống, phát triển đầy đủ mạng lưới y tế, văn hoá,
giáo dục. Thu nhập tăng thì nhu cầu du lịch và chi phí cho du lịch tăng nhanh.
Thu nhập càng cao, càng nhiều gia đình đi du lịch.
Để có thể đi du lịch và thực hiện tiêu dùng du lịch, con người phải có điều
kiện vật chất đầy đủ. Đó là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu du lịch nói chung
thành nhu cầu du lịch (nhu cầu có khả năng chi trả). Do vậy phúc lợi vật chất
của nhân dân là điều kiện có ý nghĩa quyết định trong sự phát triển du lịch.
Nhiều công trình nghiên cứu đều cho thấy rằng khi thu nhập du lịch tăng lên thì
nhu cầu du lịch cũng gia tăng, hoặc những người có thu nhập cao thì đi du lịch
nhiều hơn.
Giáo dục là nhân tố kích thích du lịch. Trình độ giáo dục được nâng cao
thì nhu cầu du lịch sẽ tăng lên rõ rệt, sự ham hiểu biết và mong muốn tìm hiểu
cũng tăng lên và trong nhân dân, thói quen đi du lịch sẽ hình thành ngày càng rõ.
Ở Liên Xô cũ, người ta đã tổng kết được rằng trình độ văn hóa tăng lên thì số
người nghỉ tại nhà giảm đi. Cụ thể là từ 36% trong số những người có trình độ
sơ cấp xuống còn 28% ở những người có trình độ trung cấp và 7% ở những ngư-
ời có trình độ cao cấp. Những kết quả điều tra ở Mỹ cũng tương tự, những gia
đình mà người chủ gia đình có trình độ văn hóa càng cao thì tỷ lệ đi du lịch càng
lớn. Giáo dục có liên quan chặt chẽ với thu nhập và nghề nghiệp. Tuy còn có
một số trường hợp ngoại lệ, song về cơ bản là như vậy. Những người có trình độ
giáo dục cao sẽ có nghề nghiệp phù hợp với mức thu nhập cao.
Sự tập trung dân cư vào các thành phố, sự gia tăng dân số, tăng mật độ
dân cư, sự thay đổi cấu trúc, độ dài tuổi thọ đều có liên quan mật thiết với sự
phát triển du lịch.
Con người không thể đi du lịch nếu không có thời gian. Do vậy thời gian
rỗi là điều kiện tất yếu cần thiết để có thể tham gia vào hoạt động du lịch. Thời
gian rỗi của người dân ở từng nước được qui định trong luật lao động hoặc theo
hợp đồng lao động ký kết.
Thời gian rỗi có thể tăng lên nếu con người nếu sử dụng hợp lý quỹ thời
gian của mình và có chế độ lao động hợp lý. Thời gian rỗi còn tăng được bằng
cách giảm thời gian của các công việc khác ngoài giờ làm việc. Nếu như trước
đây (giống như ở các nước đang phát triển ngày nay) người ta phải dành trung
bình 1/3 đến 1/2 thời gian vào việc bếp núc và các việc vặt trong gia đình như
dọn dẹp, giặt giũ thì ở các nước công nghiệp công việc này chỉ chiếm 1 đến 2
giờ một ngày.
Xu hướng chung trong điều kiện phát triển hiện nay là giảm bớt thời gian
làm việc và tăng thời gian nhàn rỗi. Nhiều nước trên thế giới (trong đó có Việt
Nam) đã chuyển sang chế độ làm việc 5 ngày một tuần. Điều đó góp phần làm
cho số du khách gia tăng đáng kể.
Đô thị hóa tạo nên một lối sống đặc biệt - lối sống thành thị. Đô thị hóa
làm hình thành các thành phố lớn và các cụm thành phố. Quá trình đô thị hóa đã
thúc đẩy quá trình cải thiện điều kiện vật chất và văn hóa cho nhân dân, làm thay
đổi tâm lý và hành vi của con người. Khi nhận xét ý nghĩa tích cực của quá trình
đô thị hoá, Lê nin đã chỉ ra rằng sự di chuyển dân cư từ nông thôn vào thành phố
đã cuốn họ vào một cuộc sống xã hội hiện đại, “nâng cao trình độ và nhận thức
của họ, tạo cho họ những thói quen và nhu cầu văn hoá”.
Đồng thời, quá trình đô thị hóa còn dẫn tới sự thay đổi điều kiện tự nhiên,
tách con người ra khỏi môi trường tự nhiên bao quanh, làm thay đổi điều kiện
khí hậu, bầu khí quyển và những điều kiện tự nhiên khác.
Trong nhiều trường hợp, quá trình đô thị hóa làm giảm chất lượng môi
trường, có ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của con người. Mật độ dân số cao, lượng
thông tin quá nhiều, tần số tiếp xúc lớn, giao thông đi lại nhộn nhịp, ách tắc là
những nguyên nhân gây ra sự căng thẳng thần kinh.
1.2.2. Xã hội hóa thành phần du khách
Hàng loạt sự kiện chính trị, xã hội quan trọng đã xảy ra, sự phát triển
nhanh chóng của công nghiệp trong nửa đầu thế kỷ XX đã biến du lịch thành
một trong những lĩnh vực kinh doanh chính của thế giới và là một hoạt động giải
trí dành cho tầng lớp trung lưu. Sau thời gian hoạt động du lịch bị gián đoạn bởi
hai cuộc Thế chiến, khát vọng được đi du lịch dường như đã tăng lên mạnh mẽ
hơn trước. Người ta bỏ lại những đau khổ và lo âu của chiến tranh đằng sau họ
và khao khát đi du lịch. Chính nhờ đó mà du lịch lại phát triển nhanh chóng khi
những xung đột, mâu thuẫn lắng xuống và sự bình thường hóa được thiết lập
giữa các quốc gia.
Bước phát triển quan trọng nhất của du lịch trong thời đại công nghiệp là
ở lĩnh vực giao thông. Sự xuất hiện ô tô và máy bay cũng ảnh hưởng không nhỏ
tới hoạt động du lịch. Hai loại hình giao thông này đã trở thành phương tiện du
lịch được tầng lớp trung lưu, tầng lớp có số lượng đông đảo tín nhiệm. Tầng lớp
người này trong xã hội đều hội đủ điều kiện thời gian và tài chính cho hoạt động
du lịch Nhưng du lịch đường thủy vẫn có vẻ được chuộng hơn và thuận tiện
hơn. Vào thế kỷ XVIII – XIX, tàu thủy là phương tiện thích hợp với những
chuyến đi tới các vùng thuộc địa, đất mới như châu Phi, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu
Á, Viễn Đông để mở rộng thị trường tiêu thụ, các con đường buôn bán và mở
rộng thuộc địa. Trong khi các con tàu tung hoành khắp các biển, việc xuất hiện
các đầu máy hơi nước, đường ray đã làm phong phú thêm các loại hình giao
thông đường bộ.
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cơ cấu thành phần du khách có nhiều
thay đổi. Du lịch không còn là một đặc quyền của tầng lớp quý tộc, tầng lớp trên
của xã hội nữa. Xu thế quần chúng hoá thành phần du khách trở nên phổ biến ở
mọi nước. Và trong bối cảnh đó, du lịch đại chúng thời hiện đại đã tự khẳng
định mình. Lý do của hiện tượng này cũng là do mức sống của người dân được
nâng cao, giá cả dịch vụ và hàng hóa không đắt, các phương tiện giao thông, vận
tải lưu trú phong phú và thuận tiện. Ngoài ra còn phải kể đến chính sách của
chính quyền. Ở nhiều nơi, nhà nước có những chính sách khuyến khích người
dân đi du lịch do thấy rõ được ý nghĩa của hiện tượng này đối với sức khoẻ cộng
đồng. Ví dụ Chính phủ Nhật Bản đề ra chủ trương khuyến khích người dân đi du
lịch ra nước ngoài trong các kỳ nghỉ phép năm. Với chính sách đó, trong giai
đoạn đầu thập niên 90, hàng năm có từ 7-10 triệu người Nhật đi du lịch nước
ngoài và chi tiêu khoảng 7- 13 tỷ đô la Mỹ. Chính sách khuyến khích thể hiện cụ
thể ở việc giảm giá phương tiện đi lại, giảm giá lưu trú thông qua việc miễn
giảm thuế. Nhiều nơi còn tổ chức các chuyến du lịch bao cấp cho cán bộ, công
nhân viên, những người có thu nhập thấp và không có khả năng chi trả
1.2.3. Sự thay đổi về hướng và phân bố của luồng khách du lịch quốc tế
Sau khi người Anh chỉ ra giá trị du lịch của Địa Trung Hải với ba chữ S (Sea,
Sand, Sun), luồng khách Bắc - Nam là hướng đi du lịch chủ đạo quan sát được trên
thế giới. Người Anh, Hà Lan, Đức, Bỉ đổ về các miền bờ biển Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha, Pháp, Italia để tận hưởng cái ấm áp, mát mẻ và trong xanh của vùng này.
Như vậy bản chất của luồng khách Bắc - Nam là hướng dương và hướng thủy về các
vùng biển nhiệt đới. Theo thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), trung bình
cứ 8 người đi du lịch có một người đi nghỉ biển.
Ngày nay, tuy hướng Bắc - Nam vẫn là hướng hấp dẫn nhiều du khách
nhất, nhưng không còn giữ vai trò áp đảo như trước đây nữa. Đặc điểm của
luồng khách này là tập trung vào kỳ nghỉ hè và có số lượng tương đối tập trung.
Luồng khách thứ hai ngày nay cũng đã thịnh hành là hướng về các
vùng núi cao phủ tuyết được mệnh danh là vàng trắng (Lozato – Giotar,
1990). Nhu cầu về với thiên nhiên hoang sơ, nơi có không khí trong lành
hay muốn được thử thách bản thân và thể hiện mình sẽ có điều kiện đáp
ứng. Trượt tuyết, leo núi, săn bắn là các loại hình được nhiều người ưa
thích.
Một luồng khách tuy mới phát triển nhưng rất có triển vọng trong tương
lai gần là hướng chuyển động Tây - Đông. Theo các chuyên gia, thế kỷ XXI
được gọi là thế kỷ của châu Á - Thái Bình Dương. Trong những năm gần đây, số
du khách từ các nước đến khu vực này gia tăng đáng kể. Một số người đến đây
để tình cơ hội làm ăn, ký kết hợp đồng, nghiên cứu điều kiện đầu tư Một số
khác đến đây vì cảnh quan hay vì muốn tìm hiểu một nền văn hoá phương Đông
đầy bản sắc và phần nào kỳ bí đối với họ. Những công trình kiến trúc tuy không
đồ sộ nhưng ẩn chứa một giá trị tinh thần to lớn, những phong tục tập quán khác
lạ luôn góp phần tạo nên những sản phẩm du lịch hấp dẫn.
Bảng1.1.Thay đổi thị phần khách du lịch
Khu vực Năm(Triệu) Dự báo(triệu) Tốc độ tăng
trưởng-(%)
Thị phần(%)
1995 2010 2020 1995-2020 1995 2020
Thế giới 565,4 1.006,4 1.561,1 4,1 100 100
Châu Âu 338,4 527,3 717,0 3,0 59,8 45,9
Đông Á/Thái
Bình Dương
81,4 195,2 397,2 6,5 14,4 25,4
Nam Á 4,2 10,6 18,8 6,2 0,7 1,2
Nguồn:WTO
Ở châu Á, khu vực các nước Đông Nam Á là một trong những khu vực có
hoạt động du lịch sôi động nhất. Nếu lấy tỷ lệ du khách trên đầu người dân thì
Singapore có tỷ lệ vào hàng thứ nhất trên thế giới: 3/1. Malaysia và Thái Lan
cũng được coi là những cường quốc du lịch đón du khách quốc tế trong khu vực.
Bảng.1.2. Hiện trạng khách du lịch quốc tế đến các nước Đông Nam Á
giai đoạn 1995-2002
Đơn vị tính:lượt khách
Quốc gia 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2002
Malaysia 7.456.000 7.442.000 6.210.900 5.551.000 7.930.000 10.271.582 13.292.010
Thái Lan 6.950.000 7.201.000 7.221.300 7.765.000 8.650.000 9.508.623 10.799.067
Singapoe 6.422.000 6.608.000 6.531.000 5.630.000 6.960.000 7.691.399 7.567.110
Indonesia 4.323.000 4.475.000 5.185.200 4.900.000 4.730.000 5.064.217 4.913.835
Việt Nam 1.358.182 1.600.000 1.715.600 1.520.000 1.781.000 2.140.100 2.627.988
Philippin 1.760.000 2.054.000 2.222.500 2.149.000 2.212.000 1.928.037 1.932.677
Brunei 692.000 837.000 850.000 800.000 636.000 984.093 1.116.925
Lào 60.000 93.000 193.000 200.000 614.278 624.432 735.662
Cambodi
a
220.000 260.000 219.000 287.000 262.997 466.365 786.524
Mianma 117.000 172.000 189.000 201.000 199.000 270.000 217.212
Tổng 29.367.182 31.042.000 30.537.500 29.003.000 33.966.275 38.949.513 43.989.010
Nguồn:WTO,PATA,VNAT
1.2.4. Kéo dài thời vụ du lịch
Một trong những đặc điểm của hoạt động du lịch là mang tính thời vụ khá
rõ nét. Điều này có nghĩa là về bản chất, du lịch là một hoạt động bị lệ thuộc
nhiều vào thiên nhiên. Ngày nay với trình độ khoa học kỹ thuật và khả năng
kinh tế, con người đã và đang khắc phục được những hạn chế của thiên nhiên.
Do tính thời vụ là một yếu tố bất lợi trong kinh doanh cho nên người ta đã tìm
mọi cách để hạn chế ảnh hưởng của nó như mở rộng các loại hình du lịch, dịch
vụ. Việc kéo dài mùa du lịch đã góp phần tăng thêm lượng khách trong những
năm gần đây .
2.Khái niệm môi trường
2.1 Khái niệm môi trường
Môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến một cá
thể hay một sự kiện nào đó. Bất kỳ một cá thể hay một sự kiện náo cũng tồn tại
và diễn biến trong một môi trường nhất định. Tùy thuộc vào từng đối tượng nhất
định sẽ có môi trường tương thích. Có 3 loại môi trường : môi trường tự nhiên ,
moi trường nhân tạo và môi trường xã hội.
2.2Môi trường du lịch
Môi trường du lịch bao gồm tổng thể các nhân tố về tự nhiên, kinh tế-xã
hội và nhân văn mà trong đó hoạt động du lịch tồn tại và phát triển.
Hoạt động du lịch luôn có mối quan hệ mật thiết với môi trường tự nhiên, kinh
tế-xã hội và nhân văn, du lịch khai thác những giá trị, đặc tính của môi trường
mà nó tồn tại để phát triển, qua đó thay đổi những đặc tính của môi trường này.
Hoạt động du lịch luôn gắn liền với việc khai thác các tiềm năng
của tài nguyên môi trường tự nhiên như vẻ đẹp của quang cảnh biển, sông, núi,
các hang động, sa mạc, các hiện tượng tự nhiên khác. . .và các giá trị văn hóa
của môi trường nhân văn như đền chùa, am miếu, nhà thờ, thánh thất, tháp, lăng
tẩm, cung điện. . .Các giá trị văn hóa phi vật thể như không gian văn hóa Cồng
Chiêng Tây nguyên, Nhã nhạc Cung đình Huế, các loại hình văn hóa dân gian
(ca trù, hát quan họ, hát chầu văn. . .) nói chung là các giá trị của bản săc văn
hóa dân tộc. Bên cạnh việc khai thác tài nguyên để hoạt động, thì có các quy
hoạch, các dự án, công trình xây dựng nên những môi trường du lịch nhân tạo
trên cơ sở tích hợp các yếu tố của tự nhiên, giá trị văn hóa. . .Để tạo nên sự
phong phú đa dạng các loại hình du lịch là những công viên, khu du lịch, khu
vui chơi giải trí phức hợp. . . Bất cứ hoạt động nào của du
lịch cũng có tác động hai chiều đến môi trường của nó. Cho nên trong hoạt động
du lịch cần có những quy hoạch hợp lý, chính sách và dự án tối ưu nhất nhằm
giảm thiểu tác động đến môi trường.
2.3.Môi trường du lịch tự nhiên
Là một bộ phận cấu thành nên môi trường du lịch nói chung, bao gồm tập
hợp các đối tượng tự nhiên sống (hữu cơ ) và không sống ( vô cơ ). Trong đó có
những đối tượng tự nhiên chưa bị con người con người tác động và cả những đối
tượng tự nhiên đã bị con người tác động, cải tạo ở những mức độ khác nhau,
song vẫn bảo tồn được một phần hoặc toàn bộ các đặc tính tự phục hồi và phát
triển. Môi trường du lịch tự nhiên là toàn bộ không gian, lãnh thổ bao gồm các
nhân tố thiên nhiên như : đất, nước, không khí, hệ động vật trên cạn và dưới
nước… và các công trình kiến trúc cảnh quan thiên nhiên – nơi tiến hành các
hoạt động du lịch.
Môi trường du lịch tự nhiên được cấu thành một loạt các môi trường tự
nhiên bộ phận trong một hệ thống chung. Các môi trường bộ phận này tồn tại và
phát triển theo các quy luật của mình song có liên quan tác động mật thiết với
nhau bằng vô số các quan hệ nhiều chiều trong tương quan nhân quả và giải
quyết các mâu thuẫn về phát triển. Tuy nhiên vẫn đảm bảo bảo sự thống nhất nội
tại giữa các môi trường bộ phận trong một môi trường chung.
Môi trường tự nhiên có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển
và đa dạng hóa các hoạt động du lịch, tạo tiền đề cho sự phát triển các khu du
lịch. Ví dụ như các khu du lịch nổi tiếng như Phong Nha – Kẻ Bàng, Hạ Long,
Sa Pa, Đà Lạt … là những điểm du lịch dựa trên cơ sở môi trường tự nhiên với
những cảnh quan thiên nhiên đặc sắc. Bởi vì các thành phần cơ bản của môi
trường tự nhiên là những điều kiện cần thiết cho các hoạt động du lịch và có sức
hấp dẫn lớn đối với du khách, chính vì vậy mà “chúng”được trực tiếp khai thác
vào mục đích kinh doanh du lịch. các nhân tố, điều kiện cơ bản của môi trường
du lịch tự nhiên có tác động đáng kể nhất đối với du lịch có thể kể là vị trí địa lý,
môi trường địa chất - địa mạo, thời tiết và khí hậu, môi trường nước, thủy văn và
đa dạng sinh học.
2.3.1.Vị trí địa lý
Vị trí địa lý của các khu du lịch có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển
du lịch. Vị trí của các khu du lịch càng gần các thị trường tiềm năng thì càng
thuận tiện và thu hút nhiều du khách. Bởi vì nếu quãng cách này quá xa thì sẽ
ảnh hưởng tới sự chi trả của du khách cho vận chuyển, ảnh hưởng tới sức khỏe
cũng như mất thời gian tham quan của du khách do vận chuyển quá xa. Tuy
nhiên vẫn có những trường hợp ngoại lệ vì khoảng cách càng xa thì càng có sức
hấp dẫn cao đối với những du khách có khả năng chi trả cao, có tính hiếu kì vì
sự tương phản và khác lạ của nơi tham quan và nơi ở của du khách.
2.3.2. Môi trường địa chất:
còn cao hơn, chiếm khoảng 60%.
+Góp phần cân bằng cán cân thanh toán quốc tế
Với sự gia tăng thu nhập ngoại tệ, du lịch có ảnh hưởng đáng kể đến cán cân
thanh toán của nhiều quốc gia. Trong xuất, nhập khẩu du lịch, một điều cần lưu ý
ở nước ta cũng như ở những nước đang phát triển khác là do nhu cầu bù đắp thiếu
hụt trong cán cân thanh toán quốc tế nên chính quyền một mặt kích thích xuất
khẩu du lịch (tạo khả năng thu hút khách du lịch quốc tế), mặt khác hạn chế cư
dân nước mình đi du lịch ở nước ngoài. Ngoài ra, bên cạnh việc cải thiện cán cân
thanh toán quốc tế, sự gia tăng xuất khẩu du lịch sẽ đồng thời làm tăng tổng sản
phẩm quốc dân của đất nước.
+Kích thích đầu tư
Nhìn chung, sự phát triển của bất kỳ ngành kinh tế nào cũng tạo ra cơ hội
đầu tư. Nhưng khác với các ngành khác, ngành du lịch có một cấu trúc độc đáo -
đó là ngành được tạo nên bởi rất nhiều doanh nghiệp nhỏ của các loại dịch vụ
khác nhau. Vì thế, sự đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng (hệ thống đường sá
công viên ) và đôi khi cả kiến trúc thượng tầng (nghệ thuật văn hóa dân
gian ) nhằm tạo điều kiện cho du lịch phát triển sẽ khích thích sự đầu tư rộng
rãi của các tầng lớp nhân dân và của các doanh nghiệp nhỏ.
+ Thúc đẩy sự phát triển của địa phương
Thường những vùng có khả năng thu hút khách du lịch là những vùng có
phong cảnh thiên nhiên đẹp nhưng nền kinh tế còn ít phát triển. Khi du lịch phát
triển, sự tiêu dùng của khách du lịch sẽ làm cho sự phân phối tiền tệ và cơ hội
tìm việc làm đồng đều hơn. Do vậy, du lịch là một trong những biện pháp hữu
hiệu để giúp tăng tốc những vùng có tốc độ phát triển kinh tế thấp.
+ Du lịch là phương tiện tuyên truyền và quảng cáo không mất tiền cho nước
chủ nhà
Khi khách đến du lịch, khách có điều kiện làm quen với một số mặt hàng ở
nước mà họ đến. Khi trở về đất nước của mình, khách bắt đầu tìm kiếm những
mặt hàng đó ở thị trường địa phương và nếu không tìm thấy, khách có thể yêu
cầu cơ quan ngoại thương nhập khẩu những mặt hàng ấy. Theo cách này, du lịch
quốc tế góp phần tuyên truyền cho nền sản xuất của nước du lịch chủ nhà.
+ Tạo nên hiệu quả kinh tế liên đới trong du lịch
Tiêu dùng của khách du lịch sẽ tạo nên thu nhập của các doanh nghiệp du
lịch. Các doanh nghiệp du lịch lại tiêu dùng các thu nhập của mình và lại tạo nên
thu nhập cho các ngành khác và cứ như thế nó tạo nên một chuỗi tiêu dùng - thu
nhập - tiêu dùng - thu nhập và chuỗi này tiếp tục cho đến khi có sự “rò rỉ” làm
chuỗi này tạ
-Ý nghĩa về mặt xã hội
+ Du lịch củng cố cộng đồng
Du lịch có thể tăng cường sức sống cho cộng đồng theo nhiều cách. Du lịch
tạo ra việc làm góp phần làm giảm sự di cư từ các vùng nông thôn lên thành thị.
Cũng nhờ những lợi ích do du lịch mang lại, các cộng đồng địa phương thể hiện
sự đoàn kết và quyết tâm của cộng đồng đối với các tài sản vốn có của mình
+ Phát triển du lịch đem lại lợi ích cho người dân địa phương, tạo cơ hội
việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp
Du lịch góp phần tăng cường cơ sở vật chất và dịch vụ cho cộng đồng, đem
lại mức sống cao hơn cho các địa điểm du lịch. Những lợi ích này bao gồm cả
việc cải tạo cơ sở hạ tầng, cải thiện điều kiện y tế, giao thông, xây dựng các cơ
sở thể thao và giải trí, các nhà hàng mới, đồng thời có được nhiều loại hàng hóa
và thức ăn với chất lượng cao hơn.
+ Du lịch nâng cao các giá trị văn hóa và truyền thống
Du lịch có thể đẩy mạnh việc bảo tồn và giao lưu các truyền thống văn hoá-
lịch sử, góp phần bảo tồn và quản lý bền vững các nguồn tài nguyên, bảo vệ các
di sản ở địa phương, phục hưng các nền văn hóa bản xứ, các nghề thủ công mỹ
nghệ
1.2.Xu hướng phat triển du lịch
1.2.1. Du lịch ngày càng được khẳng định là một hiện tượng kinh tế
-xã hội phổ biến
Trong thời kỳ hiện đại, số lượng khách du lịch ra nước ngoài tăng nhanh.
Những yếu tố được coi là những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến sự tăng
trưởng này là mức sống của người dân, giá cả các dịch vụ hạ hơn trong khi mức
thu nhập của họ lại tăng dần. Mặt khác cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch như lưu
trú, vận chuyển ngày càng thuận tiện và thoải mái hơn. Trong lúc đó, tại nơi ở
thường xuyên của du khách, mức độ ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng đã
trở thành một yếu tố quan trọng thúc đẩy họ đi du lịch.
Điều kiện sống của nhân dân là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch.
Nó được hình thành nhờ việc tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sinh
hoạt, nâng cao khẩu phần ăn uống, phát triển đầy đủ mạng lưới y tế, văn hoá,
giáo dục. Thu nhập tăng thì nhu cầu du lịch và chi phí cho du lịch tăng nhanh.
Thu nhập càng cao, càng nhiều gia đình đi du lịch.
Để có thể đi du lịch và thực hiện tiêu dùng du lịch, con người phải có điều
kiện vật chất đầy đủ. Đó là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu du lịch nói chung
thành nhu cầu du lịch (nhu cầu có khả năng chi trả). Do vậy phúc lợi vật chất
của nhân dân là điều kiện có ý nghĩa quyết định trong sự phát triển du lịch.
Nhiều công trình nghiên cứu đều cho thấy rằng khi thu nhập du lịch tăng lên thì
nhu cầu du lịch cũng gia tăng, hoặc những người có thu nhập cao thì đi du lịch
nhiều hơn.
Giáo dục là nhân tố kích thích du lịch. Trình độ giáo dục được nâng cao
thì nhu cầu du lịch sẽ tăng lên rõ rệt, sự ham hiểu biết và mong muốn tìm hiểu
cũng tăng lên và trong nhân dân, thói quen đi du lịch sẽ hình thành ngày càng rõ.
