Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh

Chương IV - Kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh


113
Đối với các cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp
khấu trừ thuế thì:
+ Doanh thu bán hàng là toàn bộ tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ (chưa có thuế GTGT)
bao gồm cả phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có) mà cơ sở kinh doanh được hưởng.
+ Thu nhập hoạt động tài chính, thu nhập bất thường là thu nhập chưa có thuế GTGT.
Đối với các cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộ
p thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
trên GTGT và đối với hàng hoá, dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT:
+ Doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ, bao gồm cả phụ
thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có) mà cơ sở kinh doanh được hưởng (tổng giá thanh toán
bao gồm cả thuế).
+ Thu nhập hoạt động tài chính, thu nhập bất thường là tổng thu nhập (tổng giá thành toán).
Khi bán hàng, cung cấp thực hiện lao vụ dịch vụ các c
ơ sở kinh doanh phải thực hiện đầy
đủ các chứng từ, hoá đơn qui định của pháp luật làm căn cứ để kế toán thuế GTGT bao gồm:
- Hoá đơn bán hàng.
+ Mẫu 02/GTGT theo Quyết định 885/1998/QĐ-BTC ngày 16/7/1998.
+ Theo Quyết định 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 và Quyết định 54/TC/TCT ngày
20/2/1991 (trừ HĐ có xê ri 91).
- Hoá đơn giá trị gia tăng.
- Bản kê bán lẻ hàng hoá, dịch vụ và các hoá đơn tự in, chứng từ đặc thù
4.2.2- Tổ chức kế toán qu
ản trị doanh thu.
Các nhà quản trị doanh nghiệp luôn luôn cần thiết thông tin một cách chi tiết cụ thể về chi
phí - doanh thu và kết quả của từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm, lao vụ dịch vụ để đáp ứng
yêu cầu quản lý vĩ mô, để có được những quyết định đúng đắn cho sự phát triển doanh nghiệp
không chỉ trong thời gian hiện tại mà cả về tươ
ng lai lâu dài. Việc kế toán chi tiết chi phí doanh
thu - kết quả sẽ giúp cho các chủ doanh nghiệp quyết định nên mở rộng hay thu hẹp qui mô hoạt
động, mở rộng, thu hẹp như thế nào, tới mức độ nào hay đình chỉ, quyết định tiếp tục SXKD hay
chuyển hướng hoạt động.
Việc tổ chức kế toán chi tiết doanh thu tiêu thụ phải được tiến hành riêng thành doanh thu
tiêu thụ ra bên ngoài và doanh thu tiêu thụ nội bộ và thành các khoản doanh thu tương
ứng sau:
- Doanh thu bán hàng.
- Doanh thu bán hàng bị chiết khấu.
- Doanh thu của hàng hoá đã bán, lao vụ đã cung cấp bị trả lại hoặc không được chấp nhận
thanh toán.
- Doanh thu bị giảm giá do giảm giá hàng bán.
Ngoài ra doanh thu bán hàng ra bên ngoài và doanh thu bán hàng nội bộ đều phải được tổ
chức kế toán chi tiết cho từng loại hình kinh doanh, trong từng loại lại phải tổ chức kế toán chi tiết
theo từng loại sản phẩm, hàng hoá dịch vụ nhằm phục vụ cho việc xác định đầy đủ, chính xác
Chương IV - Kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh


114
kết quả kinh doanh theo yêu cầu quản lý tài chính và lập báo cáo kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
Các khoản giảm doanh thu: Doanh thu hàng bán bị trả lại, khoản giảm giá hàng bán phát
sinh thực tế trong kỳ (thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu của hàng bán) phải được hạch toán chi
tiết riêng trên các tài khoản, số kế toán liên quan.
Việc hạch toán doanh thu bán hàng phải tôn trọng nguyên tắc chi phí và doanh thu của hoạt
động sản xuất kinh doanh thực tế phát sinh phải phù hợ
p theo niên độ kế toán. Riêng đối với
những sản phẩm, dịch vụ doanh nghiệp đã cung cấp cho khách hàng và được khách hàng trả trước
một lần cần hạch toán riêng thành khoản doanh thu nhận trước, sau đó sẽ tính toán kết chuyển số
doanh thu tương ứng của từng kỳ vào khoản doanh thu bán hàng.
Tuỳ thuộc vào phương thức bán hàng mà doanh thu tiêu thụ, còn cần được tổ chức kế toán
chi tiết thành:
- Doanh thu bán hàng thu tiền ngay.
- Doanh thu bán hàng người mua chư
a trả.
- Doanh thu bán hàng trả góp.
- Doanh thu bán hàng đại lý (ký gửi).
- Doanh thu nhận trước.
Các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu còn phải mở sổ chi tiết để theo dõi doanh thu
hàng xuất khẩu.
Trường hợp hàng bán phải chịu các thuế suất khác nhau, doanh nghiệp còn phải theo dõi chi
tiết doanh thu theo từng loại thuế suất.
Căn cứ vào yêu cầu quản trị kinh doanh mà việc kế toán quản trị doanh nghiệp cần được
thực hiện trên các TK, số
kế toán phù hợp với loại hình, đặc điểm hoạt động SXKD của doanh
nghiệp.
Đối với số doanh thu bán hàng ra ngoài được phản ánh tổng hợp trên TK 511 "Doanh thu
bán hàng". Tài khoản này phản ánh giá trị của sản phẩm hàng hoá, lao vụ dịch vụ mà doanh
nghiệp đã bán, đã cung cấp cho khách hàng (doanh thu đã thực hiện hoặc thu tiền ngay, hoặc được
người mua chấp nhận thanh toán), cũng như các khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lạ
i và
thuế tiêu thụ (thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu) để xác định doanh thu thuần kết chuyển sang
Tài khoản 911 "Xác định kết quả kinh doanh" để tính lãi, lỗ về hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Để theo dõi chi tiết doanh thu của từng loại hoạt động TK 511 được mở thành 4 TK cấp 2:
TK 5111 : Doanh thu bán hàng hoá.
TK 5112 : Doanh thu bán thành phẩm.
TK 5113 : Doanh thu cung cấp dịch vụ.
TK 5114 : Doanh thu trợ cấp, trợ giá.
Chương IV - Kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh


115
Từng TK cấp 2 nêu trên lại được mở chi tiết hơn cho từng loại hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ,
thí dụ TK 5112 có thể mở thành:
51121 - Doanh thu bán thành phẩm A.
51122 - Doanh thu bán thành phẩm B.
Đối với các doanh nghiệp có thực hiện tiêu thụ nội bộ, thì doanh thu bán hàng nội bộ được
phản ánh chung trên TK 512 "Doanh thu bán hàng nội bộ" và cũng mở chi tiết thành các TK cấp 2
tương ứng cho từng loại hoạt động.
5121 : Doanh thu bán hàng hoá trong nội bộ.
5122 : Doanh thu bán sản phẩm trong nội bộ.
5123 : Doanh thu cung cấp dịch vụ trong nội bộ.
Các tài khoản cấp 2 trên cũng được mở chi tiết hơn tuỳ theo yêu cầu quản trị của mỗi doanh
nghiệp.
Trường hợp khách hàng thanh toán tiền hàng trước thời hạn quy định hoặc vì một lý do ưu
đãi nào đó mà được doanh nghiệp giảm trừ sẽ được thanh toán riêng thành khoản chiết khấu bán
hàng, đồng thời theo dõi khoản chiết khấu này riêng biệt cho t
ừng hoạt động tiêu thụ: hàng hoá,
thành phẩm và cung cấp dịch vụ.
Mục đích của việc tiêu thụ, bán hàng là thu được tiền để bù đắp trang trải các chi phí liên
quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay cung cấp thực hiện lao vụ dịch vụ và các chi phí
liên quan trong quá trình bán hàng, chi phí QLDN. Do vậy cùng với việc thúc đẩy quá trình tiêu
thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ là quá trình thu hồi kịp thời số tiền mà khách hàng phải trả v

những sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ doanh nghiệp đã cung cấp. Việc theo dõi, kiểm tra và đôn đốc
khách hàng thanh toán kịp thời có ảnh hưởng lớn đến quá trình thu hồi vốn để tiếp tục sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy đối với những khách hàng còn nợ doanh nghiệp, cũng cần
phải tổ chức kế toán chi tiết riêng theo từng khách hàng trên các tài khoản, sổ kế toán liên quan.
Toàn bộ số tiền còn ph
ải thu của khách hàng cũng như tình hình thanh toán của khách hàng
được phản ánh tổng hợp trên TK 131 "Phải thu của khách hàng". Song, các doanh nghiệp phải mở
chi tiết TK 131 thành các TK cấp 2 riêng cho từng khách hàng, thí dụ:
TK 1311 - Thanh toán với khách hàng X.
TK 1312 - Thanh toán với khách hàng Y.
Việc theo dõi chi tiết theo từng khách hàng, người mua trên sổ chi tiết thanh toán với người
mua giúp cho doanh nghiệp biết được số tiền còn phải thu đối với từng khách hàng, thông qua đó
mà có biện pháp đôn đốc kịp thời, để thu hồi đủ.
Trường h
ợp những khách hàng có tình hình tài chính kém, không có khả năng thanh toán,
đã quá hạn thanh toán lâu cần được theo dõi riêng để trích lập dự phòng các khoản phải thu khó
đòi tính vào chi phí QLDN hoặc có biện pháp xử lý cho phù hợp. Về nguyên tắc, căn cứ lập dự
phòng là phải có những bằng chứng đáng tin cậy về các khoản nợ phải thu khó đòi (khi khách
hàng bị phá sản, bị tổn thất, thiệt hại lớn về tài sản hoặc đã làm thủ tục đ
òi nợ nhiều lần nhưng
không đòi được).
Chương IV - Kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh


116
Đối với những khoản phải thu khó đòi kéo dài trong nhiều năm, nếu doanh nghiệp đã cố
gắng mọi biện pháp nhưng không thu nợ được và khách hàng thực sự không còn khả năng thanh
toán thì cần xoá các khoản nợ phải thu khó đòi trên sổ kế toán và chuyển sang theo dõi chi tiết
thành khoản nợ khó đòi đã xử lý.
Ngoài việc mở các tài khoản chi tiết để theo dõi chi tiết từng loại doanh thu cũng như khoản
thanh toán vớ
i từng khách hàng, cần phải mở các sổ kế toán chi tiết tương ứng để theo dõi phù
hợp với yêu cầu quản trị doanh nghiệp.
Sổ chi tiết doanh thu bán hàng của từng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cần phải đảm bảo
được các nội dung sau:
- Ngày tháng ghi sổ.
- Số hiệu và ngày lập của chứng từ.
- Tóm tắt nội dung của chứng từ (nghiệp vụ kinh tế phát sinh).
- TK đối ứng.
- Số lượng, đơn giá, thành tiền của sản phẩm tiêu thụ.
- Các khoản tính trừ doanh thu.
Mẫu sổ chi tiết doanh thu bán hàng có thể kết cấu như sau: (Bảng 4.3)
Bảng 4.3 - Sổ chi tiết doanh thu bán hàng
Tên sản phẩm (hàng hoá, dịch vụ)
Chứng từ Doanh thu Các khoản tính trừ
Ngày
tháng
Số
Ngày
Nội dung
TK
đối
tượng
Số lượng
Đơn
giá
Thành
tiền
Khác
Thuế tiêu
thụ
Cộng phát sinh
Doanh thu thuần
Giá vốn hàng bán
Lãi gộp
Trong nhiều trường hợp doanh nghiệp có thể kết hợp sổ chi tiết doanh thu bán hàng với sổ
chi tiết xác định kết quả kinh doanh.
Sổ chi tiết thanh toán với khách hàng được mở riêng cho từng khách hàng để theo dõi tình
hình thanh toán giữa khách hàng với doanh nghiệp. Trường hợp phát sinh các nghiệp vụ bằng
ngoại tệ thì phải theo dõi riêng cả nguyên tệ và qui đổi ra đồng Việt Nam. Cũng có thể mở sổ theo
dõi thanh toán với khách hàng bằng tiền Việt Nam riêng và bằng ngoạ
i tệ riêng. Song, trong nhiều
doanh nghiệp người ta thường kết hợp với nhau và kết cấu như sau: (bảng 4.4)



117
BẢNG 4.4 - SỔ CHI TIẾT THANH TOÁN VỚI NGƯỜI MUA (KHÁCH HÀNG)
TK 131 - Phải thu của khách hàng
Tên khách hàng:

Chứng từ
Số phát sinh Số dư
Nợ Có Nợ Có
Ngoại tệ Ngoại tệ Ngoại tệ Ngoại tệ

Ngày
tháng
ghi sổ

Số

Ngà
y


Nội dung

TK
đối
ứng


Tỷ
giá
Thời
gian
đượ
c
chiết
khấ
u

Tiền
VN
N/tệ Qui ra
VNĐ

Tiền
VN
N/tệ Qui ra
VNĐ

Tiền
VN
N/tệ Qui ra
VNĐ

Tiền
VN
N/tệ Qui
ra
VNĐ

1. Số dư đầu
kỳ.


2. Số phát sinh
trong kỳ





Cộng số PS


3. Số dư cuối
kỳ


Chương IV - Kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh


118
4.3- KẾ TOÁN CHI TIẾT KẾT QUẢ KINH DOANH.
4.3.1- Phương pháp xác định kết quả kinh doanh.
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp sau một thời kỳ hoạt động chính là chênh lệch giữa
đầu ra và đầu vào của hoạt động SXKD. Tuy nhiên số chênh lệch đó chỉ mới nói lên kết quả lãi
(lỗ) tổng hợp của toàn bộ hoạt động SXKD.
Do hoạt động SXKD của doanh nghiệp gồm nhiều loại hoạt động khác nhau nên kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp trước h
ết được chia thành 3 loại:
1/ Kết quả hoạt động SXKD thông thường: Kết quả tiêu thụ sản phẩm, kinh doanh mua bán
vật tư hàng hoá, cung cấp thực hiện lao vụ dịch vụ.
Kết quả hoạt động SXKD thông thường là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng với trừ đi
các khoản: Giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, giá vốn
hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí QLDN.
Và để phù hợ
p và thuận tiện cho việc tổng hợp số liệu lập các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh thì kết quả hoạt động SXKD thông thường được xác định theo trình tự sau:
(4.6)
a. Doanh thu thuần =
Tổng doanh thu
(theo HĐ)
-
Các khoản
giảm trừ
Các khoản giảm trừ gồm:
- Giảm giá hàng bán.
- Doanh thu hàng bán bị trả lại.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp.

b. Lợi nhuận gộp =
Doanh thu thuần
(thực thu)
-
Giá vốn (4.7)
hàng bán

c. Lợi nhuận thuần
(Kết quả kinh doanh)
=
Lợi nhuận
gộp
-
Chi phí bán
hàng
-
Chi phí (4.8)
QLDN
Lợi nhuận thuần (kết quả kinh doanh) chính là số lãi (lỗ) về hoạt động sản xuất kinh doanh
thông thường.
2/ Kết quả hoạt động tài chính.
Kết quả hoạt động tài chính là lợi nhuận thuần từ
hoạt động về đầu tư chứng khoán, cho
vay, kinh doanh bất động sản Lợi nhuận từ hoạt động tài chính là số chênh lệch giữa doanh thu
(thu nhập) hoạt động tài chính với chi phí về hoạt động tài chính.
Lợi nhuận thuần hoạt
động tài chính
=
Doanh thu hoạt
động tài chính
-
Chi phí hoạt (4.9)
động tài chính
Chương IV - Kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh


119
3/ Kết quả bất thường: Đây là số chênh lệch giữa doanh thu bất thường với chi phí bất
thường:
Lợi nhuận bất thường =
Doanh thu bất
thường
-
Chi phí (4.10)
bất thường
Kết quả từng loại hoạt động tính như trên cũng mới thể hiện số tổng hợp về doanh thu, thu
nhập, chi phí để xác định kết quả từng loại hoạt độ
ng, xong với các nhà quản trị doanh nghiệp
điều quan trọng cần thiết hơn là họ phải biết được kết quả lãi (lỗ) không chỉ riêng cho từng hoạt
động mà trong từng hoạt động cần phải biết cụ thể cho từng loại sản phẩm, từng loại lao vụ dịch
vụ, từng loại nghiệp vụ (chứng khoán ngắn hạn, dài hạn, đầu tư góp vốn liên doanh ngắ
n hạn, dài
hạn ). Đó chính là công việc của các cán bộ kế toán phải cung cấp đầy đủ thông tin cho các nhà
quản trị doanh nghiệp ra được các quyết định phù hợp: Sản xuất tiếp hay thôi, mở rộng qui mô
hay thu hẹp, chuyển hướng SXKD, đầu tư cho vay hay sản xuất Nói cách khác, cần thiết phải tổ
chức kế toán chi tiết kết quả kinh doanh.
4.3.2- Tổ chức kế toán quản trị kết quả kinh doanh.
Việc t
ổ chức kế toán quản trị kết quả kinh doanh của từng mặt hàng, sản phẩm, từng loại lao
vụ dịch vụ cần phải được tiến hành một cách đồng bộ và bắt đầu tư khâu tổ chức kế toán chi tiết
chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm để xác định được trị giá vốn hàng bán, tới việc kế toán chi
tiết doanh thu, thu nhập và việc phân bổ các chi phí thời kỳ: Chi phí bán hàng, chi phí qu
ản lý
doanh nghiệp.
Trong từng khâu cần phải tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản và sổ kế toán chi tiết để có
thể tập hợp những số liệu, thông tin liên quan mà xác định được chi tiết kết quả kinh doanh từng
mặt hàng sản phẩm, từng loại lao vụ dịch vụ.
Trị giá vốn hàng bán có thể được tính theo những phương pháp khác nhau, tuỳ thuộc vào
đặc điểm hình thành và sự v
ận động của hàng bán trong từng loại hình doanh nghiệp và việc đăng
ký phương pháp tính trị giá thực tế hàng xuất kho của doanh nghiệp.
Đối với DNSX trị giá vốn hàng bán chính là giá thành sản xuất (tính riêng theo từng khoản
mục) thực tế của sản phẩm đã bán. Giá thực tế (trị giá vốn) hàng bán trong các doanh nghiệp này
có thể tính theo một trong các phương pháp sau:
1/ Phương pháp đơn giá bình quân.
a- Bình quân đầu kỳ.
b- Bình quân gia quyền.
b1- Bình quân liên hoàn (sau mỗi lần nhập - xuấ
t).
b2- Bình quân của hàng luân chuyển trong kỳ (bình quân toàn bộ số hàng tồn đầu kỳ và
nhập trong kỳ).
2/ Phương pháp nhập trước - xuất trước.
3/ Phương pháp nhập sau - xuất trước.
4/ Phương pháp giá đích danh.
5/ Phương pháp hệ số giá.
Chương IV - Kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh


120
Đối với các doanh nghiệp thương mại kinh doanh mua bán vật tư hàng hoá thì trị giá vốn
hàng bán được xác định bằng trị giá mua cộng với chi phí mua phân bổ cho số hàng đã bán.
Trị giá mua của hàng xuất kho bán được tính theo một trong các phương pháp nêu trên như
ở các DNSX.
Chi phí mua phân bổ cho hàng xuất kho bán được căn cứ vào toàn bộ số chi phí mua của
hàng nhập kho tập hợp trên các TK, sổ kế toán liên quan rồi phân bổ theo các tiêu thức hợp lý,
thường thì phân bổ theo trị giá mua như sau: (4.11)
Chi phí mua c
ủa
hàng tồn đầu kỳ
+
Chi phí mua của hàng
nhập trong kỳ
Chi phí mua
phân bổ cho
hàng xuất kho
bán
=
Trị giá mua của
hàng tồn đầu kỳ
+
Trị giá mua của hàng
nhập trong kỳ
x
Trị giá mua của
hàng xuất trong
kỳ
Sau đó tính trị giá vốn hàng xuất kho bán: (4.12)
Trị giá vốn hàng
xuất kho bán
=
Trị giá mua hàng
xuất kho bán
+
Chi phí mua phân bổ cho
hàng xuất kho bán
Theo qui định hiện hành của chế
độ kế toán tài chính, chi phí bán hàng và chi phí quản lý
doanh nghiệp tập hợp trong kỳ được kết chuyển toàn bộ trừ vào lợi nhuận gộp để tính toán, xác
định kết quả lợi nhuận thuần của hoạt động SXKD thông thường. Tuy nhiên để đáp ứng yêu cầu
quản trị doanh nghiệp cũng như việc tính toán chi tiết kết quả kinh doanh của từng loại sản phẩm,
lao vụ, dịch vụ mà chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệ
p trong nhiều trường hợp phải
phân bổ cho cả số sản phẩm, vật tư hàng hoá đã tiêu thụ và số sản phẩm vật tư hàng hoá đã sản
xuất ra hoặc mua vào chưa được tiêu thụ (còn tồn kho).
Thường các doanh nghiệp tiến hành phân bổ chi phí bán hàng, chi phí QLDN cho hàng đã
bán theo tiêu chuẩn giá vốn hàng xuất bán như sau: (4.13)
CPBH (CPQLDN) của
hàng tồn đầu kỳ
+
CPBH (CPQLDN)
phát sinh trong kỳ
Chi phí bán hàng (chi
phí QLDN) phân bổ
cho hàng đã bán
=
Trị giá vốn hàng tồn
đầu kỳ
+
Trị giá vốn hàng
nhập trong kỳ
x
Trị giá vốn
hàng đã bán
trong kỳ
Đối với các khoản giảm từ doanh thu: Giảm giá hàng bán, doanh thu hàng bán bị trả lại và
thuế xuất khẩu (nếu có) cũng phải được tổ chức kế toán chi tiết trên cơ sở các chứng từ gốc hợp lý
để ghi sổ kế toán chi tiết theo từng mặt hàng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ.
Để kế toán quản trị kết quả kinh doanh của từng mặt hàng, sản phẩm, từng lo
ại lao vụ dịch
vụ, doanh nghiệp có thể mở kết hợp cả sổ chi tiết doanh thu và sổ chi tiết kết quả kinh doanh
thành một sổ "Sổ chi tiết tiêu thụ và kết quả" như mẫu sau: (Bảng 4.5)