Ở Liên Xô cũ, người ta đã tổng kết được rằng trình độ văn hóa tăng lên thì số
người nghỉ tại nhà giảm đi. Cụ thể là từ 36% trong số những người có trình độ
sơ cấp xuống còn 28% ở những người có trình độ trung cấp và 7% ở những ngư-
ời có trình độ cao cấp. Những kết quả điều tra ở Mỹ cũng tương tự, những gia
đình mà người chủ gia đình có trình độ văn hóa càng cao thì tỷ lệ đi du lịch càng
lớn. Giáo dục có liên quan chặt chẽ với thu nhập và nghề nghiệp. Tuy còn có
một số trường hợp ngoại lệ, song về cơ bản là như vậy. Những người có trình độ
giáo dục cao sẽ có nghề nghiệp phù hợp với mức thu nhập cao.
Sự tập trung dân cư vào các thành phố, sự gia tăng dân số, tăng mật độ
dân cư, sự thay đổi cấu trúc, độ dài tuổi thọ đều có liên quan mật thiết với sự
phát triển du lịch.
Con người không thể đi du lịch nếu không có thời gian. Do vậy thời gian
rỗi là điều kiện tất yếu cần thiết để có thể tham gia vào hoạt động du lịch. Thời
gian rỗi của người dân ở từng nước được qui định trong luật lao động hoặc theo
hợp đồng lao động ký kết.
Thời gian rỗi có thể tăng lên nếu con người nếu sử dụng hợp lý quỹ thời
gian của mình và có chế độ lao động hợp lý. Thời gian rỗi còn tăng được bằng
cách giảm thời gian của các công việc khác ngoài giờ làm việc. Nếu như trước
đây (giống như ở các nước đang phát triển ngày nay) người ta phải dành trung
bình 1/3 đến 1/2 thời gian vào việc bếp núc và các việc vặt trong gia đình như
dọn dẹp, giặt giũ thì ở các nước công nghiệp công việc này chỉ chiếm 1 đến 2
giờ một ngày.
Xu hướng chung trong điều kiện phát triển hiện nay là giảm bớt thời gian
làm việc và tăng thời gian nhàn rỗi. Nhiều nước trên thế giới (trong đó có Việt
Nam) đã chuyển sang chế độ làm việc 5 ngày một tuần. Điều đó góp phần làm
cho số du khách gia tăng đáng kể.
Đô thị hóa tạo nên một lối sống đặc biệt - lối sống thành thị. Đô thị hóa
làm hình thành các thành phố lớn và các cụm thành phố. Quá trình đô thị hóa đã
thúc đẩy quá trình cải thiện điều kiện vật chất và văn hóa cho nhân dân, làm thay
đổi tâm lý và hành vi của con người. Khi nhận xét ý nghĩa tích cực của quá trình
đô thị hoá, Lê nin đã chỉ ra rằng sự di chuyển dân cư từ nông thôn vào thành phố
đã cuốn họ vào một cuộc sống xã hội hiện đại, “nâng cao trình độ và nhận thức
của họ, tạo cho họ những thói quen và nhu cầu văn hoá”.
Đồng thời, quá trình đô thị hóa còn dẫn tới sự thay đổi điều kiện tự nhiên,
tách con người ra khỏi môi trường tự nhiên bao quanh, làm thay đổi điều kiện
khí hậu, bầu khí quyển và những điều kiện tự nhiên khác.
Trong nhiều trường hợp, quá trình đô thị hóa làm giảm chất lượng môi
trường, có ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của con người. Mật độ dân số cao, lượng
thông tin quá nhiều, tần số tiếp xúc lớn, giao thông đi lại nhộn nhịp, ách tắc là
những nguyên nhân gây ra sự căng thẳng thần kinh.
1.2.2. Xã hội hóa thành phần du khách
Hàng loạt sự kiện chính trị, xã hội quan trọng đã xảy ra, sự phát triển
nhanh chóng của công nghiệp trong nửa đầu thế kỷ XX đã biến du lịch thành
một trong những lĩnh vực kinh doanh chính của thế giới và là một hoạt động giải
trí dành cho tầng lớp trung lưu. Sau thời gian hoạt động du lịch bị gián đoạn bởi
hai cuộc Thế chiến, khát vọng được đi du lịch dường như đã tăng lên mạnh mẽ
hơn trước. Người ta bỏ lại những đau khổ và lo âu của chiến tranh đằng sau họ
và khao khát đi du lịch. Chính nhờ đó mà du lịch lại phát triển nhanh chóng khi
những xung đột, mâu thuẫn lắng xuống và sự bình thường hóa được thiết lập
giữa các quốc gia.
Bước phát triển quan trọng nhất của du lịch trong thời đại công nghiệp là
ở lĩnh vực giao thông. Sự xuất hiện ô tô và máy bay cũng ảnh hưởng không nhỏ
tới hoạt động du lịch. Hai loại hình giao thông này đã trở thành phương tiện du
lịch được tầng lớp trung lưu, tầng lớp có số lượng đông đảo tín nhiệm. Tầng lớp
người này trong xã hội đều hội đủ điều kiện thời gian và tài chính cho hoạt động
du lịch Nhưng du lịch đường thủy vẫn có vẻ được chuộng hơn và thuận tiện
hơn. Vào thế kỷ XVIII – XIX, tàu thủy là phương tiện thích hợp với những
chuyến đi tới các vùng thuộc địa, đất mới như châu Phi, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu
Á, Viễn Đông để mở rộng thị trường tiêu thụ, các con đường buôn bán và mở
rộng thuộc địa. Trong khi các con tàu tung hoành khắp các biển, việc xuất hiện
các đầu máy hơi nước, đường ray đã làm phong phú thêm các loại hình giao
thông đường bộ.
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cơ cấu thành phần du khách có nhiều
thay đổi. Du lịch không còn là một đặc quyền của tầng lớp quý tộc, tầng lớp trên
của xã hội nữa. Xu thế quần chúng hoá thành phần du khách trở nên phổ biến ở
mọi nước. Và trong bối cảnh đó, du lịch đại chúng thời hiện đại đã tự khẳng
định mình. Lý do của hiện tượng này cũng là do mức sống của người dân được
nâng cao, giá cả dịch vụ và hàng hóa không đắt, các phương tiện giao thông, vận
tải lưu trú phong phú và thuận tiện. Ngoài ra còn phải kể đến chính sách của
chính quyền. Ở nhiều nơi, nhà nước có những chính sách khuyến khích người
dân đi du lịch do thấy rõ được ý nghĩa của hiện tượng này đối với sức khoẻ cộng
đồng. Ví dụ Chính phủ Nhật Bản đề ra chủ trương khuyến khích người dân đi du
lịch ra nước ngoài trong các kỳ nghỉ phép năm. Với chính sách đó, trong giai
đoạn đầu thập niên 90, hàng năm có từ 7-10 triệu người Nhật đi du lịch nước
ngoài và chi tiêu khoảng 7- 13 tỷ đô la Mỹ. Chính sách khuyến khích thể hiện cụ
thể ở việc giảm giá phương tiện đi lại, giảm giá lưu trú thông qua việc miễn
giảm thuế. Nhiều nơi còn tổ chức các chuyến du lịch bao cấp cho cán bộ, công
nhân viên, những người có thu nhập thấp và không có khả năng chi trả
1.2.3. Sự thay đổi về hướng và phân bố của luồng khách du lịch quốc tế
Sau khi người Anh chỉ ra giá trị du lịch của Địa Trung Hải với ba chữ S (Sea,
Sand, Sun), luồng khách Bắc - Nam là hướng đi du lịch chủ đạo quan sát được trên
thế giới. Người Anh, Hà Lan, Đức, Bỉ đổ về các miền bờ biển Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha, Pháp, Italia để tận hưởng cái ấm áp, mát mẻ và trong xanh của vùng này.
Như vậy bản chất của luồng khách Bắc - Nam là hướng dương và hướng thủy về các
vùng biển nhiệt đới. Theo thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), trung bình
cứ 8 người đi du lịch có một người đi nghỉ biển.
Ngày nay, tuy hướng Bắc - Nam vẫn là hướng hấp dẫn nhiều du khách
nhất, nhưng không còn giữ vai trò áp đảo như trước đây nữa. Đặc điểm của
luồng khách này là tập trung vào kỳ nghỉ hè và có số lượng tương đối tập trung.
Luồng khách thứ hai ngày nay cũng đã thịnh hành là hướng về các
vùng núi cao phủ tuyết được mệnh danh là vàng trắng (Lozato – Giotar,
1990). Nhu cầu về với thiên nhiên hoang sơ, nơi có không khí trong lành
hay muốn được thử thách bản thân và thể hiện mình sẽ có điều kiện đáp
ứng. Trượt tuyết, leo núi, săn bắn là các loại hình được nhiều người ưa
thích.
Một luồng khách tuy mới phát triển nhưng rất có triển vọng trong tương
lai gần là hướng chuyển động Tây - Đông. Theo các chuyên gia, thế kỷ XXI
được gọi là thế kỷ của châu Á - Thái Bình Dương. Trong những năm gần đây, số
du khách từ các nước đến khu vực này gia tăng đáng kể. Một số người đến đây
để tình cơ hội làm ăn, ký kết hợp đồng, nghiên cứu điều kiện đầu tư Một số
khác đến đây vì cảnh quan hay vì muốn tìm hiểu một nền văn hoá phương Đông
đầy bản sắc và phần nào kỳ bí đối với họ. Những công trình kiến trúc tuy không
đồ sộ nhưng ẩn chứa một giá trị tinh thần to lớn, những phong tục tập quán khác
lạ luôn góp phần tạo nên những sản phẩm du lịch hấp dẫn.
Bảng1.1.Thay đổi thị phần khách du lịch
Khu vực Năm(Triệu) Dự báo(triệu) Tốc độ tăng
trưởng-(%)
Thị phần(%)
1995 2010 2020 1995-2020 1995 2020
Thế giới 565,4 1.006,4 1.561,1 4,1 100 100
Châu Âu 338,4 527,3 717,0 3,0 59,8 45,9
Đông Á/Thái
Bình Dương
81,4 195,2 397,2 6,5 14,4 25,4
Nam Á 4,2 10,6 18,8 6,2 0,7 1,2
Nguồn:WTO
Ở châu Á, khu vực các nước Đông Nam Á là một trong những khu vực có
hoạt động du lịch sôi động nhất. Nếu lấy tỷ lệ du khách trên đầu người dân thì
Singapore có tỷ lệ vào hàng thứ nhất trên thế giới: 3/1. Malaysia và Thái Lan
cũng được coi là những cường quốc du lịch đón du khách quốc tế trong khu vực.
Bảng.1.2. Hiện trạng khách du lịch quốc tế đến các nước Đông Nam Á
giai đoạn 1995-2002
Đơn vị tính:lượt khách
Quốc gia 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2002
Malaysia 7.456.000 7.442.000 6.210.900 5.551.000 7.930.000 10.271.582 13.292.010
Thái Lan 6.950.000 7.201.000 7.221.300 7.765.000 8.650.000 9.508.623 10.799.067
Singapoe 6.422.000 6.608.000 6.531.000 5.630.000 6.960.000 7.691.399 7.567.110
Indonesia 4.323.000 4.475.000 5.185.200 4.900.000 4.730.000 5.064.217 4.913.835
Việt Nam 1.358.182 1.600.000 1.715.600 1.520.000 1.781.000 2.140.100 2.627.988
Philippin 1.760.000 2.054.000 2.222.500 2.149.000 2.212.000 1.928.037 1.932.677
Brunei 692.000 837.000 850.000 800.000 636.000 984.093 1.116.925
Lào 60.000 93.000 193.000 200.000 614.278 624.432 735.662
Cambodi
a
220.000 260.000 219.000 287.000 262.997 466.365 786.524
Mianma 117.000 172.000 189.000 201.000 199.000 270.000 217.212
Tổng 29.367.182 31.042.000 30.537.500 29.003.000 33.966.275 38.949.513 43.989.010
Nguồn:WTO,PATA,VNAT
1.2.4. Kéo dài thời vụ du lịch
Một trong những đặc điểm của hoạt động du lịch là mang tính thời vụ khá
rõ nét. Điều này có nghĩa là về bản chất, du lịch là một hoạt động bị lệ thuộc
nhiều vào thiên nhiên. Ngày nay với trình độ khoa học kỹ thuật và khả năng
kinh tế, con người đã và đang khắc phục được những hạn chế của thiên nhiên.
Do tính thời vụ là một yếu tố bất lợi trong kinh doanh cho nên người ta đã tìm
mọi cách để hạn chế ảnh hưởng của nó như mở rộng các loại hình du lịch, dịch
vụ. Việc kéo dài mùa du lịch đã góp phần tăng thêm lượng khách trong những
năm gần đây .
2.Khái niệm môi trường
2.1 Khái niệm môi trường
Môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến một cá
thể hay một sự kiện nào đó. Bất kỳ một cá thể hay một sự kiện náo cũng tồn tại
và diễn biến trong một môi trường nhất định. Tùy thuộc vào từng đối tượng nhất
định sẽ có môi trường tương thích. Có 3 loại môi trường : môi trường tự nhiên ,
moi trường nhân tạo và môi trường xã hội.
2.2Môi trường du lịch
Môi trường du lịch bao gồm tổng thể các nhân tố về tự nhiên, kinh tế-xã
hội và nhân văn mà trong đó hoạt động du lịch tồn tại và phát triển.
Hoạt động du lịch luôn có mối quan hệ mật thiết với môi trường tự nhiên, kinh
tế-xã hội và nhân văn, du lịch khai thác những giá trị, đặc tính của môi trường
mà nó tồn tại để phát triển, qua đó thay đổi những đặc tính của môi trường này.
Hoạt động du lịch luôn gắn liền với việc khai thác các tiềm năng
của tài nguyên môi trường tự nhiên như vẻ đẹp của quang cảnh biển, sông, núi,
các hang động, sa mạc, các hiện tượng tự nhiên khác. . .và các giá trị văn hóa
của môi trường nhân văn như đền chùa, am miếu, nhà thờ, thánh thất, tháp, lăng
tẩm, cung điện. . .Các giá trị văn hóa phi vật thể như không gian văn hóa Cồng
Chiêng Tây nguyên, Nhã nhạc Cung đình Huế, các loại hình văn hóa dân gian
(ca trù, hát quan họ, hát chầu văn. . .) nói chung là các giá trị của bản săc văn
hóa dân tộc. Bên cạnh việc khai thác tài nguyên để hoạt động, thì có các quy
hoạch, các dự án, công trình xây dựng nên những môi trường du lịch nhân tạo
trên cơ sở tích hợp các yếu tố của tự nhiên, giá trị văn hóa. . .Để tạo nên sự
phong phú đa dạng các loại hình du lịch là những công viên, khu du lịch, khu
vui chơi giải trí phức hợp. . . Bất cứ hoạt động nào của du
lịch cũng có tác động hai chiều đến môi trường của nó. Cho nên trong hoạt động
du lịch cần có những quy hoạch hợp lý, chính sách và dự án tối ưu nhất nhằm
giảm thiểu tác động đến môi trường.
2.3.Môi trường du lịch tự nhiên
Là một bộ phận cấu thành nên môi trường du lịch nói chung, bao gồm tập
hợp các đối tượng tự nhiên sống (hữu cơ ) và không sống ( vô cơ ). Trong đó có
những đối tượng tự nhiên chưa bị con người con người tác động và cả những đối
tượng tự nhiên đã bị con người tác động, cải tạo ở những mức độ khác nhau,
song vẫn bảo tồn được một phần hoặc toàn bộ các đặc tính tự phục hồi và phát
triển. Môi trường du lịch tự nhiên là toàn bộ không gian, lãnh thổ bao gồm các
nhân tố thiên nhiên như : đất, nước, không khí, hệ động vật trên cạn và dưới
nước… và các công trình kiến trúc cảnh quan thiên nhiên – nơi tiến hành các
hoạt động du lịch.
Môi trường du lịch tự nhiên được cấu thành một loạt các môi trường tự
nhiên bộ phận trong một hệ thống chung. Các môi trường bộ phận này tồn tại và
phát triển theo các quy luật của mình song có liên quan tác động mật thiết với
nhau bằng vô số các quan hệ nhiều chiều trong tương quan nhân quả và giải
quyết các mâu thuẫn về phát triển. Tuy nhiên vẫn đảm bảo bảo sự thống nhất nội
tại giữa các môi trường bộ phận trong một môi trường chung.
Môi trường tự nhiên có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển
và đa dạng hóa các hoạt động du lịch, tạo tiền đề cho sự phát triển các khu du
lịch. Ví dụ như các khu du lịch nổi tiếng như Phong Nha – Kẻ Bàng, Hạ Long,
Sa Pa, Đà Lạt … là những điểm du lịch dựa trên cơ sở môi trường tự nhiên với
những cảnh quan thiên nhiên đặc sắc. Bởi vì các thành phần cơ bản của môi
trường tự nhiên là những điều kiện cần thiết cho các hoạt động du lịch và có sức
hấp dẫn lớn đối với du khách, chính vì vậy mà “chúng”được trực tiếp khai thác
vào mục đích kinh doanh du lịch. các nhân tố, điều kiện cơ bản của môi trường
du lịch tự nhiên có tác động đáng kể nhất đối với du lịch có thể kể là vị trí địa lý,
môi trường địa chất - địa mạo, thời tiết và khí hậu, môi trường nước, thủy văn và
đa dạng sinh học.
2.3.1.Vị trí địa lý
Vị trí địa lý của các khu du lịch có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển
du lịch. Vị trí của các khu du lịch càng gần các thị trường tiềm năng thì càng
thuận tiện và thu hút nhiều du khách. Bởi vì nếu quãng cách này quá xa thì sẽ
ảnh hưởng tới sự chi trả của du khách cho vận chuyển, ảnh hưởng tới sức khỏe
cũng như mất thời gian tham quan của du khách do vận chuyển quá xa. Tuy
nhiên vẫn có những trường hợp ngoại lệ vì khoảng cách càng xa thì càng có sức
hấp dẫn cao đối với những du khách có khả năng chi trả cao, có tính hiếu kì vì
sự tương phản và khác lạ của nơi tham quan và nơi ở của du khách.
2.3.2. Môi trường địa chất:
Tin học căn bản chương 4.2
5
5
HYPER TEXT
Vn bn Text
Hỡnh nh tnh Picture
Hỡnh nh ng Movie
Hot hỡnh Animation
m thanh Audio
HYPER LINK
Cựng trang
Trang khỏc trong cựng Web Site
n Web Site bt k
6
6
tên miền
tên máy của đơn vị.loại đơn vị.tên nước
tên máy của đơn vị : tự chọn và được chấp nhận
loại đơn vị
edu (educatipnal) - giáo dục
com (commercial) - thương mại
gov (government) - nhà nước
org (organization) - tổ chức khác
net (networking) - mạng
mil (military) - quân sự
tên nước (có thể không)
vn, us, ca, au, in,
Ví dụ : hcmute.edu.vn
(HoChiMinh University of Technical Education)
7
7
http://www.tờn min/tờn file
ACH WEBSITE
ACH WEBSITE
http://www.hcmute.edu.vn/gioithieu.htm
8
8
GI I TH CH CC THNH PH N
http://www.tên miền/tên file.html
http : hyper text transfer protocol
www : world wide web
tên file : tên trang của Web
html : hypertext markup language
http://www.hcmute.edu.vn/default.htm
9
9
TRèNH DUYT
TRèNH DUYT
WEB BROWSER
WEB BROWSER
10
10
L PHN MM Cể CHC NNG TRUY XUT
L PHN MM Cể CHC NNG TRUY XUT
WEBSISE, LY V V HIN TH TRANG TRấN
WEBSISE, LY V V HIN TH TRANG TRấN
MN HèNH CA NGI S DNG
MN HèNH CA NGI S DNG
Cể HAI TRèNH DUYT THNG S DNG :
Cể HAI TRèNH DUYT THNG S DNG :
Internet Explorer
Internet Explorer
ca MicroSoft
ca MicroSoft
NetScape Communicator
NetScape Communicator
ca NetScape
ca NetScape
11
11
WEB BROWSER
WEB BROWSER
4.11.2 INTERNET EXPLORER
12
12
Start/Programs/Internet Explorer
Start/Programs/Internet Explorer
Kớch ỳp Shortcut trờn Destop
Kớch ỳp Shortcut trờn Destop
KHI NG INTERNET EXPLORER
13
13
CA S TRèNH DUYT
CA S TRèNH DUYT
Trỡnh n
Thanh Cụng c
Hp a ch
Khung NI dung
Thanh Trng
thỏi
14
14
THANH CễNG C
THANH CễNG C
Kế toán TSCĐ ở các doanh nghiệp
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
1.6.2. Đánh giá TSCĐ theo giá trị còn lại :
Giá trị còn lại của TSCĐ là phần giá trị của TSCĐ cha chuyển dịch vào giá
trị của sản phẩm sản xuất ra và nó đợc tính nh sau :
Giá trị còn lại = Nguyên giá - Hao mòn luỹ kế
- Khi đánh giá lại TSCĐ, phải đánh giá lại cả chỉ tiêu nguyên giá và giá trị
còn lại của TSCĐ. Thông thờng giá trị còn lại của TSCĐ sau khi đánh giá lại đợc
điều chỉnh theo công thức sau :
Giá trị còn lại của TSCĐ
sau khi đánh giá lại
=
Giá trị còn lại của TSCĐ
đợc đánh giá lại
x
Giá trị đánh giá lại của TSCĐ
Nguyên giá của TSCĐ
Ii/ nội dung kế toán tscđ :
2.1. Kế toán chi tiết TSCĐ :
Nội dung chính của kế toán chi tiết TSCĐ bao gồm :
2.1.1. Đánh số TSCĐ :
Là việc quy định cho mỗi TSCĐ, một số hiệu tơng ứng theo những nguyên
tắc nhất định. Việc đánh số TSCĐ đợc tiến hành theo từng đối tợng ghi TSCĐ.
Mỗi đối tợng ghi TSCĐ không phân biệt đang sử dụng hay dự trữ đều phải có số
liệu riêng. Số hiệu của mỗi đối tợng ghi TSCĐ không thay đổi trong suốt thời gian
sử dụng hay bảo quản tại đơn vị.
2.1.2. Kế toán chi tiết TSCĐ :
Kế toán chi tiết TSCĐ ở phòng kế toán của Doanh nghiệp đợc thực hiện ở
thẻ hoặc sổ chi tiết TSCĐ.
- Căn cứ để ghi sổ hoặc thẻ chi tiết TSCĐ là các : Biên bản giao nhận TSCĐ
(Mẫu số 01), biên bản thanh lý TSCĐ (Mẫu số 02), biên bản giao nhận TSCĐ SCL
đã hoàn thành (Mẫu số 04), biên bản đánh giá lại TSCĐ (Mẫu số 05), bảng tính và
phân bổ khấu hao TSCĐ
2.2. Kế toán tổng hợp tăng, giảm TSCĐ.
2.2.1. Kế toán tổng hợp tăng TSCĐHH, và TSCĐVH.
Để hạch toán các nghiệp vụ liên quan đến TSCĐ HH, VH kế toán sử dụng
hai TK chính là :
TK 211 - TSCĐHH
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
TK 213 - TSCĐVH
- TK 211 : TSCĐHH Sử dụng để phản ánh số hiện có và tình hình tăng giảm
TSCĐHH, thuộc quyền sở hữu của Doanh nghiệp theo nguyên giá.
- TK213 : TSCĐVH : Sử dụng để phản ánh số hiện có và tình hình tăng
giảm của TSCĐ vô hình thuộc quyền sở hữu của Doanh nghiệp.
Để hạch toán tăng TSCĐHH và TSCĐVH thì ngoài hai TK là 211, 213 kế
toán còn sử dụng một số TK nh 111, 112, 133, 331, 341, 414, 711
* Phơng pháp hạch toán một số nghiệp vụ cụ thể :
+ Tài sản CĐHH, VH tăng do mua sắm trong nớc.
Căn cứ vào các chứng từ liên quan nh (Hoá đơn, phiếu chi, giấy báo nợ )
Lập biên bản giao nhận TSCĐ, từ biên bản giao nhận kế toán ghi sổ theo từng tr-
ờng hợp nh sau :
- Nếu thuế GTGT đầu vào đợc khấu trừ.
Nợ TK 211, 213 (Nguyên giá TSCĐ)
Nợ TK133
Có TK 111, 331, 341 (Theo giá thực tế)
- Nếu thuế GTGT không đợc khấu trừ hoặc không chịu thuế.
Nợ TK 211, 213 (Nguyên giá)
Nợ TK 111, 112, 331 (Giá TT)
Có TK 331, 334
+ Mua TSCĐ theo phơng thức trả chậm, trả góp.
- Khi mua TSCĐ về bàn giao cho bộ phận sử dụng.
Nợ TK 211, 213 (Nguyên giá theo giá mua trả ngay)
Nợ TK 133 (Thuế GTGT đợc khấu trừ)
Nợ TK 142, 242 (Số TT - Giá mua trả ngay - thuế GTGT)
Có TK 331 (Tổng số tiền phải thanh toán).
- Khi thanh toán tiền cho ngời bán.
Nợ TK 331
Có TK 111, 112
- Đồng thời phân bổ số lãi trả chậm vào chi phí tổ chức trong kỳ.
Nợ TK 635
Có TK 142, 242
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
Nếu GTGT không đợc khấu trừ hoặc TSCĐ mua về không thuộc diện
chịu thuế TSCĐ thì không phải ghi nợ TK 133.
+ Trờng hợp TSCĐ do đơn vị tự xây dựng, chế tạo :
- Khi TSCĐ đã đợc bàn giao và đa vào sử dụng căn cứ vào quyết toán đầu t
xây dựng kế toán ghi :
Nợ TK 211, 213 (Nguyên giá TSCĐ đợc xác định)
Nợ TK 152, 153 (Phần không đủ tiêu chuẩn là TSCĐ)
Có TK 241
+ Tài sản cố định đợc cấp, đợc điều chuyển từ đơn vị khác nhận góp vốn
lao động dùng cho kinh doanh kế toán ghi :
Nợ TK 211, 213
Có TK 411
+ Nhận lại TSCĐ đã góp vốn lao động kế toán ghi :
Nợ TK 211. 213
Có TK 138
Có TK 222
+ Nhận TSCĐ đợc biếu tặng kế toán ghi :
Nợ KT 211, 213
Có TK 711
2.2.2. Kế toán tổng hợp giảm TSCĐ.
* Trình tự kế toán một số nhiệm vụ chủ yếu.
+ Kế toán thanh lý TSCĐ HH và VH.
Căn cứ vào biên bản thanh lý TSCĐ kế toán ghi
Nợ TK 214 (Phần giá trị còn lại)
Nợ TK 811 (Phần giá trị còn lại)
Có TK 211, 213 (Nguyên giá)
- Phần thu nhập từ việc thanh lý TSCĐ nh thu hồi phế liệu, bán phế liệu kế
toán ghi :
Nợ TK 152, 153, 111, 112 (Giá trị thu hồi)
Có TK 717
Có TK 3331
- Các chi phí khác căn cứ vào chứng từ liên quan kế toán ghi :
Nợ TK 811
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
Nợ TK 133 (nếu có)
Có TK 111, 112, 141, 152, 241
+ Kế toán nhợng bán TSCĐ HH và VH.
- Căn cứ vào các chứng từ liên quan, kế toán ghi giảm nguyên giá TSCĐ,
nghi nhận giá trị còn lại nh một khoản chi phí khác.
Nợ TK 214 (Phần giá trị hao mòn)
Nợ TK 811 (Giá trị còn lại)
Có TK 211, 213 (Nguyên giá)
- Số tiền thu đợc từ nhợng bán đợc coi nh một khoản thu nhập khác.
Nợ TK 111, 112, 138 (Số thu từ nhợng bán)
Có TK 711
Có TK 3331
- Căn cứ vào các chứng từ liên quan phản ánh các chi phí liên quan đến hoạt
động nhợng bán.
Nợ TK 811
Nợ TK 1331
Có TK 111, 112, 331
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
Sơ đồ xử lý chứng từ và ghi sổ về giảm tscđ
Bộ phận liên quan Bộ phận kế toán Kế toán TSCĐ
Kế toán trởng và thủ
trởng
(1)
(4)
(3)
(5)
(2)
1. Các bộ phận liên quan lập chứng từ về giảm TSCĐ.
2. Chứng từ đợc chuyển cho kế toán Trởng và Thủ trởng ký.
3. Chứng từ đợc chuyển cho kế toán TSCĐ để ghi sổ.
4. Chứng từ đợc chuyển cho kế toán liên quan để ghi sổ.
5. Lu chứng từ.
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Biên bản thanh
lý TSCĐ
Hợp đồng
Liên doanh
Biên bản kiểm
kê, biên bản
đánh giá TSCĐ
Biên bản
thanh lý, liên
doanh, biên
bản kế toán ,
đánh giá
Ghi sổ
kế toán
Ghi sổ
kế toán
Ghi sổ
Kế toán
Biên bản
thanh lý,
liên doanh,
biên bản
kiểm kê
đánh giá
(ký)
Biên bản
thanh lý,
liên doanh,
biên bản
kiểm kê
đánh giá
(ký)
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
2.2.3. Kế toán hao mòn và khấu hao TSCĐ.
* Trong quá trình sử dụng TSCĐ bị hao mòn, hao mòn là sự giảm sút về giá
trị và giá trị sử dụng. Có hai loại hao mòn là : Hao mòn hữu hình và hao mòn
vô hình.
- Hao mòn hữu hình : Là sự giảm sút về giá trị và giá trị sử dụng khi tham
gia vào sản xuất kinh doanh do các nguyên nhân từ nhiên.
- Hao mòn vô hình : Là sự giảm sút về giá trị của TSCĐ do tiến bộ của hoa
học kỹ thuật gây ra.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh phần giá trị hao mòn của TSCĐ đợc
chuyển dịch vào giá trị của sản phẩm, dịch vụ Phần giá trị hao mòn đó gọi là
giá trị khấu hao TSCĐ.
* Hao mòn TSCĐ là hiện tợng khách quan còn khấu hao là biện pháp chủ
quan của con ngời nhằm thu hồi số vốn đã đầu t vào TSCĐ. Để làm tốt việc đó
việc tính khấu hao phải phù hợp với mức độ hao mòn của TSCĐ. Muốn vậy Doanh
nghiệp phải thực hiện các vấn đề sau :
- Xác định đúng phạm vi những TSCĐ phải tính khấu hao cụ thể.
+ Các TSCĐ của Doanh nghiệp có liên quan đến sản xuất kinh doanh đều
phải trích khấu hao.
+ Các TS nh TSCĐ không cần dùng, cha cần dùng, TSCĐ thuộc dự trữ Nhà
nớc giao cho Doanh nghiệp quản lý, TSCĐ đã khấu hao hết Thì không phải
trích khấu hao.
- Xác định thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ. Khi xác định cần xem xét
các yếu tố nh :
+ Mức độ sử dụng ớc tính với TSCĐ.
+ Mức độ hao mòn phụ thuộc vào : Số ca làm việc, bảo dỡng
+ Hao mòn vô hình trong quá trình sử dụng tài sản.
+ Các giới hạn pháp lý của việc giữ, sử dụng tài sản.
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
a. Tính mức khấu hao TSCĐ.
* Có nhiều cách tính mức khấu hao nhng cách tính đơn giản và phổ biến đ-
ợc áp dụng ở nớc ta hiện nay là khấu hao bình quân hay còn gọi khấu hao tuyến
tính cố định.
Mức tính khấu hao
Năm của TSCĐ
=
Giá trị phải khấu hao (N.G - Giá rị thu hồi)
Số năm sử dụng
= Nguyên giá x tỷ lệ khấu hao năm.
Tỷ lệ khấu hao =
Nguyên giá + Chi phí thanh lý - Giá trị thu hồi
Số năm sử dụng x Nguyên giá TSCĐ
x 100%
Mức trích
Khâu hao
=
Mức khấu hao năm
12 tháng
Thực tế ở các Doanh nghiệp mức khấu hao chỉ thay đổi khi có sự tăng, giảm
TSCĐ. Vì vậy để đơn giản ngời ta chỉ trích mức khấu hao của những TSCĐ tăng,
giảm trong tháng sau đó tính mức khấu hao phải trích trong tháng theo chính thức.
Khấu hao
TSCĐ phải trích
trong tháng
=
Số khấu hao
TSCĐ đã trích
tháng trớc
+
Khấu hao
TSCĐ tăng
trong tháng
-
Khấu hao
TSCĐ giảm
trong tháng
Cách tính này đợc thực hiện tròn tháng : Những TSCĐ tăng, giảm trong
tháng thì tháng sau mới trích hoặc thôi tính khấu hao.
b. Kế toán khấu hao và hao mòn TSCĐ.
Để hạch toán khấu hao TSCĐ kế toán sử dụng tài khoản 214 và TK 009
* Trình tự kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu :
- Định kỳ căn cứ vào bảng tính và phân bổ khấu hao kế toán ghi tăng chi
phí sản xuất kinh doanh và tăng giá trị hao mòn TSCĐ.
Nợ TK 627 Khấu hao cho sản xuất ở phân xởng.
Nợ TK 641 Khấu hao cho tiêu thụ sản phẩm.
Nợ TK 642 Khấu hao TSCĐ dùng chung toàn Doanh nghiệp.
Nợ TK 241 Mức khấu hao cho XDCB dở dang (2112)
Có TK 214 Mức khấu hao phải trích.
- Đồng thời ghi nợ TK 009
- Với các TSCĐ dùng cho hoạt động phúc lợi và sự nghiệp giá trị hao mòn
đợc phản ánh nh sau :
Nợ TK 4313
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
Nợ TK 466
Có TK 214
- Khi nộp vốn khấu hao TSCĐ cho cấp trên - kế toán đơn vị cấp dới ghi :
Nợ TK 411
Có TK 111, 112
Đồng thời ghi Có TK 009
- Khi nhập đợc vốn của cấp dới nộp lên kế toán cấp trên ghi :
Nợ TK 111, 112
Có TK 136 (1361)
- Trờng hợp vốn khấu hao đợc điều chuyển tạm thời (không phải là trả lại
vốn) kế toán ghi :
Nợ TK 136 (1368)
Có TK 111, 112
Đồng thời ghi có TK 009
- Khi cấp dới nhận vốn khấu hao TSCĐ của cấp trên để bổ sung vốn kinh
doanh. Kế toán cấp dới ghi :
Nợ TK 111, 112
Có TK 411
Đồng thời ghi có TK 009
2.2.4. Kế toán TSCĐ thuê tài chính :
Để phản ánh số hiện có và tình hình hoạt động của TSCĐ thuê tài chính kế
toán sử dụng TK 212.
* Đối với đơn vị thuê TSCĐ theo phơng thức tài chính dùng cho sản xuất
kinh doanh mà chịu thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ. Khi nhận TSCĐ kế
toán ghi :
Nợ TK 212 (Nguyên giá)
Có TK 342 (Nguyên gía - Số tiền đã trả trớc và trả kỳ này)
Có TK 315 (Số nợ phải trả kỳ này)
Có TK 242 (Chi phí phát sinh trớc khi nhận TSCĐ thuê)
Có TK 111, 112 (Chi phí khác phát sinh)
- Định kỳ nhận đợc hoá đơn dịch vụ cho thuê tài chính, trả nợ gốc, tiền lai,
thuê kế toán ghi :
Nợ TK 635 (Lãi thuê phải trả)
Nợ TK 315 (Nợ gốc phải trả)
Nợ TK 133 (Thuế đợc chuyển giao).
Có TK 242 (Trừ vào số tiền thuê trả trớc)
Có TK 111, 112 (Tổng giá thanh toán)
* Đối với đơn vị đi thuê TSCĐ chịu thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp
hoặc không chịu thuế khi nhận TSCĐ kế toán ghi :
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
Nợ TK 212 (Nguyên giá TSCĐ có thuế GTGT)
Có TK 342 (Nguyên giá TSCĐ có thuế GTGT - Số tiền đã trả
trớc và trả kỳ này)
Có TK 315 (Số nợ phải trả kỳ này)
Có TK 242 (Chi phí phát sinh trớc khi nhận TSCĐ)
Có TK 111, 112 : Chi phí khác.
- Khi xuất tiền trả nợ gốc, lãi, thuế kế toán ghi :
Nợ TK 635 (Tiền lãi thuê phải trả)
Nợ TK 315 (Nợ gốc phải trả)
Có TK 242 (Trừ vào số tiền thuê tháng trớc)
Có TK 111, 112 : Thanh toán.
- Cuối kỳ căn cứ vào hoạt động thuê tài chính xác định số nợ thuê T.C phải
trả trong niên độ.
Nợ TK 342 - Nợ dài hạn chuyển thành NNH.
Có TK 315 - Nợ dài hạn đến hạn trả.
- Cuối kỳ tính toán khấu hao TSCĐ thuê T.C tính vào chi phí sản xuất kinh doanh.
Nợ TK 627, 641, 642
Có TK 214 (2)
- Khi trả lại TSCĐ cho bên cho thuê, ghi :
Nợ TK 214 (2)
Có TK 212.
- Nếu Doanh nghiệp bỏ thêm tiền mua tài sản thuê.
Nợ TK211, 213 - Nguyên giá
Có TK 212
- Số tiền trả thêm khi mua TSCĐ thuê kế toán ghi :
Nợ TK 211, 213
Có TK 111, 112
- Đồng thời kết chuyển giá trị hao mòn.
Nợ TK 214 (2)
Có TK 2141, 2143
2.2.5. Kế toán sửa chữa TSCĐ.
Trong quá trình sử dụng TSCĐ bị hao mòn và h hỏng từng phần. Để TSCĐ
hoạt động bình thờng các Doanh nghiệp phải thờng xuyên bảo dỡng và sửa chữa
TSCĐ khi bị h hỏng.
* Nếu căn cứ vào quy mô sửa chữa thì công việc sửa chữa TSCĐ đợc chia
làm hai loại.
- Sửa chữa lớn : Là hoạt động sửa cha khi TSCĐ bị h hỏng nặng hoặc theo
yêu cầu kỹ thuật đảm bảo cho TSCĐ duy trì đợc năng lực hoạt động bình thờng.
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
Công việc sửa chữa lớn thờng dài, chi phí phát sinh nhiều do vậy phải lập kế
hoạch, dự toán theo từng chơng trình.
- Sửa chữa thờng xuyên : Là công việc bảo trì, bảo dỡng thời gian thờng
gắn, chi phí không lớn do vậy không phải lập dự toán.
a. Hạch toán sửa chữa thờng xuyên TSCĐ.
Chi phí sửa chữa thờng xuyên thờng thấp vì vậy hạch toán trực tiếp vào chi
phí sản xuất kinh doanh của bộ phận sử dụng TSCĐ. Khi chi phí phát sinh kế toán
ghi :
Nợ TK 627, 641, 642
Có TK 111, 112, 152 (Chi phí phát sinh)
Có TK 131 (Số tiền sữa chữa thuê ngoài).
- Nếu chi phí sửa chữa thờng xuyên lớn cần phân bổ cho nhiều kỳ. Kế toán
ghi :
Nợ TK 142, 242
Có TK 152, 153, 111
Đồng thời xác định mức phân bổ tính vào chi phí sản xuất kinh doanh kỳ này.
Nợ TK 627, 641, 642
Có TK 142, 242
b. Kế toán sửa chữa lớn TSCĐ (theo phơng thức tự làm)
Do yêu cầu quản lý kế toán tập hợp chi phí sửa chữa vào tài khoản 241
(2413)
- Căn cứ vào chứng từ liên quan kế toán ghi :
Nợ TK 241 (3)
Nợ TK 133
Có TK 152, 153, 111, 334, 338
- Nếu thực hiện trích trớc chi phí sửa chữa TSCĐ Doanh nghiệp phải lập kế
hoạch, dự toán vào chi phí sản xuất kinh doanh. Kế toán ghi :
Nợ TK 627, 641, 642
Có TK 335
- Khi công việc hoàn thành, căn cứ vào quyết toán đợc duyệt kế toán ghi:
Nợ TK 335
Có TK 241
- Nếu chi phí trích trớc nhỏ hơn tổng thực tế chơng trình sửa chữa TSCĐ.
Kế toán ghi.
Nợ TK 627, 641, 642
Có TK 2413
- Nếu chi phí trích trớc lớn hơn tổng thực tế thì chênh lệch đợc hạch toán
vào thu nhập khác.
Nợ TK 335
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Đại học QL& KD
1.6.2. Đánh giá TSCĐ theo giá trị còn lại :
Giá trị còn lại của TSCĐ là phần giá trị của TSCĐ cha chuyển dịch vào giá
trị của sản phẩm sản xuất ra và nó đợc tính nh sau :
Giá trị còn lại = Nguyên giá - Hao mòn luỹ kế
- Khi đánh giá lại TSCĐ, phải đánh giá lại cả chỉ tiêu nguyên giá và giá trị
còn lại của TSCĐ. Thông thờng giá trị còn lại của TSCĐ sau khi đánh giá lại đợc
điều chỉnh theo công thức sau :
Giá trị còn lại của TSCĐ
sau khi đánh giá lại
=
Giá trị còn lại của TSCĐ
đợc đánh giá lại
x
Giá trị đánh giá lại của TSCĐ
Nguyên giá của TSCĐ
Ii/ nội dung kế toán tscđ :
2.1. Kế toán chi tiết TSCĐ :
Nội dung chính của kế toán chi tiết TSCĐ bao gồm :
2.1.1. Đánh số TSCĐ :
Là việc quy định cho mỗi TSCĐ, một số hiệu tơng ứng theo những nguyên
tắc nhất định. Việc đánh số TSCĐ đợc tiến hành theo từng đối tợng ghi TSCĐ.
Mỗi đối tợng ghi TSCĐ không phân biệt đang sử dụng hay dự trữ đều phải có số
liệu riêng. Số hiệu của mỗi đối tợng ghi TSCĐ không thay đổi trong suốt thời gian
sử dụng hay bảo quản tại đơn vị.
2.1.2. Kế toán chi tiết TSCĐ :
Kế toán chi tiết TSCĐ ở phòng kế toán của Doanh nghiệp đợc thực hiện ở
thẻ hoặc sổ chi tiết TSCĐ.
- Căn cứ để ghi sổ hoặc thẻ chi tiết TSCĐ là các : Biên bản giao nhận TSCĐ
(Mẫu số 01), biên bản thanh lý TSCĐ (Mẫu số 02), biên bản giao nhận TSCĐ SCL
đã hoàn thành (Mẫu số 04), biên bản đánh giá lại TSCĐ (Mẫu số 05), bảng tính và
phân bổ khấu hao TSCĐ
2.2. Kế toán tổng hợp tăng, giảm TSCĐ.
2.2.1. Kế toán tổng hợp tăng TSCĐHH, và TSCĐVH.
Để hạch toán các nghiệp vụ liên quan đến TSCĐ HH, VH kế toán sử dụng
hai TK chính là :
TK 211 - TSCĐHH
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
TK 213 - TSCĐVH
- TK 211 : TSCĐHH Sử dụng để phản ánh số hiện có và tình hình tăng giảm
TSCĐHH, thuộc quyền sở hữu của Doanh nghiệp theo nguyên giá.
- TK213 : TSCĐVH : Sử dụng để phản ánh số hiện có và tình hình tăng
giảm của TSCĐ vô hình thuộc quyền sở hữu của Doanh nghiệp.
Để hạch toán tăng TSCĐHH và TSCĐVH thì ngoài hai TK là 211, 213 kế
toán còn sử dụng một số TK nh 111, 112, 133, 331, 341, 414, 711
* Phơng pháp hạch toán một số nghiệp vụ cụ thể :
+ Tài sản CĐHH, VH tăng do mua sắm trong nớc.
Căn cứ vào các chứng từ liên quan nh (Hoá đơn, phiếu chi, giấy báo nợ )
Lập biên bản giao nhận TSCĐ, từ biên bản giao nhận kế toán ghi sổ theo từng tr-
ờng hợp nh sau :
- Nếu thuế GTGT đầu vào đợc khấu trừ.
Nợ TK 211, 213 (Nguyên giá TSCĐ)
Nợ TK133
Có TK 111, 331, 341 (Theo giá thực tế)
- Nếu thuế GTGT không đợc khấu trừ hoặc không chịu thuế.
Nợ TK 211, 213 (Nguyên giá)
Nợ TK 111, 112, 331 (Giá TT)
Có TK 331, 334
+ Mua TSCĐ theo phơng thức trả chậm, trả góp.
- Khi mua TSCĐ về bàn giao cho bộ phận sử dụng.
Nợ TK 211, 213 (Nguyên giá theo giá mua trả ngay)
Nợ TK 133 (Thuế GTGT đợc khấu trừ)
Nợ TK 142, 242 (Số TT - Giá mua trả ngay - thuế GTGT)
Có TK 331 (Tổng số tiền phải thanh toán).
- Khi thanh toán tiền cho ngời bán.
Nợ TK 331
Có TK 111, 112
- Đồng thời phân bổ số lãi trả chậm vào chi phí tổ chức trong kỳ.
Nợ TK 635
Có TK 142, 242
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
Nếu GTGT không đợc khấu trừ hoặc TSCĐ mua về không thuộc diện
chịu thuế TSCĐ thì không phải ghi nợ TK 133.
+ Trờng hợp TSCĐ do đơn vị tự xây dựng, chế tạo :
- Khi TSCĐ đã đợc bàn giao và đa vào sử dụng căn cứ vào quyết toán đầu t
xây dựng kế toán ghi :
Nợ TK 211, 213 (Nguyên giá TSCĐ đợc xác định)
Nợ TK 152, 153 (Phần không đủ tiêu chuẩn là TSCĐ)
Có TK 241
+ Tài sản cố định đợc cấp, đợc điều chuyển từ đơn vị khác nhận góp vốn
lao động dùng cho kinh doanh kế toán ghi :
Nợ TK 211, 213
Có TK 411
+ Nhận lại TSCĐ đã góp vốn lao động kế toán ghi :
Nợ TK 211. 213
Có TK 138
Có TK 222
+ Nhận TSCĐ đợc biếu tặng kế toán ghi :
Nợ KT 211, 213
Có TK 711
2.2.2. Kế toán tổng hợp giảm TSCĐ.
* Trình tự kế toán một số nhiệm vụ chủ yếu.
+ Kế toán thanh lý TSCĐ HH và VH.
Căn cứ vào biên bản thanh lý TSCĐ kế toán ghi
Nợ TK 214 (Phần giá trị còn lại)
Nợ TK 811 (Phần giá trị còn lại)
Có TK 211, 213 (Nguyên giá)
- Phần thu nhập từ việc thanh lý TSCĐ nh thu hồi phế liệu, bán phế liệu kế
toán ghi :
Nợ TK 152, 153, 111, 112 (Giá trị thu hồi)
Có TK 717
Có TK 3331
- Các chi phí khác căn cứ vào chứng từ liên quan kế toán ghi :
Nợ TK 811
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
Nợ TK 133 (nếu có)
Có TK 111, 112, 141, 152, 241
+ Kế toán nhợng bán TSCĐ HH và VH.
- Căn cứ vào các chứng từ liên quan, kế toán ghi giảm nguyên giá TSCĐ,
nghi nhận giá trị còn lại nh một khoản chi phí khác.
Nợ TK 214 (Phần giá trị hao mòn)
Nợ TK 811 (Giá trị còn lại)
Có TK 211, 213 (Nguyên giá)
- Số tiền thu đợc từ nhợng bán đợc coi nh một khoản thu nhập khác.
Nợ TK 111, 112, 138 (Số thu từ nhợng bán)
Có TK 711
Có TK 3331
- Căn cứ vào các chứng từ liên quan phản ánh các chi phí liên quan đến hoạt
động nhợng bán.
Nợ TK 811
Nợ TK 1331
Có TK 111, 112, 331
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
Sơ đồ xử lý chứng từ và ghi sổ về giảm tscđ
Bộ phận liên quan Bộ phận kế toán Kế toán TSCĐ
Kế toán trởng và thủ
trởng
(1)
(4)
(3)
(5)
(2)
1. Các bộ phận liên quan lập chứng từ về giảm TSCĐ.
2. Chứng từ đợc chuyển cho kế toán Trởng và Thủ trởng ký.
3. Chứng từ đợc chuyển cho kế toán TSCĐ để ghi sổ.
4. Chứng từ đợc chuyển cho kế toán liên quan để ghi sổ.
5. Lu chứng từ.
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Biên bản thanh
lý TSCĐ
Hợp đồng
Liên doanh
Biên bản kiểm
kê, biên bản
đánh giá TSCĐ
Biên bản
thanh lý, liên
doanh, biên
bản kế toán ,
đánh giá
Ghi sổ
kế toán
Ghi sổ
kế toán
Ghi sổ
Kế toán
Biên bản
thanh lý,
liên doanh,
biên bản
kiểm kê
đánh giá
(ký)
Biên bản
thanh lý,
liên doanh,
biên bản
kiểm kê
đánh giá
(ký)
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
2.2.3. Kế toán hao mòn và khấu hao TSCĐ.
* Trong quá trình sử dụng TSCĐ bị hao mòn, hao mòn là sự giảm sút về giá
trị và giá trị sử dụng. Có hai loại hao mòn là : Hao mòn hữu hình và hao mòn
vô hình.
- Hao mòn hữu hình : Là sự giảm sút về giá trị và giá trị sử dụng khi tham
gia vào sản xuất kinh doanh do các nguyên nhân từ nhiên.
- Hao mòn vô hình : Là sự giảm sút về giá trị của TSCĐ do tiến bộ của hoa
học kỹ thuật gây ra.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh phần giá trị hao mòn của TSCĐ đợc
chuyển dịch vào giá trị của sản phẩm, dịch vụ Phần giá trị hao mòn đó gọi là
giá trị khấu hao TSCĐ.
* Hao mòn TSCĐ là hiện tợng khách quan còn khấu hao là biện pháp chủ
quan của con ngời nhằm thu hồi số vốn đã đầu t vào TSCĐ. Để làm tốt việc đó
việc tính khấu hao phải phù hợp với mức độ hao mòn của TSCĐ. Muốn vậy Doanh
nghiệp phải thực hiện các vấn đề sau :
- Xác định đúng phạm vi những TSCĐ phải tính khấu hao cụ thể.
+ Các TSCĐ của Doanh nghiệp có liên quan đến sản xuất kinh doanh đều
phải trích khấu hao.
+ Các TS nh TSCĐ không cần dùng, cha cần dùng, TSCĐ thuộc dự trữ Nhà
nớc giao cho Doanh nghiệp quản lý, TSCĐ đã khấu hao hết Thì không phải
trích khấu hao.
- Xác định thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ. Khi xác định cần xem xét
các yếu tố nh :
+ Mức độ sử dụng ớc tính với TSCĐ.
+ Mức độ hao mòn phụ thuộc vào : Số ca làm việc, bảo dỡng
+ Hao mòn vô hình trong quá trình sử dụng tài sản.
+ Các giới hạn pháp lý của việc giữ, sử dụng tài sản.
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
a. Tính mức khấu hao TSCĐ.
* Có nhiều cách tính mức khấu hao nhng cách tính đơn giản và phổ biến đ-
ợc áp dụng ở nớc ta hiện nay là khấu hao bình quân hay còn gọi khấu hao tuyến
tính cố định.
Mức tính khấu hao
Năm của TSCĐ
=
Giá trị phải khấu hao (N.G - Giá rị thu hồi)
Số năm sử dụng
= Nguyên giá x tỷ lệ khấu hao năm.
Tỷ lệ khấu hao =
Nguyên giá + Chi phí thanh lý - Giá trị thu hồi
Số năm sử dụng x Nguyên giá TSCĐ
x 100%
Mức trích
Khâu hao
=
Mức khấu hao năm
12 tháng
Thực tế ở các Doanh nghiệp mức khấu hao chỉ thay đổi khi có sự tăng, giảm
TSCĐ. Vì vậy để đơn giản ngời ta chỉ trích mức khấu hao của những TSCĐ tăng,
giảm trong tháng sau đó tính mức khấu hao phải trích trong tháng theo chính thức.
Khấu hao
TSCĐ phải trích
trong tháng
=
Số khấu hao
TSCĐ đã trích
tháng trớc
+
Khấu hao
TSCĐ tăng
trong tháng
-
Khấu hao
TSCĐ giảm
trong tháng
Cách tính này đợc thực hiện tròn tháng : Những TSCĐ tăng, giảm trong
tháng thì tháng sau mới trích hoặc thôi tính khấu hao.
b. Kế toán khấu hao và hao mòn TSCĐ.
Để hạch toán khấu hao TSCĐ kế toán sử dụng tài khoản 214 và TK 009
* Trình tự kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu :
- Định kỳ căn cứ vào bảng tính và phân bổ khấu hao kế toán ghi tăng chi
phí sản xuất kinh doanh và tăng giá trị hao mòn TSCĐ.
Nợ TK 627 Khấu hao cho sản xuất ở phân xởng.
Nợ TK 641 Khấu hao cho tiêu thụ sản phẩm.
Nợ TK 642 Khấu hao TSCĐ dùng chung toàn Doanh nghiệp.
Nợ TK 241 Mức khấu hao cho XDCB dở dang (2112)
Có TK 214 Mức khấu hao phải trích.
- Đồng thời ghi nợ TK 009
- Với các TSCĐ dùng cho hoạt động phúc lợi và sự nghiệp giá trị hao mòn
đợc phản ánh nh sau :
Nợ TK 4313
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
Nợ TK 466
Có TK 214
- Khi nộp vốn khấu hao TSCĐ cho cấp trên - kế toán đơn vị cấp dới ghi :
Nợ TK 411
Có TK 111, 112
Đồng thời ghi Có TK 009
- Khi nhập đợc vốn của cấp dới nộp lên kế toán cấp trên ghi :
Nợ TK 111, 112
Có TK 136 (1361)
- Trờng hợp vốn khấu hao đợc điều chuyển tạm thời (không phải là trả lại
vốn) kế toán ghi :
Nợ TK 136 (1368)
Có TK 111, 112
Đồng thời ghi có TK 009
- Khi cấp dới nhận vốn khấu hao TSCĐ của cấp trên để bổ sung vốn kinh
doanh. Kế toán cấp dới ghi :
Nợ TK 111, 112
Có TK 411
Đồng thời ghi có TK 009
2.2.4. Kế toán TSCĐ thuê tài chính :
Để phản ánh số hiện có và tình hình hoạt động của TSCĐ thuê tài chính kế
toán sử dụng TK 212.
* Đối với đơn vị thuê TSCĐ theo phơng thức tài chính dùng cho sản xuất
kinh doanh mà chịu thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ. Khi nhận TSCĐ kế
toán ghi :
Nợ TK 212 (Nguyên giá)
Có TK 342 (Nguyên gía - Số tiền đã trả trớc và trả kỳ này)
Có TK 315 (Số nợ phải trả kỳ này)
Có TK 242 (Chi phí phát sinh trớc khi nhận TSCĐ thuê)
Có TK 111, 112 (Chi phí khác phát sinh)
- Định kỳ nhận đợc hoá đơn dịch vụ cho thuê tài chính, trả nợ gốc, tiền lai,
thuê kế toán ghi :
Nợ TK 635 (Lãi thuê phải trả)
Nợ TK 315 (Nợ gốc phải trả)
Nợ TK 133 (Thuế đợc chuyển giao).
Có TK 242 (Trừ vào số tiền thuê trả trớc)
Có TK 111, 112 (Tổng giá thanh toán)
* Đối với đơn vị đi thuê TSCĐ chịu thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp
hoặc không chịu thuế khi nhận TSCĐ kế toán ghi :
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
Nợ TK 212 (Nguyên giá TSCĐ có thuế GTGT)
Có TK 342 (Nguyên giá TSCĐ có thuế GTGT - Số tiền đã trả
trớc và trả kỳ này)
Có TK 315 (Số nợ phải trả kỳ này)
Có TK 242 (Chi phí phát sinh trớc khi nhận TSCĐ)
Có TK 111, 112 : Chi phí khác.
- Khi xuất tiền trả nợ gốc, lãi, thuế kế toán ghi :
Nợ TK 635 (Tiền lãi thuê phải trả)
Nợ TK 315 (Nợ gốc phải trả)
Có TK 242 (Trừ vào số tiền thuê tháng trớc)
Có TK 111, 112 : Thanh toán.
- Cuối kỳ căn cứ vào hoạt động thuê tài chính xác định số nợ thuê T.C phải
trả trong niên độ.
Nợ TK 342 - Nợ dài hạn chuyển thành NNH.
Có TK 315 - Nợ dài hạn đến hạn trả.
- Cuối kỳ tính toán khấu hao TSCĐ thuê T.C tính vào chi phí sản xuất kinh doanh.
Nợ TK 627, 641, 642
Có TK 214 (2)
- Khi trả lại TSCĐ cho bên cho thuê, ghi :
Nợ TK 214 (2)
Có TK 212.
- Nếu Doanh nghiệp bỏ thêm tiền mua tài sản thuê.
Nợ TK211, 213 - Nguyên giá
Có TK 212
- Số tiền trả thêm khi mua TSCĐ thuê kế toán ghi :
Nợ TK 211, 213
Có TK 111, 112
- Đồng thời kết chuyển giá trị hao mòn.
Nợ TK 214 (2)
Có TK 2141, 2143
2.2.5. Kế toán sửa chữa TSCĐ.
Trong quá trình sử dụng TSCĐ bị hao mòn và h hỏng từng phần. Để TSCĐ
hoạt động bình thờng các Doanh nghiệp phải thờng xuyên bảo dỡng và sửa chữa
TSCĐ khi bị h hỏng.
* Nếu căn cứ vào quy mô sửa chữa thì công việc sửa chữa TSCĐ đợc chia
làm hai loại.
- Sửa chữa lớn : Là hoạt động sửa cha khi TSCĐ bị h hỏng nặng hoặc theo
yêu cầu kỹ thuật đảm bảo cho TSCĐ duy trì đợc năng lực hoạt động bình thờng.
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Luận Văn tốt nghiệp
Đại học QL& KD
Công việc sửa chữa lớn thờng dài, chi phí phát sinh nhiều do vậy phải lập kế
hoạch, dự toán theo từng chơng trình.
- Sửa chữa thờng xuyên : Là công việc bảo trì, bảo dỡng thời gian thờng
gắn, chi phí không lớn do vậy không phải lập dự toán.
a. Hạch toán sửa chữa thờng xuyên TSCĐ.
Chi phí sửa chữa thờng xuyên thờng thấp vì vậy hạch toán trực tiếp vào chi
phí sản xuất kinh doanh của bộ phận sử dụng TSCĐ. Khi chi phí phát sinh kế toán
ghi :
Nợ TK 627, 641, 642
Có TK 111, 112, 152 (Chi phí phát sinh)
Có TK 131 (Số tiền sữa chữa thuê ngoài).
- Nếu chi phí sửa chữa thờng xuyên lớn cần phân bổ cho nhiều kỳ. Kế toán
ghi :
Nợ TK 142, 242
Có TK 152, 153, 111
Đồng thời xác định mức phân bổ tính vào chi phí sản xuất kinh doanh kỳ này.
Nợ TK 627, 641, 642
Có TK 142, 242
b. Kế toán sửa chữa lớn TSCĐ (theo phơng thức tự làm)
Do yêu cầu quản lý kế toán tập hợp chi phí sửa chữa vào tài khoản 241
(2413)
- Căn cứ vào chứng từ liên quan kế toán ghi :
Nợ TK 241 (3)
Nợ TK 133
Có TK 152, 153, 111, 334, 338
- Nếu thực hiện trích trớc chi phí sửa chữa TSCĐ Doanh nghiệp phải lập kế
hoạch, dự toán vào chi phí sản xuất kinh doanh. Kế toán ghi :
Nợ TK 627, 641, 642
Có TK 335
- Khi công việc hoàn thành, căn cứ vào quyết toán đợc duyệt kế toán ghi:
Nợ TK 335
Có TK 241
- Nếu chi phí trích trớc nhỏ hơn tổng thực tế chơng trình sửa chữa TSCĐ.
Kế toán ghi.
Nợ TK 627, 641, 642
Có TK 2413
- Nếu chi phí trích trớc lớn hơn tổng thực tế thì chênh lệch đợc hạch toán
vào thu nhập khác.
Nợ TK 335
SV. Nguyễn Thị Hạnh Lớp 5A10
Đặc trưng của môđun cohen–macaulay dãy qua tính chất phân tích tham số
2 P tí t số trì
ột số ổ ề từ ó ế ị ý í ủ ó ề tr
ủ q tí t số ệ q ủ ó
ị ý t ể r
ị ý (R, m) ị tr M R
ữ s ó ệ ề s t
M
ọ ệ t số tốt ủ M ó tí t tí t số
ồ t ệ t số tốt ủ M ó tí t tí t số
r ò trì ố q ệ ữ
M ể tứ ủ rt t q ị
ý
ị ý D : D
0
D
1
. . . D
t
= M ọ ề ủ M
t D
i
= D
i
/D
i1
ớ ọ i = 1, . . . , t, D
0
= D
0
. ó ệ ề
s t
M
ớ t ỳ t số tốt q ủ M tứ
l(M/q
n+1
M) =
t
i=0
n + d
i
d
i
l(D
i
/qD
i
)
ú ớ ọ n 0
ồ t t số tốt q ủ M s tứ
l(M/q
n+1
M) =
t
i=0
n + d
i
d
i
l(D
i
/qD
i
)
ú ớ ọ n 0
P ố ù ủ sẽ ự í ụ s tỏ
ết q í ở tr
ế tứ ị
ụ í ủ ột số ế tứ ề số
ợ sử ụ tr ồ ị ĩ ệ ề
ổ ề ề ệ t số í q
ệ t số
r t sẽ r ệ ột số tí t ề ệ
t số ột ệ q trọ sốt q trì tự ệ
ị ĩ (R, m) ị tr M R
ữ s ớ dim M = d tử x = (x
1
, x
2
, . . . , x
d
)
x
i
m , i = 1, . . . , d t l
R
(M/x
M) < ợ ọ ột ệ
t số ủ M
sử (R, m) ị tr M R ữ
s ớ dim M = d ệ ề s ột số tí t
ủ ệ t số
ệ ề ệ ề x
1
, x
2
, . . . , x
t
m ó
dim(M/(x
1
, . . . , x
t
)M) dim M t.
tứ s r ỉ x
1
, x
2
, . . . , x
t
ột ủ ệ t số
ủ M
ệ ề ú ý ế x
1
, . . . , x
d
ệ t số ủ M tì
ớ ọ số
1
, . . . ,
d
t ó x
1
1
, . . . , x
d
d
ũ ệ t số
ủ M
ét
x m ó x ột tử ủ ệ t số ủ M ỉ
x p ớ ọ p Ass R s dimR/p = d
x
1
, . . . , x
d
m ị ở
x
i+1
p, p Ass R(M/(x
1
, . . . , x
i
)M), dim R/p = d i
ớ i = 0, . . . , d 1 ó {x
1
, . . . , x
d
} ệ t số ủ M
ế t t sẽ r ị ĩ ề rt ị ý
tứ rt ột ị ý ổ tế ó ứ ụ ề tr
số r t ỉ ị ĩ ị ý
ù s ứ
ị ĩ M ữ s tr ị
tr (R, m) ớ dim M = d q ị ĩ ủ M tứ
l(M/qM) < ó t ị ĩ ột số ọ r
F
q,M
(n) = l(M/q
n+1
M).
ệ ề ị ý R =
t0
R
t
tr R
0
rt ữ s
sử r R = R
0
[x
1
, . . . , x
r
] x
i
d
i
óF
q,M
(n) ột ữ
tỷ ủ ữ tồ t tứ P
q,M
(n) ớ ệ số ữ tỷ d s
ớ n ủ ớ tì
F
q,M
(n) = P
q,M
(n).
tồ t ữ số e
0
(q, M)(> 0), e
1
(q, M), . . . , e
d
(q, M) s
P
q,M
(n) = e
0
(q, M)
n + d
d
+e
1
(q, M)
n + d 1
d 1
+ã ã ã+e
d
(q, M).
ố e
0
(q, M) ợ ọ số ộ s q s ở ột ệ t
số x = {x
1
, x
2
, . . . , x
d
} t ý ệ e
0
(q, M) = e
(
x, M)
í q
r t sẽ trì ột số ệ ề í q ó
ệ ể ị ĩ ộ s ủ ột từ ó ế ị
ĩ ủ
ị ĩ R M R ột
tử x R ợ ọ M í q ế 0 :
M
x = 0 tứ xa = 0 ớ
a M, a = 0 ột tử x
1
, . . . , x
n
ủ R ợ ọ M
í q ế (x
1
, . . . , x
n
)M = M x
i
M/(x
1
, . . . , x
i1
)M í
q ớ ọ i = 1, . . . , n
ệ ề s tí t ủ í q
ệ ề ổ ề M R ó ệ
ề s t
x
1
, . . . , x
n
M í q
x
1
, . . . , x
i
M í q x
i+1
, . . . , x
n
M/(x
1
, . . . , x
i
)M í q ớ ọ 1 i n 1.
ệ ề ị ý ế x
1
, . . . , x
n
M í q
tì ớ ọ số
1
, . . . ,
n
t ó {x
1
1
, . . . , x
n
n
} ũ
M í q
ệ ề ị ý ế x
1
, . . . , x
n
M í q
tì ớ ọ ị ủ tử x
1
, . . . , x
n
t ợ ột M
í q
ệ ề ệ ề ế M R ữ s
tr ị tr x
1
, . . . , x
t
M í q tì
x
1
, . . . , x
t
ột ủ ệ t số ủ M
ớ ị ĩ ề í q tr é ế ệ ộ
s ủ ột ể từ ó ế ệ
ị ĩ I ủ R M R ữ
s s M = IM ó ộ ự ủ M í q ủ
I ọ ộ s ủ I ố ớ R M í ệ depth R(I, M)
ế (R, m) ị tr t ó tể í ệ ộ s ủ R
M depth
R
M ó tể depth M
ệ ề ệ ề (R, m) ị
tr M R ữ s ó ị s
depth M dim R/p dim M, p Ass M
tế t t ệ
ị ĩ M ợ ọ ế
M = 0 M = 0 depth M = dim M. R ọ
ế ó R
ệ ề s tr ủ
ệ ề ị ý ế M
tì ớ p Ass M t ó dim R/p = dim M
ế x
1
, . . . , x
d
m M í q tì M
ỉ M/(x
1
, . . . , x
d
)M
ệ ề ú ý ế M tì
ọ ệ t số ủ M M í q
ổ ề ổ ề N ủ M t
dim N < dim M M/N x
1
, . . . , x
i
ột ủ ệ t số ủ M ó (x
1
, . . . , x
i
)MN = (x
1
, . . . , x
i
)N
ứ ứ q t
ớ i = 1 t ứ x
1
M N = x
1
N ó x
1
N
x
1
M N t ứ x
1
M N x
1
N t y x
1
M N
ó y x
1
M y = x
1
m ớ m M s r y = x
1
m N
x
1
m + N = 0 + N tr M/N tứ x
1
(m + N) = 0 s r m + N = 0
m N ó y = x
1
m x
1
N
sử i > 1 ó (x
1
, . . . , x
i
)N (x
1
, . . . , x
i
)M N (1).
a (x
1
, . . . , x
i
)M N ó a = x
1
a
1
+ ã ã ã + x
i
a
i
tr ó a
j
M
ớ ọ j = 1, . . . , i ì a N a
i
(N + (x
1
, . . . , x
i1
)M) : x
i
t
ì x
1
, . . . , x
i
M/N í q
(N + (x
1
, . . . , x
i1
)M) :
M
x
i
= N + (x
1
, . . . , x
i1
)M
t ó a
i
N + (x
1
, . . . , x
i1
)M a
i
= x
1
b
1
+ ã ã ã + x
i1
b
i1
+ c tr
ó b
j
M j = 1, ã ã ã , i 1 c N r t tết q t ó
a x
i
c (x
1
, . . . , x
i1
)M N = (x
1
, . . . , x
i1
)N
ó a (x
1
, ã ã ã , x
i
)N (x
1
, . . . , x
i
)MN (x
1
, . . . , x
i
)N (2)
ừ t ó (x
1
, . . . , x
i
)M N = (x
1
, . . . , x
i
)N
r t r ị ĩ ột số tí t ề ọ
ề trớ t t ệ ọ
ề ủ
ị ĩ ột ọ ủ M ột ọ
F : M
0
M
1
. . . M
t
= M
tr ó M
i
ủ M ọ F ủ M
ợ ọ t ề ệ ề ế dim M
i1
< dim M
i
ớ ọ
i = 1, 2, . . . , t
ột ọ t ề ệ ề
D : D
0
D
1
. . . D
t
= M
ợ ọ ọ ề ủ M ế ó t 2 ề ệ s
D
0
= H
0
m
(M) ố ồ ề ị tứ 0 ủ M ứ
ớ tố m
D
i1
ớ t ủ D
i
s dim D
i1
< dim D
i
ớ
ọ i = 1, 2, . . . , t
ệ ề s sẽ t t sự tồ t ủ ọ ề
ệ ề ú ý ọ ề ủ M tồ t
t ữ ế D : D
0
D
1
. . . D
t
= M ọ ề ủ
M ớ dim D
i
= d
i
tì t ó
D
i
=
dim(R/p
j
)d
i+1
N
j
ớ ọ i = 1, 2, . . . , t 1 tr ó
0 =
n
j=1
N
j
tí s t ọ ủ 0 ủ M N
j
p
j
s ớ ọ j = 1, 2, . . . , n
ét N ủ M dim N < dim M ừ ị
ĩ ọ ề tồ t D
i
s N D
i
dim N = dim D
i
.
ó ế F : M
0
M
1
. . . M
t
= M ọ t ề ệ ề
tì ớ ỗ M
j
tồ t D
i
s M
j
D
i
dim M
j
= dim D
i
.
ệ t số tốt ột ệ q trọ ợ sử ụ tr
từ ị ĩ ề ọ ề tr t ó ị ĩ ề ệ t
số tốt s
ị ĩ F : M
0
M
1
. . . M
t
= M ọ t
ề ệ ề dim M
i
= d
i
ột ệ t số x
= {x
1
, x
2
, . . . , x
d
} ủ
M ợ ọ ệ t số tốt t ứ ớ ọ F ế
M
i
(x
d
i
+1
, x
d
i
+2
, . . . , x
d
)M = 0
ớ ọ i = 1, 2, . . . , t 1
ọ ệ t số tốt t ứ ớ ọ ề ợ ọ ệ t số tốt
ủ M
ét
ế ệ t số x = {x
1
, x
2
, . . . , x
d
} ệ t số tốt t ứ ớ
ọ F tì x
1
1
, . . . , x
d
d
ũ ệ t số tốt t ứ ớ ọ F ớ ọ
số
1
, . . . ,
d
.
ột ệ t số tốt ủ M ũ ệ t số tốt t ứ ớ t
ỳ ọ t t ề ệ ề ủ M
ổ ề ổ ề tồ t ệ t số tốt ủ M
ứ D : D
0
D
1
. . . D
t
= M ọ ề ủ M ớ
dim D
i
= d
i
ệ ề 1.3.2 t ó D
i
=
dim(R/p
j
)d
i+1
N
j
tr ó
0 =
n
j=1
N
j
sự tí s t ọ ủ 0 ủ M t
N
i
=
dim(R/p
j
)d
i
N
j
ó D
i
N
i
= 0 dim M/N
i
= d
i
ị ý
r tố sẽ tồ t ột ệ t số x = {x
1
, x
2
, . . . , x
d
} t
x
d
i
+1
, x
d
i
+2
, . . . , x
d
Ann M/N
i
r D
i
(x
d
i
+1
, x
d
i
+2
, . . . , x
d
)M
D
i
N
i
= 0.
ổ ề ổ ề x = {x
1
, x
2
, . . . , x
d
} ệ t số tốt ủ
M ó D
i
= 0 :
M
x
j
ớ ọ j = d
i
+ 1, . . . , d
i+1
, i = 0, 1, . . . , t 1
ó 0 :
M
x
1
0 :
M
x
2
. . . 0 :
M
x
d
ứ ó D
i
0 :
M
x
j
ớ ọ j d
i
t x D
i
ì D
i
ủ M x M r x
j
x (x
d
i
+1
, . . . , x
d
)M
j = d
i
+1, . . . , d ữ x
j
x D
i
s r x
j
x = 0 x 0 :
M
x
j
.
ò ứ r 0 :
M
x
j
D
i
ớ ọ d
i
< j < d
i+1
sử 0 :
M
x
j
D
i
s số ớ t s 0 :
M
x
j
D
s1
ó t s > i 0 :
M
x
j
= 0 :
D
s
x
j
ì d
s
d
i+1
j x
j
tử
t số ủ D
s
dim 0 :
M
x
j
< d
s
ó 0 :
M
x
j
D
s1
ề
ý ớ ệ ọ s 0 :
M
x
j
= D
i
r tế t t sẽ trì ệ ột tí t
tr ủ ợ sử ụ tr
rớ ết t ó ị ĩ s
ị ĩ M ợ ọ
ế ớ ọ ề D : D
0
D
1
. . . D
t
= M ỗ D
i
/D
i1
ớ i = 1, 2, . . . , t
ệ ề tế t ề ệ t ớ ị ĩ
ệ ề ị ý D : D
0
D
1
. . . D
t
= M
ọ ề ủ M ớ dim D
i
= d
i
x = (x
1
, x
2
, . . . , x
d
) ệ t số
tốt ủ M ó ệ ề s t
(1) M
(2) (x
1
, . . . , x
d
i
) í q tr M/D
i1
ớ i = 1, . . . , t
(3) depth M/D
i1
= d
i
ớ i = 1, . . . , t
ổ ề ệ q x = {x
1
, x
2
, . . . , x
d
} ệ t số
tốt ủ M ó (x
1
, . . . , x
d
)M D
i
=
(x
1
, . . . , x
d
i
)D
i
ớ ọ i = 1, . . . , t 1
ứ ó D
i
ủ M dim D
i
< M M
Truyển hình di động với công nghệ DVB-H
-3-
4.2 Mạng phát DVB-H 62
4.2.1 Các cell DVB-H 62
4.2.2 Mạng ñơn tần SFN (Single frequency networks) 63
4.2.3 Mạng ña tần MFN (Multifrequency networks) 65
5. CHƯƠNG V: GIẢI PHÁP TRUYỀN HÌNH CÔNG NGHỆ DVB-H
VÀ TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI DVB-H Ở VIỆT NAM 67
5.1 Giải pháp chung và tiềm năng phát triển DVB-H 67
5.1.1 Sự triển khai thị trường 67
5.1.2 Các bước tiếp theo của DVB-H 71
5.2 Tình hình triển khai DVB-H ở Việt Nam 72
5.2.1 Sơ lược tình hình triển khai 72
5.2.2 Mô hình triển khai dịch vụ truyền hình di ñộng chuẩn DVB-H
của VTC 77
5.3. So sánh giải pháp truyền hình DVB-H và một số giải pháp truyền hình
di ñộng số khác…………………………………………………… 80
6. CHƯƠNG VI: PHÂN TÍCH SO SÁNH GIẢI PHÁP DVB-H VÀ GIẢI
PHÁP DMB …………………………………………………………………89
6.1. Giới thiệu chung về DMB………………… ……… ……………. 89
6.2. Tổng quan công nghệ DMB ………………………………….……90
6.3. So sánh những ñặc tính cơ bản của DVB-H với DMB………….92
6.4. ðề xuất giải pháp hệ thống T-DMB …………………………… 99
Kết luận………………………………………………………………….….102
Phụ lục A : Sơ ñồ chức năng bộ ñiều chế DVB-T và ñiện thoại di ñộng
công nghệ DVB-H 104
Phụ lục B: Vị trí các sóng mang TPS 108
-4-
Phụ lục C: ðịnh dạng bit TPS trong mode 4K 110
Tài liệu tham khảo 116
-5-
Mục lục các hình
Hình 1.1 Truyền hình di ñộng dựa trên sóng truyền hình 16
Hình 1.2 Vị trí thực hiện chức năng của DVB-H 19
Hình 1.3 Cấu trúc nguyên lí của DVB-H 23
Hình 1.4 Các bổ sung cho DVB-H vào hệ thống DVB-T 24
Hình 2.1 Sơ lược cấu trúc khung MPE-FEC 27
Hình 2.2 Cấu trúc khung MPE-FEC 28
Hình 2.3 Sự bố trí trong bảng ADT 29
Hình 2.4 Sự bố trí trong bảng RSDT 30
Hình 2.5 Cách ñóng gói và truyền khung MPE-FEC 31
Hình 2.6 ðiều chỉnh tốc ñộ mã trong MPE-FEC 33
Hình 2.7 Truyền các dịch vụ song song trong DVB-T 35
Hình 2.8 Cách truyền các dịch vụ DVB-H trong time slicing 36
Hình 2.9 Cắt lát thời gian cho mỗi dịch vụ DVB-H 37
Hình 2.10 Mỗi header của section MPE (MPE-FEC) chứa
t chỉ thị thời
gian khi nào bắt ñầu cụm kế tiếp 37
Hình 2.11 Các thông số cụm 38
Hình 2.12 Burst Duration tối ña 39
Hình 2.13 Chuyển giao nhờ time-slicing 43
Hình 3.1 Phân bố sóng mang trong kĩ thuật COFDM 45
Hình 3.2 Ví dụ về số sóng mang của 2 chế ñộ 2K&8K với băng thông 8
MHz 47
Hình 3.3 Vị trí các loại sóng mang trong 1 symbol OFDM 49
Hình 3.4 Bộ ghép xen nội 50
Hình 3.5 Các luồng ngõ vào và ngõ ra của bộ ghép xen bit trong trường
hợp QPSK, 16-QAM và 64-QAM 51
Hình 3.6 Thuật toán tạo hàm hoán vị dùng cho mode 4K 56
-6-
Hình 3.7 Sơ lược về các bộ ghép xen dùng cho từng chế ñộ khác nhau (2K,
4K & 8K) 57
Hình 4.1 DVB-H với bộ ghép kênh dùng chung 61
Hình 4.2 Mạng DVB-H dùng chung bằng cách phân lớp 62
Hình 4.3 Các mạng ñơn tần trong DVB-H 63
Hình 4.4 Khoảng cách tương quan SFN. Tất cả các khoảng cách ñều dựa
trên ñiều chế 16-QAM với khoảng bảo vệ là ¼ trong COFDM 64
Hình 5.1 Biểu ñồ thể hiện số người xem các dịch vụ truyền hình di ñộng
qua các năm 67
Hình 5.2 Dự kiến số lượng máy thu TV Mobile trên thị trường trong các
năm 2006 ÷ 2010 (nguồn DVB-Scene 12/2005) 71
Hình 5.3 Mobile TV của S-Fone 73
Hình 5.4 Các mẫu ñiện thoại di ñộng DVB-H ñầu tiên 75
Hình 5.5 Nokia N92 76
Hình 5.6 Mô hình triển khai dịch vụ truyền hình di ñộng theo chuẩn DVB-
H 77
Hình A.1 Sơ ñồ khối chức năng của bộ ñiều chế DVB-T 100
Hình A.2. Cấu trúc thu của ðTDð DVB-H ………………………… 82
-7-
Mục lục các bảng
Bảng 3.1 Thông số các chế ñộ phát trong OFDM 48
Bảng 3.2 Cách hoán vị bit trong mode 4K 56
Bảng 3.3 ðịnh dạng các bit TPS 59
Bảng 3.4 Báo hiệu DVB-H 60
Bảng B.1 Vị trí sóng mang TPS trong symbol OFDM với mode 4K 104
Bảng B.2 Vị trí các sóng mang TPS trong symbol OFDM với mode 2K và
8K 105
Bảng C.1 Kiểu tín hiệu của số thứ tự khung 107
Bảng C.2 Kiểu chòm sao (kiểu ñiều chế) 107
Bảng C.3 Các giá trị
α
αα
α
ứng với các kiểu ñiều chế 108
Bảng C.4 Kiểu tín hiệu của mỗi tốc ñộ mã 109
Bảng C.5 Giá trị khoảng bảo vệ 109
Bảng C.6 Các chế ñộ truyền dẫn 110
Bảng C.7 Bảng liệt kê cell_id trên các bit TPS 111
-8-
-1-
LỜI MỞ ðẦU
TV ñược xem như 1 dịch vụ quan trọng trong các thiết bị di ñộng. Trong
quá khứ, Mobile TV thường ñược kết hợp với việc truyền dẫn broadcast. Tuy
nhiên kĩ thuật unicast lại có hiệu quả trong nhiều trường hợp, ñặc biệt là từ
khi các user di ñộng thích truy cập nội dung theo nhu cầu hơn là theo 1 lịch
trình cố ñịnh. Trong tài liệu này chúng ta sẽ tập trung vào các mạng di ñộng
3G ñược tối ưu hóa cho các dịch vụ unicast. Dựa trên 1 kiểu lưu lượng, chúng
ta sẽ bàn về các giới hạn dung lượng của các mạng 3G dùng trong phân bố
unicast của Mobile TV.
Các mạng di ñộng xuất hiện từ mạng ñiện thoại ñến mạng chuyển giao ña
phương tiện. Người ta mong ñợi rằng lưu lượng dữ liệu di ñộng sẽ vượt quá
lưu lượng thoại vào năm 2010. Ngày nay, các nhà ñiều hành mạng di ñộng ñã
và ñang ñưa ra các dịch vụ chạy suốt và tải ña phương tiện hấp dẫn. Mobile
TV là 1 trong các dịch vụ ñang triển khai hiện nay. Giống với TV mặt ñất,
Mobile TV thường kết hợp với kĩ thuật 1-nhiều hoặc broadcast. Từ năm 2004,
nhiều nhà ñiều hành mạng tế bào ñã triển khai các dịch vụ Mobile TV qua
mạng 2.5G và 3G có sẵn. Nhận thấy nhu cầu của người sử dụng ngày càng
cao với các dịch vụ Mobile TV, nhà cung cấp và nhà ñiều hành mạng ñã nhận
ra họ không thể ñợi sự xuất hiện của mạng broadcast 3G. Do ñó, họ bắt ñầu
triển khai các dịch vụ Mobile TV qua mạng 3G unicast dùng luồng chuyển
mạch gói (PSS) như kĩ thuật dịch vụ cơ sở. PSS ngày nay ñược hỗ trợ bởi tất
cả các nhà cung cấp thiết bị ñầu cuối và cung cấp các dịch vụ luồng chất
lượng khá tốt cho dịch vụ trực tiếp hoặc theo yêu cầu. Sự cải thiện chất lượng
xa hơn nữa ñược triển khai bằng việc giới thiệu bộ codec hình ảnh H.264
nâng cao và các sóng mang luồng với hỗ trợ QoS riêng biệt.
-2-
Trong tương lai, chất lượng và dung lượng trong mạng 3G sẽ cải thiện hơn
nữa với các kĩ thuật truy xuất tốc ñộ cao như HSDPA (High-Speed Downlink
Packet Access). Nó ñã ñược dự ñoán trước là trong tương lai gần, các dịch vụ
Mobile TV có thể ñược chuyển giao dùng PSS và sóng mang unicast với cùng
1 chất lượng như qua kĩ thuật broadcast phi tế bào riêng biệt giống DVB-H.
Trong kỷ nguyên truyền thông ña phương tiện, sự ra ñời và phát triển của
truyền hình di ñộng với những tính năng tân tiến của nó như khả năng cá nhân
hóa nội dung, khả năng tương tác trực tiếp chính là một xu thế tất yếu.
Tháng 7/2007 vừa qua, Cao ủy Viễn thông Châu Âu ñã kêu gọi các nước
thành viên của mình nhanh chóng triển khai chuẩn DVB-H với những ưu
ñiểm vượt trội và coi ñó là một chuẩn chung duy nhất cho truyền hình di
ñộng.
Trước ñó, tại Việt Nam, từ cuối năm 2006, khán giả ñã có thể dễ dàng tiếp
cận với dịch vụ truyền hình di ñộng dựa trên chuẩn DVB-H với những tiện
ích ñặc thù.
ðể hiểu rõ hơn về công nghệ truyền hình di ñộng theo chuẩn DVB-H,
trong khuôn khổ ñồ án em xin ñược giới thiệu về tiêu chuẩn công nghệ mới
mẻ nhưng ñầy tiềm năng này. Nội dung gồm 5 phần chính:
- Chương I: Chương này sẽ giới thiệu khái quát về hệ thống truyền hình
di ñộng nói chung cũng như hệ thống truyền hình di ñộng DVB-H nói riêng,
qua ñó nêu lên các chi tiết kĩ thuật mới triển khai từ DVB-T dùng riêng cho
DVB-H.
- Chương II: Trong phần này, 2 chi tiết kĩ thuật mới ñầu tiên sẽ ñược ñề
cập và phân tích chức năng chúng ñảm nhận trong hệ thống, 2 chi tiết này
cùng nằm trong 1 khối là IPE (Bộ ñóng gói IP – IP Encapsulator) ñó là time-
slicing và MPE-FEC.
-3-
- Chương III: Tiếp tục ñề cập và phân tích 3 chi tiết kĩ thuật mới nữa
thuộc khối ñiều chế DVB-T, ñó là có thêm 1 chế ñộ phát 4K song song với
2K và 8K ñã có sẵn trong DVB-T, bộ ghép xen in-depth và các bit báo hiệu
TPS.
- Chương IV: Chương này sẽ giới thiệu chung về các kiểu mạng DVB-H,
các cách truyền dẫn trong 1 hệ thống DVB-H thực tế.
- Chương V: Chương này sẽ tóm lược bằng các giải pháp kĩ thuật truyền
hình DVB-H trên thế giới và ở cả Việt Nam hiện nay, bên cạnh ñó sẽ ñi sâu
tìm hiểu thị trường DVB-H ở Việt Nam trong các dịch vụ do 2 nhà cung cấp
là S-Fone và VTC triển khai.
- Chương VI: Cuối cùng, phân tích và so sánh giải pháp DVB-H và giải
pháp DMB
- Kết luận: Các chuẩn truyền hình di ñộng trên thế giới và phân tích ưu –
nhược ñiểm của DVB-H. ðề xuất phát triển công nghệ truyền hình DMB.
-4-
Mục lục
Lời mở ñầu 1
Mục lục 4
Mục lục các hình 8
Mục lục các bảng 10
Từ viết tắt 11
1. CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỆ THỐNG DVB-H 13
1.1 Tổng quan hệ thống 13
1.1.1 Giới thiệu sơ lược về DVB-T 13
1.1.2 Hệ thống DVB-H 15
1.1.2.a Khái niệm về truyền hình di ñộng theo chuẩn DVB-H 17
1.1.2.b Những ưu việt của truyền hình di ñộng theo chuẩn DVB-H 20
1.2 Cấu trúc và nguyên lí cơ bản của công nghệ truyền hình di ñộng 22
1.3 Các yếu tố kĩ thuật chính 24
2. CHƯƠNG II: CÁC THÀNH PHẦN MỚI TRONG BỘ ðÓNG GÓI
IP: TIME SLICING VÀ MPE-FEC 26
2.1 Module MPE-FEC 26
2.1.1 Khung MPE-FEC 27
2.1.1.a ðịnh nghĩa khung MPE-FEC 27
2.1.1.b Bảng ADT 28
2.1.1.c Bảng RSDT 29
2.1.2 Cách truyền khung MPE-FEC 30
2.1.2.a Cách truyền các IP datagram trong ADT 30
4.2 Mạng phát DVB-H 62
4.2.1 Các cell DVB-H 62
4.2.2 Mạng ñơn tần SFN (Single frequency networks) 63
4.2.3 Mạng ña tần MFN (Multifrequency networks) 65
5. CHƯƠNG V: GIẢI PHÁP TRUYỀN HÌNH CÔNG NGHỆ DVB-H
VÀ TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI DVB-H Ở VIỆT NAM 67
5.1 Giải pháp chung và tiềm năng phát triển DVB-H 67
5.1.1 Sự triển khai thị trường 67
5.1.2 Các bước tiếp theo của DVB-H 71
5.2 Tình hình triển khai DVB-H ở Việt Nam 72
5.2.1 Sơ lược tình hình triển khai 72
5.2.2 Mô hình triển khai dịch vụ truyền hình di ñộng chuẩn DVB-H
của VTC 77
5.3. So sánh giải pháp truyền hình DVB-H và một số giải pháp truyền hình
di ñộng số khác…………………………………………………… 80
6. CHƯƠNG VI: PHÂN TÍCH SO SÁNH GIẢI PHÁP DVB-H VÀ GIẢI
PHÁP DMB …………………………………………………………………89
6.1. Giới thiệu chung về DMB………………… ……… ……………. 89
6.2. Tổng quan công nghệ DMB ………………………………….……90
6.3. So sánh những ñặc tính cơ bản của DVB-H với DMB………….92
6.4. ðề xuất giải pháp hệ thống T-DMB …………………………… 99
Kết luận………………………………………………………………….….102
Phụ lục A : Sơ ñồ chức năng bộ ñiều chế DVB-T và ñiện thoại di ñộng
công nghệ DVB-H 104
Phụ lục B: Vị trí các sóng mang TPS 108
-4-
Phụ lục C: ðịnh dạng bit TPS trong mode 4K 110
Tài liệu tham khảo 116
-5-
Mục lục các hình
Hình 1.1 Truyền hình di ñộng dựa trên sóng truyền hình 16
Hình 1.2 Vị trí thực hiện chức năng của DVB-H 19
Hình 1.3 Cấu trúc nguyên lí của DVB-H 23
Hình 1.4 Các bổ sung cho DVB-H vào hệ thống DVB-T 24
Hình 2.1 Sơ lược cấu trúc khung MPE-FEC 27
Hình 2.2 Cấu trúc khung MPE-FEC 28
Hình 2.3 Sự bố trí trong bảng ADT 29
Hình 2.4 Sự bố trí trong bảng RSDT 30
Hình 2.5 Cách ñóng gói và truyền khung MPE-FEC 31
Hình 2.6 ðiều chỉnh tốc ñộ mã trong MPE-FEC 33
Hình 2.7 Truyền các dịch vụ song song trong DVB-T 35
Hình 2.8 Cách truyền các dịch vụ DVB-H trong time slicing 36
Hình 2.9 Cắt lát thời gian cho mỗi dịch vụ DVB-H 37
Hình 2.10 Mỗi header của section MPE (MPE-FEC) chứa
t chỉ thị thời
gian khi nào bắt ñầu cụm kế tiếp 37
Hình 2.11 Các thông số cụm 38
Hình 2.12 Burst Duration tối ña 39
Hình 2.13 Chuyển giao nhờ time-slicing 43
Hình 3.1 Phân bố sóng mang trong kĩ thuật COFDM 45
Hình 3.2 Ví dụ về số sóng mang của 2 chế ñộ 2K&8K với băng thông 8
MHz 47
Hình 3.3 Vị trí các loại sóng mang trong 1 symbol OFDM 49
Hình 3.4 Bộ ghép xen nội 50
Hình 3.5 Các luồng ngõ vào và ngõ ra của bộ ghép xen bit trong trường
hợp QPSK, 16-QAM và 64-QAM 51
Hình 3.6 Thuật toán tạo hàm hoán vị dùng cho mode 4K 56
-6-
Hình 3.7 Sơ lược về các bộ ghép xen dùng cho từng chế ñộ khác nhau (2K,
4K & 8K) 57
Hình 4.1 DVB-H với bộ ghép kênh dùng chung 61
Hình 4.2 Mạng DVB-H dùng chung bằng cách phân lớp 62
Hình 4.3 Các mạng ñơn tần trong DVB-H 63
Hình 4.4 Khoảng cách tương quan SFN. Tất cả các khoảng cách ñều dựa
trên ñiều chế 16-QAM với khoảng bảo vệ là ¼ trong COFDM 64
Hình 5.1 Biểu ñồ thể hiện số người xem các dịch vụ truyền hình di ñộng
qua các năm 67
Hình 5.2 Dự kiến số lượng máy thu TV Mobile trên thị trường trong các
năm 2006 ÷ 2010 (nguồn DVB-Scene 12/2005) 71
Hình 5.3 Mobile TV của S-Fone 73
Hình 5.4 Các mẫu ñiện thoại di ñộng DVB-H ñầu tiên 75
Hình 5.5 Nokia N92 76
Hình 5.6 Mô hình triển khai dịch vụ truyền hình di ñộng theo chuẩn DVB-
H 77
Hình A.1 Sơ ñồ khối chức năng của bộ ñiều chế DVB-T 100
Hình A.2. Cấu trúc thu của ðTDð DVB-H ………………………… 82
-7-
Mục lục các bảng
Bảng 3.1 Thông số các chế ñộ phát trong OFDM 48
Bảng 3.2 Cách hoán vị bit trong mode 4K 56
Bảng 3.3 ðịnh dạng các bit TPS 59
Bảng 3.4 Báo hiệu DVB-H 60
Bảng B.1 Vị trí sóng mang TPS trong symbol OFDM với mode 4K 104
Bảng B.2 Vị trí các sóng mang TPS trong symbol OFDM với mode 2K và
8K 105
Bảng C.1 Kiểu tín hiệu của số thứ tự khung 107
Bảng C.2 Kiểu chòm sao (kiểu ñiều chế) 107
Bảng C.3 Các giá trị
α
αα
α
ứng với các kiểu ñiều chế 108
Bảng C.4 Kiểu tín hiệu của mỗi tốc ñộ mã 109
Bảng C.5 Giá trị khoảng bảo vệ 109
Bảng C.6 Các chế ñộ truyền dẫn 110
Bảng C.7 Bảng liệt kê cell_id trên các bit TPS 111
-8-
-1-
LỜI MỞ ðẦU
TV ñược xem như 1 dịch vụ quan trọng trong các thiết bị di ñộng. Trong
quá khứ, Mobile TV thường ñược kết hợp với việc truyền dẫn broadcast. Tuy
nhiên kĩ thuật unicast lại có hiệu quả trong nhiều trường hợp, ñặc biệt là từ
khi các user di ñộng thích truy cập nội dung theo nhu cầu hơn là theo 1 lịch
trình cố ñịnh. Trong tài liệu này chúng ta sẽ tập trung vào các mạng di ñộng
3G ñược tối ưu hóa cho các dịch vụ unicast. Dựa trên 1 kiểu lưu lượng, chúng
ta sẽ bàn về các giới hạn dung lượng của các mạng 3G dùng trong phân bố
unicast của Mobile TV.
Các mạng di ñộng xuất hiện từ mạng ñiện thoại ñến mạng chuyển giao ña
phương tiện. Người ta mong ñợi rằng lưu lượng dữ liệu di ñộng sẽ vượt quá
lưu lượng thoại vào năm 2010. Ngày nay, các nhà ñiều hành mạng di ñộng ñã
và ñang ñưa ra các dịch vụ chạy suốt và tải ña phương tiện hấp dẫn. Mobile
TV là 1 trong các dịch vụ ñang triển khai hiện nay. Giống với TV mặt ñất,
Mobile TV thường kết hợp với kĩ thuật 1-nhiều hoặc broadcast. Từ năm 2004,
nhiều nhà ñiều hành mạng tế bào ñã triển khai các dịch vụ Mobile TV qua
mạng 2.5G và 3G có sẵn. Nhận thấy nhu cầu của người sử dụng ngày càng
cao với các dịch vụ Mobile TV, nhà cung cấp và nhà ñiều hành mạng ñã nhận
ra họ không thể ñợi sự xuất hiện của mạng broadcast 3G. Do ñó, họ bắt ñầu
triển khai các dịch vụ Mobile TV qua mạng 3G unicast dùng luồng chuyển
mạch gói (PSS) như kĩ thuật dịch vụ cơ sở. PSS ngày nay ñược hỗ trợ bởi tất
cả các nhà cung cấp thiết bị ñầu cuối và cung cấp các dịch vụ luồng chất
lượng khá tốt cho dịch vụ trực tiếp hoặc theo yêu cầu. Sự cải thiện chất lượng
xa hơn nữa ñược triển khai bằng việc giới thiệu bộ codec hình ảnh H.264
nâng cao và các sóng mang luồng với hỗ trợ QoS riêng biệt.
-2-
Trong tương lai, chất lượng và dung lượng trong mạng 3G sẽ cải thiện hơn
nữa với các kĩ thuật truy xuất tốc ñộ cao như HSDPA (High-Speed Downlink
Packet Access). Nó ñã ñược dự ñoán trước là trong tương lai gần, các dịch vụ
Mobile TV có thể ñược chuyển giao dùng PSS và sóng mang unicast với cùng
1 chất lượng như qua kĩ thuật broadcast phi tế bào riêng biệt giống DVB-H.
Trong kỷ nguyên truyền thông ña phương tiện, sự ra ñời và phát triển của
truyền hình di ñộng với những tính năng tân tiến của nó như khả năng cá nhân
hóa nội dung, khả năng tương tác trực tiếp chính là một xu thế tất yếu.
Tháng 7/2007 vừa qua, Cao ủy Viễn thông Châu Âu ñã kêu gọi các nước
thành viên của mình nhanh chóng triển khai chuẩn DVB-H với những ưu
ñiểm vượt trội và coi ñó là một chuẩn chung duy nhất cho truyền hình di
ñộng.
Trước ñó, tại Việt Nam, từ cuối năm 2006, khán giả ñã có thể dễ dàng tiếp
cận với dịch vụ truyền hình di ñộng dựa trên chuẩn DVB-H với những tiện
ích ñặc thù.
ðể hiểu rõ hơn về công nghệ truyền hình di ñộng theo chuẩn DVB-H,
trong khuôn khổ ñồ án em xin ñược giới thiệu về tiêu chuẩn công nghệ mới
mẻ nhưng ñầy tiềm năng này. Nội dung gồm 5 phần chính:
- Chương I: Chương này sẽ giới thiệu khái quát về hệ thống truyền hình
di ñộng nói chung cũng như hệ thống truyền hình di ñộng DVB-H nói riêng,
qua ñó nêu lên các chi tiết kĩ thuật mới triển khai từ DVB-T dùng riêng cho
DVB-H.
- Chương II: Trong phần này, 2 chi tiết kĩ thuật mới ñầu tiên sẽ ñược ñề
cập và phân tích chức năng chúng ñảm nhận trong hệ thống, 2 chi tiết này
cùng nằm trong 1 khối là IPE (Bộ ñóng gói IP – IP Encapsulator) ñó là time-
slicing và MPE-FEC.
-3-
- Chương III: Tiếp tục ñề cập và phân tích 3 chi tiết kĩ thuật mới nữa
thuộc khối ñiều chế DVB-T, ñó là có thêm 1 chế ñộ phát 4K song song với
2K và 8K ñã có sẵn trong DVB-T, bộ ghép xen in-depth và các bit báo hiệu
TPS.
- Chương IV: Chương này sẽ giới thiệu chung về các kiểu mạng DVB-H,
các cách truyền dẫn trong 1 hệ thống DVB-H thực tế.
- Chương V: Chương này sẽ tóm lược bằng các giải pháp kĩ thuật truyền
hình DVB-H trên thế giới và ở cả Việt Nam hiện nay, bên cạnh ñó sẽ ñi sâu
tìm hiểu thị trường DVB-H ở Việt Nam trong các dịch vụ do 2 nhà cung cấp
là S-Fone và VTC triển khai.
- Chương VI: Cuối cùng, phân tích và so sánh giải pháp DVB-H và giải
pháp DMB
- Kết luận: Các chuẩn truyền hình di ñộng trên thế giới và phân tích ưu –
nhược ñiểm của DVB-H. ðề xuất phát triển công nghệ truyền hình DMB.
-4-
Mục lục
Lời mở ñầu 1
Mục lục 4
Mục lục các hình 8
Mục lục các bảng 10
Từ viết tắt 11
1. CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỆ THỐNG DVB-H 13
1.1 Tổng quan hệ thống 13
1.1.1 Giới thiệu sơ lược về DVB-T 13
1.1.2 Hệ thống DVB-H 15
1.1.2.a Khái niệm về truyền hình di ñộng theo chuẩn DVB-H 17
1.1.2.b Những ưu việt của truyền hình di ñộng theo chuẩn DVB-H 20
1.2 Cấu trúc và nguyên lí cơ bản của công nghệ truyền hình di ñộng 22
1.3 Các yếu tố kĩ thuật chính 24
2. CHƯƠNG II: CÁC THÀNH PHẦN MỚI TRONG BỘ ðÓNG GÓI
IP: TIME SLICING VÀ MPE-FEC 26
2.1 Module MPE-FEC 26
2.1.1 Khung MPE-FEC 27
2.1.1.a ðịnh nghĩa khung MPE-FEC 27
2.1.1.b Bảng ADT 28
2.1.1.c Bảng RSDT 29
2.1.2 Cách truyền khung MPE-FEC 30
2.1.2.a Cách truyền các IP datagram trong ADT 30
Bản sắc dân tộc trong văn xuôi triều ân.pdf
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.1.3. Tập quán sinh nở và lễ đầy tháng tuổi của đồng bào Tày,
Dao 44
2.1.4. Văn hoá Tày, Dao trong tổ chức đời sống cộng đồng 47
2.2. Phƣơng diện nghề thủ công và trang phục 54
2.2.1. Nghề thủ công 54
2.2.2. Vẻ đẹp trang phục 58
2.3. Văn hóa Tày, Dao qua y học dân tộc 63
2.4. Dấu ấn văn hóa Tày, Dao ở phƣơng diện đời sống văn nghệ,
tín ngƣỡng và tâm hồn 70
2.4.1. Đời sống văn nghệ 70
2.4.2. Đời sống tín ngưỡng 80
2.4.3. Đời sống tâm hồn 80
Chƣơng 3: MỘT SỐ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN BẢN
SẮC DÂN TỘC TRONG VĂN XUÔI TRIỀU ÂN 85
3.1. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện 85
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật 97
3.2.1. Đặc tả ngoại hình nhân vật 97
3.2.2. Xây đựng nhân vật đa diện 101
3.3. Nghệ thuật sử dụng ngôn từ 106
3.3.1. Ngôn ngữ mang đậm dấu ấn miền núi 107
3.3.2. Ngôn ngữ đậm chất thơ 111
PHẦN KẾT LUẬN 115
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ những năm 50, 60 của thế kỷ XX, lớp nhà văn là người dân tộc thiểu
số đã xuất hiện và trưởng thành với nhiều tác phẩm phản ánh hiện thực
cuộc sống ở vùng quê của họ. Một trong các tác giả tiêu biểu đó là nhà văn
Triều Ân. Ông là một trong mười sáu nhà văn dân tộc thiểu số đầu tiên có
mặt trong cuốn Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (Nxb Văn
hóa dân tộc – 1988). Gần 50 năm cầm bút, sáng tác và nghiên cứu trên
nhiều lĩnh vực và ở lĩnh vực nào Triều Ân cũng có những tác phẩm để lại
dấu ấn rõ nét trong đời sống văn học và văn hóa dân tộc ở các giai đoạn
lịch sử khác nhau. Ông bắt đầu con đường văn học của mình bằng thơ và
đoạt giải nhì cuộc thi thơ 1960 – 1961 do Tạp chí Văn nghệ tổ chức với bài
thơ Quê ta anh biết chăng?. Bên cạnh thơ, Triều Ân còn viết văn xuôi.
Truyện ngắn Bên bờ suối tiên của ông đã được giải nhì cuộc thi truyện
ngắn của Tạp chí Văn nghệ Việt Bắc (1962). Đến nay, ngoài 8 tập thơ tiếng
Việt và 1 tập thơ tiếng Tày, Triều Ân đã xuất bản năm tập truyện ngắn:
Tiếng hát rừng xa (Nxb Văn học – H.1969), Tiếng khèn A Pá (Nxb Tác
phẩm mới – H.1980), Như cánh chim trời (Nxb Kim Đồng – 1982),
Đường qua đèo mây (Nxb Văn nghệ Cao Bằng – 1988) và Xứ sương mù
(Nxb Văn học – H.2000). Vào thập niên chín mươi của thế kỉ XX, Triều
Ân lại tìm đến thể loại tiểu thuyết, và chỉ trong vòng mười năm ông đã cho
ra mắt ba cuốn tiểu thuyết: Nắng vàng bản Dao (1992), Nơi ấy biên thùy
(1994), Dặm ngàn rong ruổi (2000). Những sáng tác tiêu biểu của ông đã
được tập hợp trong cuốn Tuyển tập thơ văn Triều Ân (Nxb Văn học –
H.2006). Với những hoạt động sáng tạo và nghiên cứu văn học phong phú
trên nhiều phương diện, có thể nói Triều Ân là một trí thức, một nhà nghiên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
cứu, một văn nghệ sỹ tiêu biểu của văn học hiện đại các dân tộc thiểu số
nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung.
Trong quá trình nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại, một số nhà
nghiên cứu, phê bình văn học đã quan tâm đến mảng văn học dân tộc và
miền núi. Song các nhà nghiên cứu, phê bình văn học chủ yếu tập trung vào
sáng tác của những nhà văn người Kinh mà tên tuổi đã nổi tiếng, quen
thuộc trong đời sống văn học viết về đề tài miền núi. Trong khi đó, một bộ
phận không nhỏ các nhà văn người dân tộc thiểu số với những thành tựu và
cống hiến xứng đáng cho nền văn học nước nhà, đặc biệt với văn học thiểu
số, lại ít được nghiên cứu, giới thiệu rộng rãi. Do vậy việc tìm hiểu nghiên
cứu về văn học miền núi, nhất là với những sáng tác do chính các tác giả
người miền núi viết trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc gia và quốc tế
hiện nay là việc làm có ý nghĩa cấp thiết. Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài:
Bản sắc dân tộc trong văn xuôi Triều Ân.
2. Lịch sử vấn đề
Trong những năm gần đây, văn học dân tộc và miền núi đã được giới
nghiên cứu, phê bình quan tâm chú ý. Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn
học đã có những ý kiến nhận xét, đánh giá về các tác giả văn học hiện đại
người dân tộc thiểu số và mảng văn học miền núi. Trong đó, có khá nhiều
công trình, bài viết đề cập đến sự nghiệp sáng tác cùng những đóng góp của
nhà văn Triều Ân với văn học dân tộc và miền núi nói riêng và văn học
đương đại nói chung. Đặc biệt ở cuộc Hội thảo khoa học về nhà văn
Hoàng Triều Ân được tổ chức tại Cao Bằng ngày 12 tháng 11 năm 2007,
giới nghiên cứu, phê bình văn học đã có những bản tham luận đánh giá xác
đáng về sự nghiệp sáng tác của ông. PGS – TS Đỗ Thị Hảo đã viết: “Thật
khó có thể xếp Hoàng Triều Ân hay gọi ông là “nhà” gì? Vì tác phẩm của
ông quá nhiều; lại cực kỳ phong phú về thể loại” [50, tr.171]. PGS – TS Lã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
Nhâm Thìn lại xác định cụ thể: “Nói đến Hoàng Triều Ân là nói đến “ba
nhà” trong một nhà: nhà văn, nhà thơ, nhà sưu tầm, nghiên cứu văn học. Ở
“nhà” nào Hoàng Triều Ân cũng có những đóng góp, làm phong phú, làm
giàu có thêm nền văn học các dân tộc ít người nói riêng, nền văn học nước
nhà nói chung” [50, tr.104 ]. PGS – TS Mai Hương khẳng định: “Triều Ân
đến với bạn đọc trước hết bằng những trang thơ, và trong tình cảm của độc
giả, anh trước hết là một nhà thơ miền núi ít nhiều có phong cách riêng
( ). Triều Ân đã khẳng định được vị trí của mình trong nền thơ chung của
dân tộc” [50, tr.44 ].
“Nhưng Triều Ân không chỉ làm thơ – ông còn là một người viết văn
xuôi có hạng” [37]. PGS – TS Nguyễn Văn Long khi nghiên cứu về văn
xuôi Triều Ân đã đưa ra nhận xét: “Trong lĩnh vực văn xuôi, có thể nói cây
bút Hoàng Triều Ân đã có những đóng góp thật đáng kể, làm đầy đặn và
phong phú hơn cho sáng tác văn xuôi của các dân tộc thiểu số. Đóng góp
ấy càng đáng quý trong tình hình văn học các dân tộc thiểu số vẫn thường
mạnh về thơ mà đội ngũ viết văn xuôi còn chưa đông đảo, nếu không nói là
còn khá thưa thớt” [50, tr.40].
Bên cạnh sáng tác thơ văn, Triều Ân còn làm công tác nghiên cứu, sưu
tầm văn học, văn hóa. Đánh giá về công việc này của Triều Ân, nhà văn
Dương Thuấn từng khẳng định: “Có thể nói Triều Ân là một người có công
đối với lĩnh vực sưu tầm gìn giữ vốn văn học dân gian của người Tày ( ).
Muốn nhận định về ông một cách hoàn hảo thì phải đánh giá đúng cả hai
mặt sáng tác và sưu tầm nghiên cứu của ông, nếu không sẽ nhìn nhận về
Triều Ân một cách phiến diện, không đánh giá xác đáng một con người có
nhiều cống hiến như ông” [50, tr.183].
Bên cạnh việc khẳng định vị thế sự nghiệp sáng tác và nghiên cứu của
Triều Ân, giới học thuật còn đánh giá cao tính dân tộc và bản sắc văn hoá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
trong các sáng tác của ông. Nhà văn Lâm Tiến khi bàn về bản sắc văn hóa
dân tộc trong sáng tác của Triều Ân khẳng định ông là người “hiểu biết sâu
rộng và phong phú về văn hóa dân gian, về phong tục tập quán và sinh
hoạt đồng bào miền núi”, và “sống trong dân tộc, đồng hành với dân tộc
nên con người và cuộc sống đồng bào miền núi được thể hiện trên trang
viết thật gần gũi, thân mật” [50, tr.92,93]. Còn PGS – TS Mai Hương đã
phát hiện: “dù ở thể loại nào: thơ, truyện ngắn hay tiểu thuyết, đọc trang
viết của Triều Ân người đọc đều có cảm giác được khám phá những điều
mới mẻ và thú vị ( ). Có thể nói sự xuất hiện khá đậm đặc những phong
tục, tập tục, những nét quen thuộc trong đời sống sinh hoạt trong tác phẩm
cuả Triều Ân, cho thấy công phu đi sâu tìm hiểu và sự thuộc hiểu đời sống,
truyền thống văn hóa lâu đời của cộng đồng các dân tộc vùng cao của
Triều Ân. Chính những điều đó đã mang đến sự sinh sắc cho trang viết của
nhà văn” [50, tr.217,218]. PGS – TS Bích Thu cũng đã ghi nhận: “qua các
trang tiểu thuyết của Triều Ân, miền nước non Cao Bằng đã hiển hiện ngày
càng rõ nét với cảnh sắc, con người, phong tục tập quán, với những buồn
vui, may rủi, tốt xấu, hay dở đan xen trong cộng đồng dân cư, thôn bản các
dân tộc ít người mà suy cho cùng, đó cũng là bức tranh thu nhỏ của xã hội
Việt Nam đương đại” [50, tr.56]. Có thể tổng kết, đánh giá về bản sắc văn
hóa trong sáng tác của Triều Ân bằng ý kiến của GS – TS Mai Quốc Liên:
“đó là những cống hiến vô giá không những cho văn hóa dân tộc ông mà
cho cả văn hóa dân tộc nước nhà. Ông xứng đáng là nhà văn hóa, người
đại diện có thẩm quyền cho văn hóa dân tộc Tày anh em” [22, tr.5,6].
Thế nhưng do nhiều yếu tố khách quan cho đến nay vẫn chưa có một
công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về sáng tác văn học của Triều
Ân, đặc biệt là ở góc độ bản sắc văn hóa. Do vậy chúng tôi tìm được
khoảng trống để thực hiện đề tài. Các ý kiến của người đi trước về sáng tác
của Triều Ân nói chung và văn xuôi nói riêng là những gợi dẫn bổ ích và
quý báu giúp chúng tôi trong quá trình tiếp cận và triển khai đề tài.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn lựa chọn một số truyện ngắn, tiểu thuyết của Triều Ân in trong
tập truyện ngắn Xứ sương mù (Nhà xuất bản Văn học, H.2000) và Tuyển
tập thơ văn Triều Ân (Nhà xuất bản Văn học, H.2006) làm đối tượng
nghiên cứu cho đề tài
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn đi sâu vào nghiên cứu: Bản sắc dân tộc Tày, Dao trong văn
xuôi Triều Ân trên các khía cạnh: Phong tục tập quán; nghề thủ công và
trang phục; khả năng y học dân tộc; đời sống văn nghệ, tín ngưỡng và đời
sống tâm hồn.
4. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm đạt được các mục đích sau:
- Có cái nhìn tổng thể và khái quát về bản sắc của dân tộc thiểu số Tày,
Dao. Từ đó thấy bản sắc dân tộc được phản ánh trong các tác phẩm văn học
viết về đề tài miền núi nói chung và trong văn xuôi của Triều Ân nói riêng.
- Chỉ ra những biểu hiện cụ thể bản sắc dân tộc Tày, Dao trong văn
xuôi Triều Ân trên phương diện nội dung cũng như nghệ thuật. Qua đó
khẳng định thành tựu, đóng góp của Triều Ân với văn học các dân tộc thiểu
số Việt Nam hiện đại nói riêng và văn học đương đại nói chung.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
- Vận dụng phương pháp nghiên cứu tác gia văn học
- Phương pháp thống kê hệ thống
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần thư mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm ba chương:
Chƣơng một: Vài nét về bản sắc văn hóa dân tộc và sự nghiệp sáng tác
của nhà văn Triều Ân.
Chƣơng hai: Những biểu hiện của bản sắc dân tộc trong văn xuôi Triều Ân
Chƣơng ba: Một số phương diện nghệ thuật thể hiện bản sắc dân tộc
trong văn xuôi Triều Ân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1:
VÀI NÉT VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ SỰ NGHIỆP
SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN TRIỀU ÂN
1.1. Bản sắc văn hóa dân tộc
1.1.1. Văn hóa và bản sắc văn hóa Việt Nam
Ở Việt Nam và trên thế giới có nhiều cách định nghĩa khác nhau về
khái niệm “Văn hóa”. Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc cho rằng: “Văn
hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một
tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người
này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện
rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy
nhất, biểu hiện thành một kiến thức lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc
người, khác các kiểu lựa chọn của cá nhân hay các tộc người khác” [46,
tr17]. Giáo sư - Tiến sĩ Trần Ngọc Thêm xác định cụ thể: “Văn hóa là một
hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và
tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con
người với môi trường tự nhiên và xã hội” [52, tr10]. Nhà nhân loại học
phương Tây E.B.Taylo lại định nghĩa: “Văn hóa là toàn bộ phức thể bao
gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục,
những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một
thành viên của xã hội” [61, tr8].
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa nhưng các
định nghĩa đó vẫn xoay quanh vấn đề tương đối thống nhất: Văn hóa là một
trong những giá trị đặc trưng về vật chất, tinh thần được con người sáng tạo
ra trong sự phát triển của dân tộc. Trong luận văn “Dấu ấn văn hóa người
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
Mông trong tác phẩm “Đồng bạc trắng hoa xòe” và “Vùng biên ải” của
Ma Văn Kháng”, tác giả Ma Thị Hiên đã phân tích sâu sắc định nghĩa của
Taylo, chúng tôi tán thành và sử dụng định nghĩa này cho luận văn của
mình. Bởi đây quả là một khái niệm tóm lược được hầu hết các thành tố,
các nội dung tạo thành văn hóa đó là tri thức hiểu biết, là tín ngưỡng, nghệ
thuật, đạo đức, phong tục tập quán, pháp luật … mà con người có được khi
sống trong cộng đồng xã hội, và trong mối quan hệ xã hội mang tính tổng
hòa. Hơn nữa, như chúng ta đã biết: “Văn hóa và văn học có mối quan hệ
mật thiết bởi trước hết văn học có thể coi là một bộ phận nằm trong chỉnh
thể của nó là văn hóa, mỗi nhà văn khi sáng tạo tác phẩm của mình đều
phải dựa trên một nền tảng rộng lớn là văn hóa dân tộc và văn hóa nhân
loại. Có thể coi văn học là một tấm gương vừa phản chiếu, vừa thu nhỏ bộ
mặt văn hóa của từng thời đại vào trong đó. Đặc biệt văn học sẽ kết tinh
toàn bộ các phương diện của văn hóa vào trong thế giới nghệ thuật của
mình. Sự kết tinh cao độ nhất nằm trong các hình tượng nhân vật và số
phận của chúng” [29, tr20].
Như vậy, mỗi quốc gia sẽ có nền văn hóa riêng và mỗi dân tộc cũng
sẽ có bản sắc văn hóa của riêng mình. Trên đất nước Việt Nam có hơn 50
dân tộc anh em cùng chung sống, trong nền văn hóa đa dân tộc đó, mỗi dân
tộc anh em đều lưu giữ những nét bản sắc văn hóa của riêng dân tộc mình.
Vậy bản sắc dân tộc là gì? “Bản sắc là sự lan tỏa tự nhiên trong sắc thái tư
duy, ngôn ngữ, trong tâm hồn, trí tuệ, trong phong tục, cung cách, hành vi,
ứng xử, trong lề thói, tập tục, trong văn chương, nghệ thuật, và trong toàn
bộ các giá trị văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của con người. Bản sắc
dân tộc trong mọi sắc thái là sự lan tỏa một cách tự nhiên không ai gò ép
được, nhưng nó phải gắn liền với ý thức dân tộc và tự khẳng định qua thử
thách của thời gian, nếu không qua giao lưu và mở rộng văn hóa, bản sắc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
sẽ bị biến đổi, mất đi những gì tinh túy nhất của dân tộc. Do đó các nhà
nghiên cứu trên thế giới đã từng đưa ra những ý kiến thống nhất gọi bản
sắc văn hóa dân tộc là một thứ căn cước, một chứng minh thư của riêng
một dân tộc” [60, tr78]. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã từng khẳng
định: “Bản sắc là những nét riêng biệt, độc đáo của một dân tộc thể hiện
trong nền văn hóa, nghệ thuật trong phong tục tập quán, trong đời sống
muôn màu của dân tộc ” [26, tr.11]. Chính bởi xác định được vị trí, vai trò
và tầm quan trọng của văn hóa, bản sắc dân tộc nên chủ trương, đường lối
lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là “Xây dựng một nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc”.
Việc đề cao bản sắc dân tộc là một hành động thiết thực trong công
cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam trong thời đại hiện
nay. Bản sắc dân tộc vừa có nét chung của cộng đồng vừa có nét riêng của
từng dân tộc. Tất cả sẽ góp lại để tạo thành nền văn hóa Việt Nam đa dân
tộc, đa màu sắc, nằm trong tổng hòa của nền văn hóa khu vực Đông Nam Á
và văn hóa nhân loại. Đúng như nhà thơ Nông Quốc Chấn đã nhận định:
“Bản sắc văn hóa Việt Nam bao gồm nhiều nét đặc trưng. Có những nét
chung trong văn hóa người Việt (còn gọi là người Kinh) có những nét riêng
trong văn hóa các dân tộc thiểu số. Những nét ấy biểu hiện trong cách lao
động, cách sống, cách kiến trúc nhà cửa, cách ứng xử giữa người với
người …Những nét riêng ấy không mâu thuẫn với nét chung: Nó đang có
sự hài hòa” [35, tr52].
Dân tộc Việt Nam có lịch sử hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ
nước. Cùng với chiều dài lịch sử của dân tộc là chiều dài và bề sâu của
truyền thống văn hóa. Nền văn hóa Việt Nam được cấu thành bởi bốn thành
tố cơ bản là: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa ứng
xử với môi trường tự nhiên, văn hóa ứng xử với môi trường xã hội. Các
2.1.3. Tập quán sinh nở và lễ đầy tháng tuổi của đồng bào Tày,
Dao 44
2.1.4. Văn hoá Tày, Dao trong tổ chức đời sống cộng đồng 47
2.2. Phƣơng diện nghề thủ công và trang phục 54
2.2.1. Nghề thủ công 54
2.2.2. Vẻ đẹp trang phục 58
2.3. Văn hóa Tày, Dao qua y học dân tộc 63
2.4. Dấu ấn văn hóa Tày, Dao ở phƣơng diện đời sống văn nghệ,
tín ngƣỡng và tâm hồn 70
2.4.1. Đời sống văn nghệ 70
2.4.2. Đời sống tín ngưỡng 80
2.4.3. Đời sống tâm hồn 80
Chƣơng 3: MỘT SỐ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN BẢN
SẮC DÂN TỘC TRONG VĂN XUÔI TRIỀU ÂN 85
3.1. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện 85
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật 97
3.2.1. Đặc tả ngoại hình nhân vật 97
3.2.2. Xây đựng nhân vật đa diện 101
3.3. Nghệ thuật sử dụng ngôn từ 106
3.3.1. Ngôn ngữ mang đậm dấu ấn miền núi 107
3.3.2. Ngôn ngữ đậm chất thơ 111
PHẦN KẾT LUẬN 115
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ những năm 50, 60 của thế kỷ XX, lớp nhà văn là người dân tộc thiểu
số đã xuất hiện và trưởng thành với nhiều tác phẩm phản ánh hiện thực
cuộc sống ở vùng quê của họ. Một trong các tác giả tiêu biểu đó là nhà văn
Triều Ân. Ông là một trong mười sáu nhà văn dân tộc thiểu số đầu tiên có
mặt trong cuốn Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (Nxb Văn
hóa dân tộc – 1988). Gần 50 năm cầm bút, sáng tác và nghiên cứu trên
nhiều lĩnh vực và ở lĩnh vực nào Triều Ân cũng có những tác phẩm để lại
dấu ấn rõ nét trong đời sống văn học và văn hóa dân tộc ở các giai đoạn
lịch sử khác nhau. Ông bắt đầu con đường văn học của mình bằng thơ và
đoạt giải nhì cuộc thi thơ 1960 – 1961 do Tạp chí Văn nghệ tổ chức với bài
thơ Quê ta anh biết chăng?. Bên cạnh thơ, Triều Ân còn viết văn xuôi.
Truyện ngắn Bên bờ suối tiên của ông đã được giải nhì cuộc thi truyện
ngắn của Tạp chí Văn nghệ Việt Bắc (1962). Đến nay, ngoài 8 tập thơ tiếng
Việt và 1 tập thơ tiếng Tày, Triều Ân đã xuất bản năm tập truyện ngắn:
Tiếng hát rừng xa (Nxb Văn học – H.1969), Tiếng khèn A Pá (Nxb Tác
phẩm mới – H.1980), Như cánh chim trời (Nxb Kim Đồng – 1982),
Đường qua đèo mây (Nxb Văn nghệ Cao Bằng – 1988) và Xứ sương mù
(Nxb Văn học – H.2000). Vào thập niên chín mươi của thế kỉ XX, Triều
Ân lại tìm đến thể loại tiểu thuyết, và chỉ trong vòng mười năm ông đã cho
ra mắt ba cuốn tiểu thuyết: Nắng vàng bản Dao (1992), Nơi ấy biên thùy
(1994), Dặm ngàn rong ruổi (2000). Những sáng tác tiêu biểu của ông đã
được tập hợp trong cuốn Tuyển tập thơ văn Triều Ân (Nxb Văn học –
H.2006). Với những hoạt động sáng tạo và nghiên cứu văn học phong phú
trên nhiều phương diện, có thể nói Triều Ân là một trí thức, một nhà nghiên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
cứu, một văn nghệ sỹ tiêu biểu của văn học hiện đại các dân tộc thiểu số
nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung.
Trong quá trình nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại, một số nhà
nghiên cứu, phê bình văn học đã quan tâm đến mảng văn học dân tộc và
miền núi. Song các nhà nghiên cứu, phê bình văn học chủ yếu tập trung vào
sáng tác của những nhà văn người Kinh mà tên tuổi đã nổi tiếng, quen
thuộc trong đời sống văn học viết về đề tài miền núi. Trong khi đó, một bộ
phận không nhỏ các nhà văn người dân tộc thiểu số với những thành tựu và
cống hiến xứng đáng cho nền văn học nước nhà, đặc biệt với văn học thiểu
số, lại ít được nghiên cứu, giới thiệu rộng rãi. Do vậy việc tìm hiểu nghiên
cứu về văn học miền núi, nhất là với những sáng tác do chính các tác giả
người miền núi viết trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc gia và quốc tế
hiện nay là việc làm có ý nghĩa cấp thiết. Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài:
Bản sắc dân tộc trong văn xuôi Triều Ân.
2. Lịch sử vấn đề
Trong những năm gần đây, văn học dân tộc và miền núi đã được giới
nghiên cứu, phê bình quan tâm chú ý. Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn
học đã có những ý kiến nhận xét, đánh giá về các tác giả văn học hiện đại
người dân tộc thiểu số và mảng văn học miền núi. Trong đó, có khá nhiều
công trình, bài viết đề cập đến sự nghiệp sáng tác cùng những đóng góp của
nhà văn Triều Ân với văn học dân tộc và miền núi nói riêng và văn học
đương đại nói chung. Đặc biệt ở cuộc Hội thảo khoa học về nhà văn
Hoàng Triều Ân được tổ chức tại Cao Bằng ngày 12 tháng 11 năm 2007,
giới nghiên cứu, phê bình văn học đã có những bản tham luận đánh giá xác
đáng về sự nghiệp sáng tác của ông. PGS – TS Đỗ Thị Hảo đã viết: “Thật
khó có thể xếp Hoàng Triều Ân hay gọi ông là “nhà” gì? Vì tác phẩm của
ông quá nhiều; lại cực kỳ phong phú về thể loại” [50, tr.171]. PGS – TS Lã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
Nhâm Thìn lại xác định cụ thể: “Nói đến Hoàng Triều Ân là nói đến “ba
nhà” trong một nhà: nhà văn, nhà thơ, nhà sưu tầm, nghiên cứu văn học. Ở
“nhà” nào Hoàng Triều Ân cũng có những đóng góp, làm phong phú, làm
giàu có thêm nền văn học các dân tộc ít người nói riêng, nền văn học nước
nhà nói chung” [50, tr.104 ]. PGS – TS Mai Hương khẳng định: “Triều Ân
đến với bạn đọc trước hết bằng những trang thơ, và trong tình cảm của độc
giả, anh trước hết là một nhà thơ miền núi ít nhiều có phong cách riêng
( ). Triều Ân đã khẳng định được vị trí của mình trong nền thơ chung của
dân tộc” [50, tr.44 ].
“Nhưng Triều Ân không chỉ làm thơ – ông còn là một người viết văn
xuôi có hạng” [37]. PGS – TS Nguyễn Văn Long khi nghiên cứu về văn
xuôi Triều Ân đã đưa ra nhận xét: “Trong lĩnh vực văn xuôi, có thể nói cây
bút Hoàng Triều Ân đã có những đóng góp thật đáng kể, làm đầy đặn và
phong phú hơn cho sáng tác văn xuôi của các dân tộc thiểu số. Đóng góp
ấy càng đáng quý trong tình hình văn học các dân tộc thiểu số vẫn thường
mạnh về thơ mà đội ngũ viết văn xuôi còn chưa đông đảo, nếu không nói là
còn khá thưa thớt” [50, tr.40].
Bên cạnh sáng tác thơ văn, Triều Ân còn làm công tác nghiên cứu, sưu
tầm văn học, văn hóa. Đánh giá về công việc này của Triều Ân, nhà văn
Dương Thuấn từng khẳng định: “Có thể nói Triều Ân là một người có công
đối với lĩnh vực sưu tầm gìn giữ vốn văn học dân gian của người Tày ( ).
Muốn nhận định về ông một cách hoàn hảo thì phải đánh giá đúng cả hai
mặt sáng tác và sưu tầm nghiên cứu của ông, nếu không sẽ nhìn nhận về
Triều Ân một cách phiến diện, không đánh giá xác đáng một con người có
nhiều cống hiến như ông” [50, tr.183].
Bên cạnh việc khẳng định vị thế sự nghiệp sáng tác và nghiên cứu của
Triều Ân, giới học thuật còn đánh giá cao tính dân tộc và bản sắc văn hoá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
trong các sáng tác của ông. Nhà văn Lâm Tiến khi bàn về bản sắc văn hóa
dân tộc trong sáng tác của Triều Ân khẳng định ông là người “hiểu biết sâu
rộng và phong phú về văn hóa dân gian, về phong tục tập quán và sinh
hoạt đồng bào miền núi”, và “sống trong dân tộc, đồng hành với dân tộc
nên con người và cuộc sống đồng bào miền núi được thể hiện trên trang
viết thật gần gũi, thân mật” [50, tr.92,93]. Còn PGS – TS Mai Hương đã
phát hiện: “dù ở thể loại nào: thơ, truyện ngắn hay tiểu thuyết, đọc trang
viết của Triều Ân người đọc đều có cảm giác được khám phá những điều
mới mẻ và thú vị ( ). Có thể nói sự xuất hiện khá đậm đặc những phong
tục, tập tục, những nét quen thuộc trong đời sống sinh hoạt trong tác phẩm
cuả Triều Ân, cho thấy công phu đi sâu tìm hiểu và sự thuộc hiểu đời sống,
truyền thống văn hóa lâu đời của cộng đồng các dân tộc vùng cao của
Triều Ân. Chính những điều đó đã mang đến sự sinh sắc cho trang viết của
nhà văn” [50, tr.217,218]. PGS – TS Bích Thu cũng đã ghi nhận: “qua các
trang tiểu thuyết của Triều Ân, miền nước non Cao Bằng đã hiển hiện ngày
càng rõ nét với cảnh sắc, con người, phong tục tập quán, với những buồn
vui, may rủi, tốt xấu, hay dở đan xen trong cộng đồng dân cư, thôn bản các
dân tộc ít người mà suy cho cùng, đó cũng là bức tranh thu nhỏ của xã hội
Việt Nam đương đại” [50, tr.56]. Có thể tổng kết, đánh giá về bản sắc văn
hóa trong sáng tác của Triều Ân bằng ý kiến của GS – TS Mai Quốc Liên:
“đó là những cống hiến vô giá không những cho văn hóa dân tộc ông mà
cho cả văn hóa dân tộc nước nhà. Ông xứng đáng là nhà văn hóa, người
đại diện có thẩm quyền cho văn hóa dân tộc Tày anh em” [22, tr.5,6].
Thế nhưng do nhiều yếu tố khách quan cho đến nay vẫn chưa có một
công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về sáng tác văn học của Triều
Ân, đặc biệt là ở góc độ bản sắc văn hóa. Do vậy chúng tôi tìm được
khoảng trống để thực hiện đề tài. Các ý kiến của người đi trước về sáng tác
của Triều Ân nói chung và văn xuôi nói riêng là những gợi dẫn bổ ích và
quý báu giúp chúng tôi trong quá trình tiếp cận và triển khai đề tài.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn lựa chọn một số truyện ngắn, tiểu thuyết của Triều Ân in trong
tập truyện ngắn Xứ sương mù (Nhà xuất bản Văn học, H.2000) và Tuyển
tập thơ văn Triều Ân (Nhà xuất bản Văn học, H.2006) làm đối tượng
nghiên cứu cho đề tài
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn đi sâu vào nghiên cứu: Bản sắc dân tộc Tày, Dao trong văn
xuôi Triều Ân trên các khía cạnh: Phong tục tập quán; nghề thủ công và
trang phục; khả năng y học dân tộc; đời sống văn nghệ, tín ngưỡng và đời
sống tâm hồn.
4. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm đạt được các mục đích sau:
- Có cái nhìn tổng thể và khái quát về bản sắc của dân tộc thiểu số Tày,
Dao. Từ đó thấy bản sắc dân tộc được phản ánh trong các tác phẩm văn học
viết về đề tài miền núi nói chung và trong văn xuôi của Triều Ân nói riêng.
- Chỉ ra những biểu hiện cụ thể bản sắc dân tộc Tày, Dao trong văn
xuôi Triều Ân trên phương diện nội dung cũng như nghệ thuật. Qua đó
khẳng định thành tựu, đóng góp của Triều Ân với văn học các dân tộc thiểu
số Việt Nam hiện đại nói riêng và văn học đương đại nói chung.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
- Vận dụng phương pháp nghiên cứu tác gia văn học
- Phương pháp thống kê hệ thống
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần thư mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm ba chương:
Chƣơng một: Vài nét về bản sắc văn hóa dân tộc và sự nghiệp sáng tác
của nhà văn Triều Ân.
Chƣơng hai: Những biểu hiện của bản sắc dân tộc trong văn xuôi Triều Ân
Chƣơng ba: Một số phương diện nghệ thuật thể hiện bản sắc dân tộc
trong văn xuôi Triều Ân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1:
VÀI NÉT VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ SỰ NGHIỆP
SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN TRIỀU ÂN
1.1. Bản sắc văn hóa dân tộc
1.1.1. Văn hóa và bản sắc văn hóa Việt Nam
Ở Việt Nam và trên thế giới có nhiều cách định nghĩa khác nhau về
khái niệm “Văn hóa”. Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc cho rằng: “Văn
hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một
tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người
này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện
rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy
nhất, biểu hiện thành một kiến thức lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc
người, khác các kiểu lựa chọn của cá nhân hay các tộc người khác” [46,
tr17]. Giáo sư - Tiến sĩ Trần Ngọc Thêm xác định cụ thể: “Văn hóa là một
hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và
tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con
người với môi trường tự nhiên và xã hội” [52, tr10]. Nhà nhân loại học
phương Tây E.B.Taylo lại định nghĩa: “Văn hóa là toàn bộ phức thể bao
gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục,
những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một
thành viên của xã hội” [61, tr8].
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa nhưng các
định nghĩa đó vẫn xoay quanh vấn đề tương đối thống nhất: Văn hóa là một
trong những giá trị đặc trưng về vật chất, tinh thần được con người sáng tạo
ra trong sự phát triển của dân tộc. Trong luận văn “Dấu ấn văn hóa người
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
Mông trong tác phẩm “Đồng bạc trắng hoa xòe” và “Vùng biên ải” của
Ma Văn Kháng”, tác giả Ma Thị Hiên đã phân tích sâu sắc định nghĩa của
Taylo, chúng tôi tán thành và sử dụng định nghĩa này cho luận văn của
mình. Bởi đây quả là một khái niệm tóm lược được hầu hết các thành tố,
các nội dung tạo thành văn hóa đó là tri thức hiểu biết, là tín ngưỡng, nghệ
thuật, đạo đức, phong tục tập quán, pháp luật … mà con người có được khi
sống trong cộng đồng xã hội, và trong mối quan hệ xã hội mang tính tổng
hòa. Hơn nữa, như chúng ta đã biết: “Văn hóa và văn học có mối quan hệ
mật thiết bởi trước hết văn học có thể coi là một bộ phận nằm trong chỉnh
thể của nó là văn hóa, mỗi nhà văn khi sáng tạo tác phẩm của mình đều
phải dựa trên một nền tảng rộng lớn là văn hóa dân tộc và văn hóa nhân
loại. Có thể coi văn học là một tấm gương vừa phản chiếu, vừa thu nhỏ bộ
mặt văn hóa của từng thời đại vào trong đó. Đặc biệt văn học sẽ kết tinh
toàn bộ các phương diện của văn hóa vào trong thế giới nghệ thuật của
mình. Sự kết tinh cao độ nhất nằm trong các hình tượng nhân vật và số
phận của chúng” [29, tr20].
Như vậy, mỗi quốc gia sẽ có nền văn hóa riêng và mỗi dân tộc cũng
sẽ có bản sắc văn hóa của riêng mình. Trên đất nước Việt Nam có hơn 50
dân tộc anh em cùng chung sống, trong nền văn hóa đa dân tộc đó, mỗi dân
tộc anh em đều lưu giữ những nét bản sắc văn hóa của riêng dân tộc mình.
Vậy bản sắc dân tộc là gì? “Bản sắc là sự lan tỏa tự nhiên trong sắc thái tư
duy, ngôn ngữ, trong tâm hồn, trí tuệ, trong phong tục, cung cách, hành vi,
ứng xử, trong lề thói, tập tục, trong văn chương, nghệ thuật, và trong toàn
bộ các giá trị văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của con người. Bản sắc
dân tộc trong mọi sắc thái là sự lan tỏa một cách tự nhiên không ai gò ép
được, nhưng nó phải gắn liền với ý thức dân tộc và tự khẳng định qua thử
thách của thời gian, nếu không qua giao lưu và mở rộng văn hóa, bản sắc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
sẽ bị biến đổi, mất đi những gì tinh túy nhất của dân tộc. Do đó các nhà
nghiên cứu trên thế giới đã từng đưa ra những ý kiến thống nhất gọi bản
sắc văn hóa dân tộc là một thứ căn cước, một chứng minh thư của riêng
một dân tộc” [60, tr78]. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã từng khẳng
định: “Bản sắc là những nét riêng biệt, độc đáo của một dân tộc thể hiện
trong nền văn hóa, nghệ thuật trong phong tục tập quán, trong đời sống
muôn màu của dân tộc ” [26, tr.11]. Chính bởi xác định được vị trí, vai trò
và tầm quan trọng của văn hóa, bản sắc dân tộc nên chủ trương, đường lối
lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là “Xây dựng một nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc”.
Việc đề cao bản sắc dân tộc là một hành động thiết thực trong công
cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam trong thời đại hiện
nay. Bản sắc dân tộc vừa có nét chung của cộng đồng vừa có nét riêng của
từng dân tộc. Tất cả sẽ góp lại để tạo thành nền văn hóa Việt Nam đa dân
tộc, đa màu sắc, nằm trong tổng hòa của nền văn hóa khu vực Đông Nam Á
và văn hóa nhân loại. Đúng như nhà thơ Nông Quốc Chấn đã nhận định:
“Bản sắc văn hóa Việt Nam bao gồm nhiều nét đặc trưng. Có những nét
chung trong văn hóa người Việt (còn gọi là người Kinh) có những nét riêng
trong văn hóa các dân tộc thiểu số. Những nét ấy biểu hiện trong cách lao
động, cách sống, cách kiến trúc nhà cửa, cách ứng xử giữa người với
người …Những nét riêng ấy không mâu thuẫn với nét chung: Nó đang có
sự hài hòa” [35, tr52].
Dân tộc Việt Nam có lịch sử hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ
nước. Cùng với chiều dài lịch sử của dân tộc là chiều dài và bề sâu của
truyền thống văn hóa. Nền văn hóa Việt Nam được cấu thành bởi bốn thành
tố cơ bản là: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa ứng
xử với môi trường tự nhiên, văn hóa ứng xử với môi trường xã hội. Các
Chiến lược Marketing – Mix đối với việc xuất khẩu sản phẩm cà phê của Tổng công ty cà phê Việt Nam
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 2
1.1 Tính cấp thiết 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
II. NỘI DUNG 4
2.1 Sơ lược về Tổng công ty cà phê Việt Nam 4
2.2 Chiến lược sản phẩm của Tổng công ty cà phê Việt Nam. 6
2.2.1 Quyết định về lợi ích và nhãn hiệu sản phẩm cà phê của Tổng công ty cà phê Việt
Nam 6
2.2.2 Quyết định về bao gói 7
2.2.3 Quyết định về chủng loại và danh mục hàng hóa 8
2.3 Chiến lược xúc tiến hỗ trợ 9
2.3.1 Quảng cáo 9
2.3.2 Tuyên truyền 10
III. NHẬN XÉT CỦA BẢN THÂN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
1
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết
Nước ta là một nước nông nghiệp vì thế xuất khẩu nông sản là một
phần quan trọng không thể thiếu trong chiến lược phát triển nền nông nghiệp
nước nhà. Và cà phê là một mặt hàng quan trọng trong các mặt hàng xuất
khẩu của nước ta. Hàng năm, xuất khẩu cà phê đóng góp một phần rất lớn
vào GDP của cả nước. Trong các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê ở nước ta,
chúng ta không thể không nhắc đến Tổng công ty cà phê Việt Nam, một
doanh nghiệp lớn trong ngành cà phê nước ta. Hàng năm tổng công ty cà phê
Việt Nam xuất khẩu một lượng lớn tới 20 – 25 % sản lượng cà phê của cả
nước. Có thể nói Tổng công ty cà phê Việt Nam khá thành công trong chiến
lược xuất khẩu cà phê. Thành công của Tổng công ty cà phê Việt Nam do rất
nhiều yếu tố và chúng ta không thể phủ nhận vai trò của yếu tố Marketing,
nhất là chiến lược Marketing - Mix. Để tìm hiểu xem Tổng công ty cà phê
Việt Nam đã áp dụng chiến lược Marketing – Mix thế nào, em quyết định
tìm hiểu đề tài :”Chiến lược Marketing – Mix đối với việc xuất khẩu sản
phẩm cà phê của Tổng công ty cà phê Việt Nam”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu việc áp dụng chiến lược Marketing – Mix đối với việc xuất
khẩu cà phê của Tổng công ty cà phê Việt Nam.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu sự ra đời và phát triển của Tổng công ty cà phê Việt Nam.
2
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
- Tìm hiểu cụ thể việc áp dụng chiến lược Marketing – Mix của Tổng
công ty cà phê Việt Nam trong việc xuất khẩu cà phê. Trong đề tài
này, em giới hạn nội dung tìm hiểu 2 chiến lược trong số 4 chiến lược
của Marketing – Mix là chiến lược sản phẩm và chiến lược xúc tiến hỗ
trợ.
- Nêu ra một số nhận xét của bản thân về việc áp dụng chiến lược
Marketing – Mix trong xuất khẩu cà phê của Tổng công ty cà phê Việt
Nam.
3
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
II. NỘI DUNG
2.1 Sơ lược về Tổng công ty cà phê Việt Nam
Tổng công ty cà phê Việt Nam (tên giao dịch là Việt Nam National
Coffee Corporation) viết tắt là VINACAFE, thành lập ngày 24/09/1995 theo
quyết định số 251/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, là Tổng công ty Nhà
nước lớn nhất của Việt Nam chuyên về sản xuất, chế biến, xuất khẩu cà phê.
Hàng năm VINACAFE xuất khẩu một lượng lớn tới 20 – 25 sản lượng cà
phê của cả nước. Tại thời điểm thành lập, Tổng công ty có 68 đơn vị thành
viên bao gồm các nông trường cà phê, công ty xuất nhập khẩu, nhà máy chế
biến, trung tâm nghiên cứu, công ty dịch vụ. Ngày 29/10/2009, Thủ tướng
Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã kí Quyết định số 1737/QĐ-TTg về việc
thành lập Công ty mẹ - Tổng công ty cà phê Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại
Văn phòng Tổng công ty Cà phê Việt Nam, Công ty Cà phê 719, Công ty Cà
phê Buôn Hồ, Công ty Cà phê Iasao, Công ty Cà phê Đắc Uy, các đơn vị
hạch toán phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp và các chi nhánh.
Hiện nay, tổng công ty cà phê Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển và đạt
được những thành tựu to lớn. Năm 2009, do khủng hoảng kinh tế thế giới,
ngành cà phê gặp nhiều khó khăn do giá xuất khẩu xuống thấp, nhưng
Vinacafe vẫn bảo đảm đời sống cho hơn 30 nghìn công nhân, phần lớn là
đồng bào dân tộc thiểu số, xuất khẩu được gần 230.000 tấn cà phê (chiếm
20,4% tổng khối lượng XK của cả nước), đạt kim ngạch xuất khẩu 331 triệu
USD, doanh thu 8.526 tỷ đồng, lợi nhuận 190 tỷ, nộp ngân sách Nhà nước
120 tỷ đồng. Theo Ông Đoàn Đình Thiêm – Chủ tịch HĐQT Vinacafe, cho
biết Vinacafe là Tổng Công ty lớn của ngành nông nghiệp liên tiếp trong 4
năm liền (2006 – 2009) kinh doanh đạt hiệu quả cao, lợi nhuận hàng năm từ
150 – 300 tỷ đồng, nộp ngân sách trên dưới 200 tỷ đồng/năm. Hiện Vinacafe
4
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
đang đầu tư sản xuất trên 35.000 ha trồng cây công nghiệp tại Tây Nguyên,
trong đó trên 20.000 ha trồng cà phê; tạo công ăn việc làm cho trên 30.000
CB, CNV và hàng trăm nghìn hộ đồng bào dân tộc.
Năm 2010, Tổng công ty đã và đang thanh lý 11 nghìn ha cà-phê già cỗi
và tái canh đến năm 2015, đồng thời vừa chính thức thành lập Trung tâm
xuất nhập khẩu cà-phê nhằm tập trung sản phẩm cà-phê xuất khẩu của các
đơn vị thành viên, hoàn thiện đồng bộ từ khâu sản xuất, chế biến đến khâu
xuất khẩu, giúp lãnh đạo công ty hoạch định chiến lược phát triển lâu dài,
xây dựng hệ thống phân phối bán sỉ và lẻ cà-phê tiêu dùng.
Ðến nay, Tổng Công ty Cà phê Việt Nam hiện có 19.221 ha cà phê, nằm
trên các địa bàn các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông, Quảng Trị,
trong đó, các đơn vị thành viên nằm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk quản lý nhiều
diện tích cà phê nhất, với 11.582 ha. Hiện Trung tâm xuất nhập khẩu đã ký
hợp đồng tập trung sản phẩm khoảng 40.000 tấn, nhận và mua 10 nghìn tấn
của các đơn vị trong Tổng công ty. Theo Kế hoạch năm 2010, Vinacafe
khẳng định sẽ duy trì và nâng cao chất lượng tăng trưởng đạt mức cao hơn
năm 2009. Cụ thể, tổng sản lượng cà phê XK sẽ đạt 250.000 tấn (bằng 109%
so với năm 2009), đạt kim ngạch 344,5 triệu USD (bằng 104% so với năm
2009). Đặc biệt, Vinacafe cũng đặt mục tiêu năm 2010 tăng thu nhập cho 3
vạn CB, CNV với mức tăng 24% so với năm 2009.
Sản phẩm cà phê của Tổng công ty cà phê Việt Nam chủ yếu được xuất
khẩu qua các thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản. Trong đó Mỹ là thị trường xuất
khẩu chính của Tổng công ty do Mỹ có dân số đông và thói quen tiêu dùng
cà phê.
5
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
2.2 Chiến lược sản phẩm của Tổng công ty cà phê Việt Nam.
Sản phẩm là yếu tố đầu tiên và quan trọng của Marketing – Mix, các yếu
tố còn lại của chiến lược Marketing – Mix được xác định trên cơ sở yếu tố
sản phẩm đã được xác định. Quyết định về sản phẩm của Tổng công ty là
đưa ra các quyết định về lợi ích và nhãn hiệu sản phẩm hàng hóa, quyết định
về bao gói, quyết định về chủng loại và danh mục hàng hóa.
2.2.1 Quyết định về lợi ích và nhãn hiệu sản phẩm cà phê của Tổng công ty cà
phê Việt Nam
Lợi ích của sản phẩm cà phê xuất khẩu của Tổng công ty cà phê Việt
Nam thể hiện qua chất lượng hàng hóa. Chất lượng cà phê đặc biệt quan
trọng trong chiến lược cạnh tranh của Tổng công ty. Các tiêu chuẩn để đánh
giá chất lượng cà phê là: kích cỡ hạt, tỷ lệ hạt lỗi, độ ẩm, tạp chất.
Nhận thức được điều này, trong những năm qua Tổng công ty cà phê
Việt Nam đã chú ý đến việc nâng cao chất lượng cà phê xuất khẩu để có thể
cạnh tranh với sản phẩm của các doanh nghiệp khác. Điều này thể hiện ở
kích cỡ hạt tăng lên, tỷ lệ hạt lỗi giảm, tình trạng hạt bị ẩm mốc giảm nhiều
hơn so với các năm trước. Hiện nay sản phẩm cà phê xuất khẩu của Tổng
công ty đã áp dụng một số tiêu chí theo tiêu chuẩn cà phê xuất khẩu TCVN
4193:2005 để phù hợp với cách phân loại của Hội đồng Cà phê Thế giới như
hàm lượng ẩm không quá 12,5% và không dưới 8%, đo theo phương pháp
ISO 6673; có màu sáng đẹp hơn, có mùi đặc trưng. Sản phẩm cà phê vối của
Tổng công ty có hương vị thơm đậm, nước pha sẫm màu, vị béo bùi, hơi
đắng rất được khách hàng ưa chuộng. Sản phẩm cà phê chè có nhân nhỏ hơn
tuy nhiên hương vị thơm mát, êm dịu, ít vị đắng chát, dễ uống, sau uống có
cảm giác sảng khoái dễ chịu.
6
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
Chất lượng tăng kéo theo sản lượng cà phê xuất khẩu vào các nước
của Tổng công ty tăng lên. Đây là những cố gắng rất lớn của Tổng công ty
để thực hiện tốt chiến lược sản phẩm của mình.
Tuy nhiên, hiện nay chất lượng cà phê xuất khẩu của Tổng công ty chưa đáp
ứng được tất cả các tiêu chuẩn của Quốc tế. Nhiều lô hàng của VINACAFE
đã bị trả lại do tỷ lệ lỗi của sản phẩm cao, chủ yếu do sản phẩm có nhiều tạp
chất. Điều này ảnh hưởng đến uy tín của Tổng công ty trong việc xuất khẩu
sản phẩm cà phê. Vì thế, Tổng công ty cần có các biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng sản phẩm để hoàn thiện chính sách sản phẩm.
2.2.2 Quyết định về bao gói
Bao bì sản phẩm cà phê xuất khẩu của Tổng công ty ngày càng được cải
thiện về mẫu mã và chất lượng. Hiện nay, bao bì xuất khẩu cà phê của Tổng
công ty là bao tải đay với kích cỡ trọng lượng 60kg/1bao. Loại bao tải này
đảm bảo cho cà phê giữ được độ ẩm, màu sắc cũng như hương vị đặc trưng.
Ngoài ra, trên bao bì có ghi rõ xuất xứ, loại sản phẩm, ngày đóng gói, trọng
lượng một bao và biểu tượng, tên công ty (Viet Nam National Coffee
Corporation).
Việc ghi rõ các thông tin trên bao bì của Tổng công ty nhằm tác dụng làm
cho sản phẩm của Tổng công ty khác biệt so với sản phẩm của các đối thủ
khác và giới thiệu cho các bạn hàng nhập khẩu sản phẩm của Tổng công ty
biết được các thông tin sản phẩm. Qua đó, khách hàng sẽ có sự tin tưởng hơn
đối với sản phẩm của Tổng công ty và sẽ khuyến khích các bạn hàng nhập
khẩu sản phẩm cà phê của Tổng công ty. Điều đó làm tăng khả năng thu hút
khách hàng của Tổng công ty, sử dụng như một công cụ cạnh tranh có hiệu
quả và qua đó giải thích tại sao Tổng công ty cà phê Việt Nam lại có kim
ngạch xuất khẩu cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
7
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
2.2.3 Quyết định về chủng loại và danh mục hàng hóa
Sản phẩm cà phê xuất khẩu hiện nay của Tổng công ty chủ yếu là cà phê
nhân, cà phê hòa tan và cà phê rang xay chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng sản
lượng xuất. Cơ cấu chủng loại sản phẩm cà phê xuất khẩu của Tổng công ty
cà phê Việt Nam cụ thể như sau:
- Cà phê nhân:
+ Cà phê nhân vối Robusta: đây là sản phẩm xuất khẩu chủ lực
của Tổng công ty. Sản phẩm này đạt chất lượng tốt nhất trong toàn ngành.
Cây cà phê chủ yếu được trồng ở Tây Nguyên, nơi có điều kiện tự nhiên lý
tưởng cho tạo ra cà phê thương phẩm có hương vị đậm đà thơm ngon hơn
hẳn các nơi khác trong toàn quốc. Sản phẩm này rất được khách hàng nước
ngoài ưa chuộng.
+ Cà phê nhân chè Arabica: cà phê nhân chè được xuất khẩu ít hơn so
với cà phê vối. Nguyên nhân do diện tích trồng cà phê của Tổng công ty chủ
yếu ở Tây Nguyên mà điều kiện tự nhiên của Tây Nguyên không thích hợp
với trồng cà phê chè.
+ Cà phê tinh chế: Tổng công ty còn xuất khẩu sản phẩm cà phê rang
xay. Tuy nhiên chất lượng loại cà phê này còn thấp, không đủ sức cạnh tranh
trên thị trường thế giới. Vì thế, Tổng công ty không tập trung vào xuất khẩu
loại cà phê này.
Việc Tổng công ty tập trung đầu tư đa dạng hóa các chủng loại, danh mục
sản phẩm cà phê của mình có tác dụng làm tăng sự lựa chọn của khách hàng,
tạo sự khác biệt giữa sản phẩm của Tổng công ty với sản phẩm của các đối
thủ khác. Từ đó, khuyến khích các bạn hàng quan tâm và nhập khẩu cà phê
của Tổng công ty.
8
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
Qua các phân tích trên ta có thể thấy Tổng công ty cà phê Việt
Nam đã sử dụng chiến lược khác biệt hóa sản phẩm. Tổng công ty sử
dụng các biến tạo sự khác biệt sau:
- Về sản phẩm: sản phẩm cà phê xuất khẩu của Tổng công ty có sự khác
biệt với các sản phẩm của các đối thủ khác như tính chất của sản phẩm cà
phê là cà phê sơ chế, có màu sắc, mùi vị dặc trưng. Ngoài ra, trên bao bì
của cà phê xuất khẩu có ghi rõ tên công ty cũng như nguồn gốc sản phẩm,
ngày đóng gói… Điều này tạo sự tin cậy cho các khách hàng nhập khẩu
cà phê của Tổng công ty.
- Về hình ảnh: sản phẩm cà phê xuất khẩu của Tổng công ty trên bao bì
có in logo và tên Tổng công ty (Viet Nam National Coffee Corporation).
Chính các biến trên đã làm cho sản phẩm của Tổng công ty khác
biệt với các sản phẩm của các đối thủ. Việc kim ngạch xuất khẩu của
Tổng công ty chiếm cao nhất trong tổng kim ngạch của cả nước về xuất
khẩu cà phê một phần cũng cho thấy Tổng công ty đã sử dụng thành công
chiến lược khác biệt hóa sản phẩm.
2.3 Chiến lược xúc tiến hỗ trợ
Tổng công ty cà phê Việt Nam đã sử dụng chiến lược xúc tiến hỗ
trợ thông qua các hình thức sau:
2.3.1 Quảng cáo
Tổng công ty cà phê Việt Nam đã sử dụng hình thức quảng cáo để
giới thiệu sản phẩm cà phê của mình đến các thị trường nhập khẩu cà phê.
Mục tiêu mà Tổng công ty muốn hướng tới trong chiến lược quảng cáo là
nhằm tạo nhận thức cho các bạn hàng và thuyết phục khách hàng về
thuộc tính đặc trưng của sản phẩm cà phê của Tổng công ty. Các phương
9
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
tiện quảng cáo mà Tổng công ty sử dụng là báo chí, tạp chí, truyền hình.
Thông điệp quảng cáo của Tổng công ty là cà phê hương vị thiên nhiên
(Natural Flavor). Điều này đảm bảo yêu cầu của một thông điệp quảng
cáo là ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu, độc đáo.
Quảng cáo trên báo chí có ưu điểm là linh hoạt, kịp thời, bao quát
được thị trường, được nhiều người chấp nhận và có độ tin cậy cao. Tuy
nhiên, phương tiện này có nhược điểm là thời gian tồn tại ngắn, lượng tái
hiện kém, ít người đọc. Quảng cáo trên tạp chí có ưu điểm là địa bàn và
công chúng chọn lọc, tin cậy và uy tín, quan hệ với người đọc lâu dài tuy
nhiên thời gian chờ đợi lâu. Một phương tiện quảng cáo mà Tổng công ty
sử dụng nữa là quảng cáo trên truyền hình. Ưu điểm của phương tiện này
là khai thác được cả âm thanh và hình ảnh, đối tượng khán giả rộng và
thuộc nhiều tầng lớp, khả năng truyền thông nhanh, thu hút mạnh sự chú
ý. Có thể nói phương tiện quảng cáo trên truyền hình là cho hiệu quả cao
nhất. Tuy nhiên trong ba phương tiện này, phương tiện quảng cáo trên
truyền hình là được Tổng công ty sử dụng ít nhất do chi phí cao Tổng
công ty không đủ kinh phí, do những khó khăn trong môi trường cạnh
tranh, môi trường chính trị.
2.3.2 Tuyên truyền
Tổng công ty sử dụng các hoat động sau để thực hiện hình tức
tuyên truyền:
- Catalog cho khách hàng nước ngoài: catalog cung cấp đầy đủ các
thông tin về hình ảnh sản phẩm, kích cỡ, số lượng, các tiêu chuẩn mặt
hàng cà phê của Tổng công ty.
10
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
- Các xuất bản phẩm của ngành: Tổng công ty có một tập san chuyên
ngành cà phê cung cấp các thông tin về thị trường trong và ngoài nước
cũng như tình hình sản xuất k inh doanh của Tổng công ty.
- Thông qua các hội thảo về cà phê trong và ngoài nước để giới thiệu về
sản phẩm cà phê của Tổng công ty, nhất là các hội thảo ở nước ngoài.
- Thông qua các gian hàng hội chợ triển lãm trong và ngoài nước để
giới thiệu về sản phẩm. Ví dụ như trong năm 2007, “tuần lễ văn hóa cà
phê 2007” do UBND tỉnh Đăk Lăk tổ chức khai mạc tại Hà Nội, Tổng
công ty cà phê Việt Nam cũng tham gia để giới thiệu và xúc tiến
thương mại sản phẩm. Thông qua “tuần lễ văn hóa cà phê 2007”, Tổng
công ty đã làm cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước chú ý đến
sản phẩm cà phê của Tổng công ty. Hoặc một ví dụ khác như vào ngày
03/03/2010, tại TP Hồ Chí Minh, Tổng công ty cà-phê Việt Nam
(Vinacafe) tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
năm 2010. Qua hội nghị, Tổng công ty đã giới thiệu đến các bạn hàng
trong và ngoài nước các sản phẩm của mình. Đây là các hoạt động xúc
tiến rất có hiệu quả. Nhờ đó mà sau năm 2007, kim ngạch xuất khẩu
cà phê của Tổng công ty tăng lên rõ rệt.
Qua kết quả xuất khẩu của Tổng công ty ta thấy các hình thức của
chiến lược xúc tiến hỗ trợ đã được Tổng công ty sử dụng một cách có
hiệu quả.
11
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
III. NHẬN XÉT CỦA BẢN THÂN
Qua phân tích các chiến lược Marketing – Mix mà Tổng công ty cà
phê Việt Nam đã sử dụng em thấy:
Tổng công ty tập trung vào hai chiến lược là chiến lược sản phẩm
và chiến lược xúc tiến hỗ trợ. Việc tập trung vào hai chiến lược cụ thể có
thể tạo ra hiệu quả như Tổng công ty đã đạt được nhưng theo em nếu như
Tổng công ty tập trung sử dụng tổng hợp các chiến lược của Marketing –
Mix (tập trung đầu tư hơn vào chiến lược giá cả và phân phối) thì có thể
Tổng công ty sẽ đạt hiệu quả hơn nữa.
Về chiến lược sản phẩm của Tổng công ty, theo em trong tương lai
Tổng công ty nên đầu tư nâng cao chất lượng của sản phẩm hiện có hoặc
đầu tư tạo ra các sản phẩm mới để hoàn thiện hơn chiến lược sản phẩm
của mình.
Về chiến lược xúc tiến hỗ trợ, Tổng công ty đã có sử dụng các
phương tiện xúc tiến như quảng cáo, tuyên truyền. Tuy nhiên, trong
phương tiện quảng cáo, Tổng công ty chưa đầu tư vào phương tiện quảng
cáo trên truyền hình, một phương tiện mà cho hiệu quả rất cao. Theo em,
Tổng công ty nên chú ý đầu tư vào phương tiện này để nâng cao hiệu quả
của chiến lược xúc tiến hỗ trợ.
12
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 2
1.1 Tính cấp thiết 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
II. NỘI DUNG 4
2.1 Sơ lược về Tổng công ty cà phê Việt Nam 4
2.2 Chiến lược sản phẩm của Tổng công ty cà phê Việt Nam. 6
2.2.1 Quyết định về lợi ích và nhãn hiệu sản phẩm cà phê của Tổng công ty cà phê Việt
Nam 6
2.2.2 Quyết định về bao gói 7
2.2.3 Quyết định về chủng loại và danh mục hàng hóa 8
2.3 Chiến lược xúc tiến hỗ trợ 9
2.3.1 Quảng cáo 9
2.3.2 Tuyên truyền 10
III. NHẬN XÉT CỦA BẢN THÂN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
1
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết
Nước ta là một nước nông nghiệp vì thế xuất khẩu nông sản là một
phần quan trọng không thể thiếu trong chiến lược phát triển nền nông nghiệp
nước nhà. Và cà phê là một mặt hàng quan trọng trong các mặt hàng xuất
khẩu của nước ta. Hàng năm, xuất khẩu cà phê đóng góp một phần rất lớn
vào GDP của cả nước. Trong các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê ở nước ta,
chúng ta không thể không nhắc đến Tổng công ty cà phê Việt Nam, một
doanh nghiệp lớn trong ngành cà phê nước ta. Hàng năm tổng công ty cà phê
Việt Nam xuất khẩu một lượng lớn tới 20 – 25 % sản lượng cà phê của cả
nước. Có thể nói Tổng công ty cà phê Việt Nam khá thành công trong chiến
lược xuất khẩu cà phê. Thành công của Tổng công ty cà phê Việt Nam do rất
nhiều yếu tố và chúng ta không thể phủ nhận vai trò của yếu tố Marketing,
nhất là chiến lược Marketing - Mix. Để tìm hiểu xem Tổng công ty cà phê
Việt Nam đã áp dụng chiến lược Marketing – Mix thế nào, em quyết định
tìm hiểu đề tài :”Chiến lược Marketing – Mix đối với việc xuất khẩu sản
phẩm cà phê của Tổng công ty cà phê Việt Nam”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu việc áp dụng chiến lược Marketing – Mix đối với việc xuất
khẩu cà phê của Tổng công ty cà phê Việt Nam.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu sự ra đời và phát triển của Tổng công ty cà phê Việt Nam.
2
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
- Tìm hiểu cụ thể việc áp dụng chiến lược Marketing – Mix của Tổng
công ty cà phê Việt Nam trong việc xuất khẩu cà phê. Trong đề tài
này, em giới hạn nội dung tìm hiểu 2 chiến lược trong số 4 chiến lược
của Marketing – Mix là chiến lược sản phẩm và chiến lược xúc tiến hỗ
trợ.
- Nêu ra một số nhận xét của bản thân về việc áp dụng chiến lược
Marketing – Mix trong xuất khẩu cà phê của Tổng công ty cà phê Việt
Nam.
3
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
II. NỘI DUNG
2.1 Sơ lược về Tổng công ty cà phê Việt Nam
Tổng công ty cà phê Việt Nam (tên giao dịch là Việt Nam National
Coffee Corporation) viết tắt là VINACAFE, thành lập ngày 24/09/1995 theo
quyết định số 251/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, là Tổng công ty Nhà
nước lớn nhất của Việt Nam chuyên về sản xuất, chế biến, xuất khẩu cà phê.
Hàng năm VINACAFE xuất khẩu một lượng lớn tới 20 – 25 sản lượng cà
phê của cả nước. Tại thời điểm thành lập, Tổng công ty có 68 đơn vị thành
viên bao gồm các nông trường cà phê, công ty xuất nhập khẩu, nhà máy chế
biến, trung tâm nghiên cứu, công ty dịch vụ. Ngày 29/10/2009, Thủ tướng
Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã kí Quyết định số 1737/QĐ-TTg về việc
thành lập Công ty mẹ - Tổng công ty cà phê Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại
Văn phòng Tổng công ty Cà phê Việt Nam, Công ty Cà phê 719, Công ty Cà
phê Buôn Hồ, Công ty Cà phê Iasao, Công ty Cà phê Đắc Uy, các đơn vị
hạch toán phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp và các chi nhánh.
Hiện nay, tổng công ty cà phê Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển và đạt
được những thành tựu to lớn. Năm 2009, do khủng hoảng kinh tế thế giới,
ngành cà phê gặp nhiều khó khăn do giá xuất khẩu xuống thấp, nhưng
Vinacafe vẫn bảo đảm đời sống cho hơn 30 nghìn công nhân, phần lớn là
đồng bào dân tộc thiểu số, xuất khẩu được gần 230.000 tấn cà phê (chiếm
20,4% tổng khối lượng XK của cả nước), đạt kim ngạch xuất khẩu 331 triệu
USD, doanh thu 8.526 tỷ đồng, lợi nhuận 190 tỷ, nộp ngân sách Nhà nước
120 tỷ đồng. Theo Ông Đoàn Đình Thiêm – Chủ tịch HĐQT Vinacafe, cho
biết Vinacafe là Tổng Công ty lớn của ngành nông nghiệp liên tiếp trong 4
năm liền (2006 – 2009) kinh doanh đạt hiệu quả cao, lợi nhuận hàng năm từ
150 – 300 tỷ đồng, nộp ngân sách trên dưới 200 tỷ đồng/năm. Hiện Vinacafe
4
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
đang đầu tư sản xuất trên 35.000 ha trồng cây công nghiệp tại Tây Nguyên,
trong đó trên 20.000 ha trồng cà phê; tạo công ăn việc làm cho trên 30.000
CB, CNV và hàng trăm nghìn hộ đồng bào dân tộc.
Năm 2010, Tổng công ty đã và đang thanh lý 11 nghìn ha cà-phê già cỗi
và tái canh đến năm 2015, đồng thời vừa chính thức thành lập Trung tâm
xuất nhập khẩu cà-phê nhằm tập trung sản phẩm cà-phê xuất khẩu của các
đơn vị thành viên, hoàn thiện đồng bộ từ khâu sản xuất, chế biến đến khâu
xuất khẩu, giúp lãnh đạo công ty hoạch định chiến lược phát triển lâu dài,
xây dựng hệ thống phân phối bán sỉ và lẻ cà-phê tiêu dùng.
Ðến nay, Tổng Công ty Cà phê Việt Nam hiện có 19.221 ha cà phê, nằm
trên các địa bàn các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông, Quảng Trị,
trong đó, các đơn vị thành viên nằm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk quản lý nhiều
diện tích cà phê nhất, với 11.582 ha. Hiện Trung tâm xuất nhập khẩu đã ký
hợp đồng tập trung sản phẩm khoảng 40.000 tấn, nhận và mua 10 nghìn tấn
của các đơn vị trong Tổng công ty. Theo Kế hoạch năm 2010, Vinacafe
khẳng định sẽ duy trì và nâng cao chất lượng tăng trưởng đạt mức cao hơn
năm 2009. Cụ thể, tổng sản lượng cà phê XK sẽ đạt 250.000 tấn (bằng 109%
so với năm 2009), đạt kim ngạch 344,5 triệu USD (bằng 104% so với năm
2009). Đặc biệt, Vinacafe cũng đặt mục tiêu năm 2010 tăng thu nhập cho 3
vạn CB, CNV với mức tăng 24% so với năm 2009.
Sản phẩm cà phê của Tổng công ty cà phê Việt Nam chủ yếu được xuất
khẩu qua các thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản. Trong đó Mỹ là thị trường xuất
khẩu chính của Tổng công ty do Mỹ có dân số đông và thói quen tiêu dùng
cà phê.
5
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
2.2 Chiến lược sản phẩm của Tổng công ty cà phê Việt Nam.
Sản phẩm là yếu tố đầu tiên và quan trọng của Marketing – Mix, các yếu
tố còn lại của chiến lược Marketing – Mix được xác định trên cơ sở yếu tố
sản phẩm đã được xác định. Quyết định về sản phẩm của Tổng công ty là
đưa ra các quyết định về lợi ích và nhãn hiệu sản phẩm hàng hóa, quyết định
về bao gói, quyết định về chủng loại và danh mục hàng hóa.
2.2.1 Quyết định về lợi ích và nhãn hiệu sản phẩm cà phê của Tổng công ty cà
phê Việt Nam
Lợi ích của sản phẩm cà phê xuất khẩu của Tổng công ty cà phê Việt
Nam thể hiện qua chất lượng hàng hóa. Chất lượng cà phê đặc biệt quan
trọng trong chiến lược cạnh tranh của Tổng công ty. Các tiêu chuẩn để đánh
giá chất lượng cà phê là: kích cỡ hạt, tỷ lệ hạt lỗi, độ ẩm, tạp chất.
Nhận thức được điều này, trong những năm qua Tổng công ty cà phê
Việt Nam đã chú ý đến việc nâng cao chất lượng cà phê xuất khẩu để có thể
cạnh tranh với sản phẩm của các doanh nghiệp khác. Điều này thể hiện ở
kích cỡ hạt tăng lên, tỷ lệ hạt lỗi giảm, tình trạng hạt bị ẩm mốc giảm nhiều
hơn so với các năm trước. Hiện nay sản phẩm cà phê xuất khẩu của Tổng
công ty đã áp dụng một số tiêu chí theo tiêu chuẩn cà phê xuất khẩu TCVN
4193:2005 để phù hợp với cách phân loại của Hội đồng Cà phê Thế giới như
hàm lượng ẩm không quá 12,5% và không dưới 8%, đo theo phương pháp
ISO 6673; có màu sáng đẹp hơn, có mùi đặc trưng. Sản phẩm cà phê vối của
Tổng công ty có hương vị thơm đậm, nước pha sẫm màu, vị béo bùi, hơi
đắng rất được khách hàng ưa chuộng. Sản phẩm cà phê chè có nhân nhỏ hơn
tuy nhiên hương vị thơm mát, êm dịu, ít vị đắng chát, dễ uống, sau uống có
cảm giác sảng khoái dễ chịu.
6
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
Chất lượng tăng kéo theo sản lượng cà phê xuất khẩu vào các nước
của Tổng công ty tăng lên. Đây là những cố gắng rất lớn của Tổng công ty
để thực hiện tốt chiến lược sản phẩm của mình.
Tuy nhiên, hiện nay chất lượng cà phê xuất khẩu của Tổng công ty chưa đáp
ứng được tất cả các tiêu chuẩn của Quốc tế. Nhiều lô hàng của VINACAFE
đã bị trả lại do tỷ lệ lỗi của sản phẩm cao, chủ yếu do sản phẩm có nhiều tạp
chất. Điều này ảnh hưởng đến uy tín của Tổng công ty trong việc xuất khẩu
sản phẩm cà phê. Vì thế, Tổng công ty cần có các biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng sản phẩm để hoàn thiện chính sách sản phẩm.
2.2.2 Quyết định về bao gói
Bao bì sản phẩm cà phê xuất khẩu của Tổng công ty ngày càng được cải
thiện về mẫu mã và chất lượng. Hiện nay, bao bì xuất khẩu cà phê của Tổng
công ty là bao tải đay với kích cỡ trọng lượng 60kg/1bao. Loại bao tải này
đảm bảo cho cà phê giữ được độ ẩm, màu sắc cũng như hương vị đặc trưng.
Ngoài ra, trên bao bì có ghi rõ xuất xứ, loại sản phẩm, ngày đóng gói, trọng
lượng một bao và biểu tượng, tên công ty (Viet Nam National Coffee
Corporation).
Việc ghi rõ các thông tin trên bao bì của Tổng công ty nhằm tác dụng làm
cho sản phẩm của Tổng công ty khác biệt so với sản phẩm của các đối thủ
khác và giới thiệu cho các bạn hàng nhập khẩu sản phẩm của Tổng công ty
biết được các thông tin sản phẩm. Qua đó, khách hàng sẽ có sự tin tưởng hơn
đối với sản phẩm của Tổng công ty và sẽ khuyến khích các bạn hàng nhập
khẩu sản phẩm cà phê của Tổng công ty. Điều đó làm tăng khả năng thu hút
khách hàng của Tổng công ty, sử dụng như một công cụ cạnh tranh có hiệu
quả và qua đó giải thích tại sao Tổng công ty cà phê Việt Nam lại có kim
ngạch xuất khẩu cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
7
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
2.2.3 Quyết định về chủng loại và danh mục hàng hóa
Sản phẩm cà phê xuất khẩu hiện nay của Tổng công ty chủ yếu là cà phê
nhân, cà phê hòa tan và cà phê rang xay chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng sản
lượng xuất. Cơ cấu chủng loại sản phẩm cà phê xuất khẩu của Tổng công ty
cà phê Việt Nam cụ thể như sau:
- Cà phê nhân:
+ Cà phê nhân vối Robusta: đây là sản phẩm xuất khẩu chủ lực
của Tổng công ty. Sản phẩm này đạt chất lượng tốt nhất trong toàn ngành.
Cây cà phê chủ yếu được trồng ở Tây Nguyên, nơi có điều kiện tự nhiên lý
tưởng cho tạo ra cà phê thương phẩm có hương vị đậm đà thơm ngon hơn
hẳn các nơi khác trong toàn quốc. Sản phẩm này rất được khách hàng nước
ngoài ưa chuộng.
+ Cà phê nhân chè Arabica: cà phê nhân chè được xuất khẩu ít hơn so
với cà phê vối. Nguyên nhân do diện tích trồng cà phê của Tổng công ty chủ
yếu ở Tây Nguyên mà điều kiện tự nhiên của Tây Nguyên không thích hợp
với trồng cà phê chè.
+ Cà phê tinh chế: Tổng công ty còn xuất khẩu sản phẩm cà phê rang
xay. Tuy nhiên chất lượng loại cà phê này còn thấp, không đủ sức cạnh tranh
trên thị trường thế giới. Vì thế, Tổng công ty không tập trung vào xuất khẩu
loại cà phê này.
Việc Tổng công ty tập trung đầu tư đa dạng hóa các chủng loại, danh mục
sản phẩm cà phê của mình có tác dụng làm tăng sự lựa chọn của khách hàng,
tạo sự khác biệt giữa sản phẩm của Tổng công ty với sản phẩm của các đối
thủ khác. Từ đó, khuyến khích các bạn hàng quan tâm và nhập khẩu cà phê
của Tổng công ty.
8
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
Qua các phân tích trên ta có thể thấy Tổng công ty cà phê Việt
Nam đã sử dụng chiến lược khác biệt hóa sản phẩm. Tổng công ty sử
dụng các biến tạo sự khác biệt sau:
- Về sản phẩm: sản phẩm cà phê xuất khẩu của Tổng công ty có sự khác
biệt với các sản phẩm của các đối thủ khác như tính chất của sản phẩm cà
phê là cà phê sơ chế, có màu sắc, mùi vị dặc trưng. Ngoài ra, trên bao bì
của cà phê xuất khẩu có ghi rõ tên công ty cũng như nguồn gốc sản phẩm,
ngày đóng gói… Điều này tạo sự tin cậy cho các khách hàng nhập khẩu
cà phê của Tổng công ty.
- Về hình ảnh: sản phẩm cà phê xuất khẩu của Tổng công ty trên bao bì
có in logo và tên Tổng công ty (Viet Nam National Coffee Corporation).
Chính các biến trên đã làm cho sản phẩm của Tổng công ty khác
biệt với các sản phẩm của các đối thủ. Việc kim ngạch xuất khẩu của
Tổng công ty chiếm cao nhất trong tổng kim ngạch của cả nước về xuất
khẩu cà phê một phần cũng cho thấy Tổng công ty đã sử dụng thành công
chiến lược khác biệt hóa sản phẩm.
2.3 Chiến lược xúc tiến hỗ trợ
Tổng công ty cà phê Việt Nam đã sử dụng chiến lược xúc tiến hỗ
trợ thông qua các hình thức sau:
2.3.1 Quảng cáo
Tổng công ty cà phê Việt Nam đã sử dụng hình thức quảng cáo để
giới thiệu sản phẩm cà phê của mình đến các thị trường nhập khẩu cà phê.
Mục tiêu mà Tổng công ty muốn hướng tới trong chiến lược quảng cáo là
nhằm tạo nhận thức cho các bạn hàng và thuyết phục khách hàng về
thuộc tính đặc trưng của sản phẩm cà phê của Tổng công ty. Các phương
9
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
tiện quảng cáo mà Tổng công ty sử dụng là báo chí, tạp chí, truyền hình.
Thông điệp quảng cáo của Tổng công ty là cà phê hương vị thiên nhiên
(Natural Flavor). Điều này đảm bảo yêu cầu của một thông điệp quảng
cáo là ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu, độc đáo.
Quảng cáo trên báo chí có ưu điểm là linh hoạt, kịp thời, bao quát
được thị trường, được nhiều người chấp nhận và có độ tin cậy cao. Tuy
nhiên, phương tiện này có nhược điểm là thời gian tồn tại ngắn, lượng tái
hiện kém, ít người đọc. Quảng cáo trên tạp chí có ưu điểm là địa bàn và
công chúng chọn lọc, tin cậy và uy tín, quan hệ với người đọc lâu dài tuy
nhiên thời gian chờ đợi lâu. Một phương tiện quảng cáo mà Tổng công ty
sử dụng nữa là quảng cáo trên truyền hình. Ưu điểm của phương tiện này
là khai thác được cả âm thanh và hình ảnh, đối tượng khán giả rộng và
thuộc nhiều tầng lớp, khả năng truyền thông nhanh, thu hút mạnh sự chú
ý. Có thể nói phương tiện quảng cáo trên truyền hình là cho hiệu quả cao
nhất. Tuy nhiên trong ba phương tiện này, phương tiện quảng cáo trên
truyền hình là được Tổng công ty sử dụng ít nhất do chi phí cao Tổng
công ty không đủ kinh phí, do những khó khăn trong môi trường cạnh
tranh, môi trường chính trị.
2.3.2 Tuyên truyền
Tổng công ty sử dụng các hoat động sau để thực hiện hình tức
tuyên truyền:
- Catalog cho khách hàng nước ngoài: catalog cung cấp đầy đủ các
thông tin về hình ảnh sản phẩm, kích cỡ, số lượng, các tiêu chuẩn mặt
hàng cà phê của Tổng công ty.
10
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
- Các xuất bản phẩm của ngành: Tổng công ty có một tập san chuyên
ngành cà phê cung cấp các thông tin về thị trường trong và ngoài nước
cũng như tình hình sản xuất k inh doanh của Tổng công ty.
- Thông qua các hội thảo về cà phê trong và ngoài nước để giới thiệu về
sản phẩm cà phê của Tổng công ty, nhất là các hội thảo ở nước ngoài.
- Thông qua các gian hàng hội chợ triển lãm trong và ngoài nước để
giới thiệu về sản phẩm. Ví dụ như trong năm 2007, “tuần lễ văn hóa cà
phê 2007” do UBND tỉnh Đăk Lăk tổ chức khai mạc tại Hà Nội, Tổng
công ty cà phê Việt Nam cũng tham gia để giới thiệu và xúc tiến
thương mại sản phẩm. Thông qua “tuần lễ văn hóa cà phê 2007”, Tổng
công ty đã làm cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước chú ý đến
sản phẩm cà phê của Tổng công ty. Hoặc một ví dụ khác như vào ngày
03/03/2010, tại TP Hồ Chí Minh, Tổng công ty cà-phê Việt Nam
(Vinacafe) tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
năm 2010. Qua hội nghị, Tổng công ty đã giới thiệu đến các bạn hàng
trong và ngoài nước các sản phẩm của mình. Đây là các hoạt động xúc
tiến rất có hiệu quả. Nhờ đó mà sau năm 2007, kim ngạch xuất khẩu
cà phê của Tổng công ty tăng lên rõ rệt.
Qua kết quả xuất khẩu của Tổng công ty ta thấy các hình thức của
chiến lược xúc tiến hỗ trợ đã được Tổng công ty sử dụng một cách có
hiệu quả.
11
Tiểu luận Marketing Nguyễn Thị Huyền Thương – PTNT 52
III. NHẬN XÉT CỦA BẢN THÂN
Qua phân tích các chiến lược Marketing – Mix mà Tổng công ty cà
phê Việt Nam đã sử dụng em thấy:
Tổng công ty tập trung vào hai chiến lược là chiến lược sản phẩm
và chiến lược xúc tiến hỗ trợ. Việc tập trung vào hai chiến lược cụ thể có
thể tạo ra hiệu quả như Tổng công ty đã đạt được nhưng theo em nếu như
Tổng công ty tập trung sử dụng tổng hợp các chiến lược của Marketing –
Mix (tập trung đầu tư hơn vào chiến lược giá cả và phân phối) thì có thể
Tổng công ty sẽ đạt hiệu quả hơn nữa.
Về chiến lược sản phẩm của Tổng công ty, theo em trong tương lai
Tổng công ty nên đầu tư nâng cao chất lượng của sản phẩm hiện có hoặc
đầu tư tạo ra các sản phẩm mới để hoàn thiện hơn chiến lược sản phẩm
của mình.
Về chiến lược xúc tiến hỗ trợ, Tổng công ty đã có sử dụng các
phương tiện xúc tiến như quảng cáo, tuyên truyền. Tuy nhiên, trong
phương tiện quảng cáo, Tổng công ty chưa đầu tư vào phương tiện quảng
cáo trên truyền hình, một phương tiện mà cho hiệu quả rất cao. Theo em,
Tổng công ty nên chú ý đầu tư vào phương tiện này để nâng cao hiệu quả
của chiến lược xúc tiến hỗ trợ.
12
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)