Chương IV - Kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh


121
SỔ CHI TIẾT TIÊU THỤ, KẾT QUẢ Bảng 4.5
Tên sản phẩm (hàng hoá, dịch vụ)
Chứng từ Doanh thu
Các khoản
giảm trừ
Số
TT
Ngày
tháng
ghi sổ
Số
Ngày
Diễn giải
tóm tắt
nội dung
chứng từ
Số
lượng
Đơn
giá
Thành
tiền
Chiết
khấu
Giảm
giá

Chi
phí
bán
hàng
Chi
phí
QL
DN
Lãi
(lỗ)




Việc kế toán quản trị thu nhập, chi phí và kết quả từng nghiệp vụ đối với hoạt động tài
chính và các nghiệp vụ bất thường cũng được tiến hành trên cơ sở các chứng từ gốc và sổ kế toán
chi tiết được mở phù hợp với yêu cầu quản trị doanh nghiệp.
Với việc tổ chức kế toán chi tiết doanh thu và kết quả kinh doanh từng hoạt động, từ
ng mặt
hàng, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ các nhà quản trị doanh nghiệp có thể thực hiện việc phân tích,
đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu và kế hoạch lợi nhuận cũng như việc xác định
mức độ ảnh hưởng của các nhân tố: Khối lượng sản phẩm tiêu thụ, kết cấu mặt hàng, giá thành
sản phẩm đến lợi nhuận của doanh nghiệp từ đ
ó mà ra được các quyết định phù hợp cho sự phát
triển SXKD của doanh nghiệp.
Chương V- Phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận


122
CHƯƠNG 5
PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA
CHI PHÍ - KHỐI LƯỢNG - LỢI NHUẬN
5.1. Ý, NGHĨA
Phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận là xem xét mối quan hệ
nội tại của các nhân tố : giá bán, sản lượng, chi phí khả biến, chi phí bất biến và kết cấu mặt
hàng, đồng thời xem xét sự ảnh hưởng của các nhân tố đó đến lợi nhuận của doanh nghiệp .
Phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng -lợi nhuận có ý nghĩa vô cùng quan
trọng trong việc khai thác khả năng tiềm tàng c
ủa doanh nghiệp, là cơ sở để đưa ra các
quyết định như: chọn dây chuyền sản phẩm sản xuất, định giá sản phẩm, chiến lược bán
hàng v.v
Để thực hiện phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận cần thiết
phải nắm vững cách ứng xử của chi phí để tách toàn bộ chi phí của doanh nghiệp thành khả
biến, bất biến, phải hiểu rõ báo cáo thu nhậ
p theo số dư đảm phí, đồng thời phải nắm vững
một số khái niệm cơ bản sử dụng trong phân tích.
5.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN, SỬ DỤNG TRONG PHÂN TÍCH MỐI QUAN
HỆ GIỮA CHI PHÍ - KHỐI LƯỢNG - LỢI NHUẬN.
5.2.1. Số dư đảm phí ( CM- contribution margin)
Số dư đảm phí (hay còn gọi là Lãi trên biến phí) là chênh lệch giữa doanh thu và chi
phí khả biến. Số dư đảm phí khi đã bù đắp chi phí bất biến, số dôi ra sau khi bù đắp chính là
lợi nhuận. Số dư đảm phí có thể tính cho tất cả loại sản phẩm, một loại sản phẩm và một
đơn vị sản phẩm.
- Nếu gọi x: số lượng, g: giá bán, a: chi phí khả biến đơn v
ị, b: chi phí bất biến. Ta có
báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí như sau:
Tổng số Tính cho 1 sp
1. Doanh thu gx g
2. Chi phí khả biến ax a
3. Số dư đảm phí (g - a) x g - a
4. Chi phí bất biến b b/x
5. Lợi nhuận (g -a ) x - b
Từ báo cáo thu nhập tổng quát trên ta xét các trường hợp sau:
• Khi x
n
không hoạt động sản lượng x = 0 ⇒ lợi nhuận doanh nghiệp : P = -b nghĩa là
doanh nghiệp lỗ bằng chi phí bất biến.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét