Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động ở Công ty giầy Thượng Đình " docx

Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
4
dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm
được thực hiện. Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động gọi là
tài sản lưu động( TSLĐ ). Trong các doanh nghiệp, TSLĐ gồm TSLĐ sản xuất
và TSLĐ lưu thông.
TSLĐ sản xuất gồm những vật tư dự trữ để chuẩn b
ị cho quá trình sản
xuất được liên tục, vật tư đang nằm trong quá trình sản xuất chế biến và những t-
ư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định. Thuộc về TSLĐ sản xuất
gồm: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, sản
phẩm dở dang, công cụ lao động nhỏ.
TSLĐ lưu thông gồm: sản phẩm hàng hoá chưa tiêu thụ
, vốn bằng tiền,
vốn trong thanh toán.
Quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu
thông. Trong quá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tài sản l-
ưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn chuyển hoá lẫn nhau, vận
động không ngừng làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục. Để hình
thành nên tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông doanh nghiệp
cần phải có mộ
t số vốn tương ứng để đầu tư vào các tài sản ấy, số tiền ứng trước
về những tài sản ấy được gọi là tài sản lưu động( TSLĐ )của doanh nghiệp.
Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển
trong quá trình kinh doanh.Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp ,tài sản
lưu động được thể hiện ở các bộ phận ti
ền mặt ,các chứng khoán thanh khoản
cao,phải thu và dự trữ tồn kho.Gía trị các loại TSLĐ của doanh nghiệp kinh
doanh ,sản xuất thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của
chúng.Quản lý sử dụng hợp lý các loại TSLĐ có ảnh hưởng rất quan trọng đối
với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp.
1.1.2. Phân loại, kết cấu tài sản lưu động.
1.1.2.1. Phân loại tài sản lưu động
Có thể phân loại TSLĐ theo khả năng chuyển đổi và đặc điểm kinh tế của
từng nhóm:
a, Tiền(Cash)
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
5
Tất cả tiền mặt tại quỹ ,tiền trên các tài khoản ngân hàng và tiền đang
chuyển .Lưu ý rằng ,ở đây tiền (hay vốn bằng tiền )không phải chỉ là tiền mặt
.Nhiều người nhầm lẫn khái niệm Cash trong tiếng Anh và cho nó đồng nghía
với khái niệm tiền mặt trong tiếng Việt.Theo ngôn ngữ tiếng Việt Nam ,”tiền
mặt “ không bao gồm tiền gửi ngân hàng.Khi các doanh nghiệp thanh toán bằng
séc hoặc chuy
ển khoản thì được gọi là “thanh toán không dùng tiền mặt “.Trong
lĩnh vực tài chính- kế toán ,tài sản bằng tiền “Cash “của một công ty hay doanh
nghiệp bao gồm:
+Tiền mặt(Cash on hand)
+Tiền gửi ngân hàng(Bank accounts)
+Tiền dưới dạng séc các loại (Cheques)
+Tiền trong thanh toán(Floating money,Advanced payment)
+Tiền trong thẻ tín dụng và các loại tài khoản thẻ ATM
b,Vàng,bạc ,đá quý và kim khí quý
Đây là nhóm tài sản đặc biệt ,chủ yếu dùng vào mục đích dự trữ.Tuy
vậy,trong một số
nghành như ngân hàng ,tài chính ,bảo hiểm ,trị giá kim cương
,đá qúy ,vàng bạc ,kim khí quý vv có thể rất lớn
c,Các tài sản tương đương với tiền(cash equivalents)
Nhóm này gồm các tài sản tài chính có khả năng chuyển đổi cao ,tức là dễ
bán ,dễ chuyển đổi thành tiền khi cần thiết.Tuy nhiên, không phải tất cả các loại
chứng khoán đều thuộc nhóm này .Chỉ có các chứng khoán ngắn hạn dễ bán mới
được coi là TSLĐ thuộc nhóm này.Ngoài ra,các giấy tờ thươ
ng mại ngắn hạn
,được bảo đảm có độ an toàn cao thì cũng thuộc nhóm này.Ví dụ:hối phiếu ngân
hàng,kỳ phiếu thương mại,bộ chứng từ hoàn chỉnh…
d, Chi phí trả trước(Prepaid expenses)
Chi phí trả trước bao gồm các khoản tiền mà công ty đã trả trước cho
người bán ,nhà cung cấp hoặc các đối tượng khác .Một số khoản trả trước có thể
có mức độ rủi ro cao vì phụ thuộc vào một s
ố yếu tố khó dự đoán trước
e,Các khoản phải thu(Accounts receivable)
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
6
Các khoản phải thu là một tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp ,đặc
biệt là các công ty kinh doanh thương mại ,mua bán hàng hoá.Hoạt động mua
bán chịu giữa các bên ,phát sinh các khoản tín dụng thương mại.Thực ra ,các
khoản phải thu gồm nhiều khoản mục khác nhau tuỳ theo tính chất của quan hệ
mua bán ,quan hệ hợp đồng
f,Tiền đặt cọc
Trong nhiều trường hơp ,các bên liên quan đến hợp đồng phải đặt cọc mộ
t
số tiền nhất định .Phần lớn các điều khoản về tiền đặt cọc quy định theo 2 cách:
-Số tiền đặt cọc tính theo tỷ lệ phần trăm giá trị hợp đồng hoặc giá trị tài
sản được mua bán
-Số tiền đặt cọc được ấn định bằng một số tiên cụ thể,hoặc một giá trị tối
thiểu cho hợp
Ti
ền đặt cọc là một tài sản không chắc chắn ,độ tin cậy có thể giao động
lớn,từ 90% đến 30% hay 40%.Do tính chất là một tài sản bảo đảm như vậy nên
mặc dù tiền đặt cọc thuộc TSLĐ nhưng nó không được các ngân hàng tính đến
khi xác định khả năng thanh toán bằng tiền của doanh nghiệp
g, Hàng hoá vật tư(Inventory)
Hàng hoá vật tư được theo dõi trong một tài khoản gọi là hàng tồn
kho.”Hàng tồn kho” trong khái niệ
m này không có nghĩa là hàng hoá bị ứ
đọng,không bán được ,mà thực chất bao hàm toàn bộ các hàng hoá vật
liệu,nguyên liệu đang tồn tại ở các kho, quầy hàng hoặc trong xưởng.Nó gồm
nhiều chủng loại khác nhau như:NVL chính, NVL phụ ,vật liệu bổ trợ ,nhiên
liệu và các loại dầu mở, thành phẩm…
h, Các chi phí chờ phân bổ
Trong thực tế ,một khối lượng NVL và một số khoản chi phí đã phát sinh
nhưng có thể chưa
được phân bổ vào giá thành sản phẩm hay dịch vụ.Những
khoản này sẽ được đưa vào giá thành trong khoảng thời gian thích hợp.
1.1.2.2. Kết cấu tài sản lưu động.
Bên cạnh việc nghiên cứu các cách phân loại TSLĐ theo những tiêu thức
khác nhau, doanh nghiệp còn phải đánh giá, nắm bắt được kết cấu TSLĐ ở từng
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
7
cách phân loại đó. Kết cấu TSLĐ phản ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ
giữa thành phần trong tổng số TSLĐ của doanh nghiệp. Ở các doanh nghiệp
khác nhau thì kết cấu TSLĐ cũng không giống nhau. Việc phân tích kết cấu
TSLĐ của doanh nghiệp theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh
nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về TSLĐ mà mình đang quản lý, sử
dụng t
ừ đó xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý TSLĐ có hiệu
quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp. Mặt khác, thông qua
việc đánh giá, tìm hiểu sự thay đổi kết cấu TSLĐ trong những thời kỳ khác nhau
có thể thấy được những biến đổi tích cực cũng như những mặt còn hạn chế trong
công tác quản lý TSLĐ
của từng doanh nghiệp.
Kết cấu TSLĐ của doanh nghiệp luôn thay đổi và chịu tác động của nhiều
yếu tố khác nhau. Có thể phân ra thành ba nhóm chính sau:
- Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như: khoảng cách giữa doanh
nghiệp với nơi cung cấp; khả năng cung cấp của thị trường; kỳ hạn giao hàng và
khối lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng; đặc điể
m thời vụ của chủng
loại vật tư cung cấp, giá cả của vật tư
- Các nhân tố về mặt sản xuất như: đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản xuất
của doanh nghiệp; mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của chu kỳ sản
xuất; trình độ tổ chức quá trình sản xuất
- Các nhân tố
về mặt thanh toán như phương thức thanh toán được lựa
chọn theo các hợp đồng bán hàng; thủ tục thanh toán; việc chấp hanh kỷ luật
thanh toán giữa các doanh nghiệp.

1.1.3. Nguồn hình thành tài sản lưu động của doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp, TSLĐ được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác
nhau, do đó mỗi một loại nguồn vốn sẽ có tính chất, đặc điểm, chi phí sử dụng
khác nhau. Vấn đề đặ
t ra là các doanh nghiệp phải cân nhắc lựa chọn cho mình
một cơ cấu nguồn vốn tối ưu vừa giảm được chi phí sử dụng vốn, vừa đảm bảo
sự an toàn cho tình hình tài chính của doanh nghiệp. Căn cứ vào các tiêu thức
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
8
phân loại khác nhau thì TSLĐ của doanh nghiệp được hình thành từ các loại
nguồn vốn như :
* TSLĐ hình thành theo quan hệ sở hữu về vốn: gồm
- Vốn chủ sở hữu: Là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Tuỳ
từng loại hình doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như:
vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vố
n do chủ doanh nghiệp tự bỏ ra, vốn góp
cổ phần, vốn góp liên doanh, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận để lại.Vốn chủ sở hữu
thể hiện khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Tỷ trọng vốn chủ sở
hữu trong tổng vốn càng lớn thì sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng
cao.
- Các khoản nợ: Là các khoản TSLĐ
được hình thành từ các khoản vay
của các ngân hàng thương mại hay các tổ chức tài chính, vốn vay qua phát hành
trái phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán
* TSLĐ hình thành căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn: Nguồn
vốn của doanh nghiệp chia thành hai loại :
- Nguồn vốn thường xuyên: Là nguồn vốn mang tính chất ổn định và dài
hạn, bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn để tài trợ cho nhu cầu
TSLĐ th
ường xuyên cần thiết của doanh nghiệp
Nguồn vốn thường xuyên = Tổng nguồn vốn - Nợ ngắn hạn
- Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn, gồm các
khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, các khoản nợ ngắn
hạn, được dùng để đáp ứng nhu cầu TSLĐ có tính chất tạm thời, bất thường phát
sinh trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp
Nguồ
n vốn tạm thời = Vốn vay ngắn hạn + Vốn chiếm dụng hợp pháp
*TSLĐ hình thành theo phạm vi huy động vốn: TSLĐ được hình thành từ
hai nguồn
- Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động đ-
ược từ bản thân doanh nghiệp. Bao gồm: vốn từ lợi nhuận để lại trong quá trình
kinh doanh, các quĩ của doanh nghiệp, các khoản thu từ nhượng bán, thanh lý tài
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
9
sản Sử dụng triệt để nguồn vốn bên trong doanh nghiệp tức là doanh nghiệp đã
phát huy được tính chủ động trong quản lý và sử dụng TSLĐ của mình.
- Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: là nguồn vốn doanh nghiệp có thể
huy động từ bên ngoài, gồm: vốn của bên liên doanh, vốn vay các ngân hàng
thương mại, tổ chức tín dụng, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, nợ người
cung cấp, nợ khách hàng và các khoản nợ khác , qua việc vay vố
n từ bên ngoài
tạo cho doanh nghiệp có một cơ cấu tài chính linh hoạt, mặt khác có thể làm gia
tăng doanh lợi vốn chủ sở hữu nhanh nếu mức doanh lợi tổng vốn đạt được cao
hơn chi phí sử dụng vốn .

1.2. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG Ở DOANH NGHIỆP
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

1.2.1. Quan điểm về hiệu quả sử dụng tài s
ản lưu động ở doanh nghiệp
Hiện nay có rất nhiều quan điểm về hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
trong doanh nghiệp. Trong khuôn khổ chuyên đề này chúng ta đứng trên quan
điểm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tức là làm sao để chỉ phải bỏ ra
một lượng tài sản nhỏ nhất mà thu về được lợi nhuận lớn nhất.
Trong nền kinh tế
thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì
vấn đề sống còn doanh nghiệp cần quan tâm là tính hiệu quả. Chỉ khi hoạt động
sản xuất kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp mới có thể tự trang trải chi phí đã
bỏ ra, làm nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước và quan trọng hơn là duy trì và phát
triển quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Hiệu quả kinh
tế là kết quả tổng hợp củ
a một loạt các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các yếu tố
bộ phận. Trong đó, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động gắn liền với lợi ích của
doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó
các doanh nghiệp phải luôn tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng tài
sản lưu động.
Hiệu quả
sử dụng tài sản lưu động có vai trò quan trọng trong việc đánh
giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, bởi khác với tài sản cố định, tài sản
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
10
lưu động cần các biện pháp linh hoạt, kịp thời phù hợp với từng thời điểm thì
mới đem lại hiệu quả cao. Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động là một trong những
căn cứ đánh giá năng lực sản xuất, chính sách dự trữ tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp và nó cũng có ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh cu
ối cùng
của doanh nghiệp.
Có thể nói rằng mục tiêu lâu dài của mỗi doanh nghiệp là tối đa hoá lợi
nhuận. Việc quản lý sử dụng tốt tài sản lưu động sẽ góp phần giúp doanh nghiệp
thực hiện được mục tiêu đã đề ra. Bởi vì quản lý tài sản lưu động không những
đảm bảo sử dụng tài sản lưu động hợp lý, tiết kiệm mà còn có ý nghĩa đối vớ
i
việc hạ thấp chi phí sản xuất, thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm và thu tiền bán
hàng, từ đó sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Tóm lại, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp có thể hiểu
là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác và quản lý tài sản lưu động
của doanh nghiệp, đảm bảo lợi nhuận tối
đa với số lượng tài sản lưu động sử
dụng với chi phí thấp nhất. Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động là yêu
cầu tất yếu khách quan của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Mặc
dù hầu hết các vụ phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố, chứ
không phải chỉ đơn thuần do quản trị tài sản lư
u động tồi. Nhưng cũng cần thấy
rằng sự bất lực của một số doanh nghiệp trong việc hoạch định và kiểm soát một
cách chặt chẽ các loại tài sản lưu động hầu như là một nguyên nhân dẫn đến thất
bại cuối cùng của họ.
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động ở
doanh nghiệ
p trong nền kinh tế thị trường

Để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có
một lượng tài sản nhất định và nguồn tài trợ tương ứng, không có tài sản sẽ
không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Song việc sử dụng tài sản
như thế nào cho có hiệu quả cao mới là nhân tố quyết định cho sự tăng trưởng và
phát triển của doanh nghiệp.Vớ
i ý nghĩa đó, việc quản lý, sử dụng và nâng cao
hiệu quả sử dụng tài sản nói chung và TSLĐ nói riêng là một nội dung rất quan
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
11
trọng của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Quan niệm về tính hiệu quả
của việc sử dụng TSLĐ phải được hiểu trên hai khía cạnh:
+ Một là, với số tài sản hiện có có thể sản xuất thêm một số lượng sản
phẩm với chất lượng tốt, giá thành hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp.
+ Hai là, đầu tư thêm tài sản một cách hợp lý nhằm m
ở rộng quy mô sản
xuất để tăng doanh thu tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải
lớn hơn tốc độ tăng tài sản.
Hai khía cạnh này chính là mục tiêu cần đạt được trong công tác tổ chức
quản lý và sử dụng tài sản nói chung và TSLĐ nói riêng .
Trước đây, khi nền kinh tế nước ta còn trong thời kỳ bao cấp, mọi nhu cầu
vốn,tài sản cho sả
n xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được Nhà nước cấp
phát hoặc cấp tín dụng ưu đãi nên các doanh nghiệp không đặt vấn đề khai thác
và sử dụng tài sản có hiệu quả lên hàng đầu. Kể cả hiện nay, khi mà nền kinh tế
nước ta đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đã phải tự
tìm nguồn vốn để hoạt động thì hiệu quả sử dụng v
ốn,tài sản nói chung và TSLĐ
nói riêng vẫn ở mức thấp. Đó là do các doanh nghiệp chưa bắt kịp với cơ chế thị
trường nên còn nhiều bất cập trong công tác quản lý và sử dụng tài sản.
Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng một cách hợp
lý, hiệu quả từng đồng TSLĐ nhằm làm cho TSLĐ được thu hồi sau mỗi chu kỳ
sản xuất. Việc tăng t
ốc độ luân chuyển TSLĐ cho phép rút ngắn thời gian chu
chuyển của vốn, qua đó, vốn được thu hồi nhanh hơn, có thể giảm bớt được số
TSLĐ cần thiết mà vẫn hoàn thành được khối lượng sản phẩm hàng hoá bằng
hoặc lớn hơn trước. Nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ còn có ý nghĩa quan
trong trong việc giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông và hạ giá thành sản
phẩm.

n nữa, mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là thu
được lợi nhuận và lợi ích xã hội chung nhưng bên cạnh đó một vấn đề quan
trọng đặt ra tối thiểu cho các doanh nghiệp là cần phải bảo toàn TSLĐ. Do đặc
điểm TSLĐ lưu chuyển toàn bộ một lần vào giá thành sản phẩm và hình thái
TSLĐ thường xuyên biến đổi vì vậy vấn đề bảo toàn TSLĐ chỉ xét trên m
ặt giá
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
12
trị . Bảo toàn TSLĐ thực chất là đảm bảo cho số vốn cuối kỳ được đủ mua một
lượng vật tư, hàng hoá tương đương với đầu kỳ khi giá cả hàng hoá tăng lên, thể
hiện ở khả năng mua sắm vật tư cho khâu dự trữ và tài sản lưu động định mức
nói chung, duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tăng cư-
ờng qu
ản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ còn giúp cho doanh nghiệp
luôn có được trình độ sản xuất kinh doanh phát triển, trang thiết bị, kỹ thuật đ-
ược cải tiến. Việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến công nghệ hiện đại sẽ tạo ra khả
năng rộng lớn để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm,
tạo ra sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường.
Đặc biệt khi khai thác được
các tài sản, sử dụng tốt tài sản lưu động, nhất là việc sử dụng tiết kiệm hiệu quả
TSLĐ trong hoạt động sản xuất kinh doanh để giảm bớt nhu cầu vay vốn cũng
như việc giảm chi phí về lãi vay.
Từ những lý do trên, cho thấy sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả công
tác quản lý và sử dụng tài sản lưu động trong các doanh nghi
ệp. Đó là một trong
những nhân tố quyết định cho sự thành công của một doanh nghiệp, xa hơn nữa
là sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
1.2.3. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
1.2.3.1. Vòng quay tài sản lưu động
Việc sử dụng tài sản lưu động đạt hiệu quả có cao hay không biểu hiện
trước hết ở tốc độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp nhanh hay chậm. Tài sản
lưu động luân chuyển càng nhanh thì hiệu suất sử dụng tài sản lưu động của
doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
Doanh thu thuần
Vòng quay TSLĐ
trong kỳ
=
TSLĐ bq trongkỳ




Chỉ tiêu vòng quay tài sản lưu động phản ánh trong một năm tài sản
lưu động của doanh nghiệp luân chuyển được bao nhiêu vòng hay một đồng
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
13
tài sản lưu động bình quân trong năm tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
thuần.
1.2.3.2. Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động

Lợi nhuận sau thuế
Hệ số sinh lợi TSLĐ =
TSLĐ bq trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản lưu động có thể tạo ra được bao
nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt. Mức doanh lợi tài sản lưu
động càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản lưu động càng cao.
1.2.3.3. Mức đảm nhiệm tài sản lưu động

TSLĐ
Hệ số đảm nhiệm
TSLĐ
=
Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần cần bao nhiêu đồng
tài sản lưu động. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt đối với doanh nghiệp, vì khi đó
tỷ suất lợi nhuận của một đồng tài sản lưu động sẽ tăng lên.
1.2.3.4. Mức tiết kiệm tài sản lưu động

Doanh thu thuần
kỳ phân tích
Mức
tiết
kiệm
TSLĐ
=
360
x
(
Thời gian 1
vòng luân
chuyển kỳ phân
tích
-
Thời gian 1
vòng luân
chuyển kỳ
gốc
)

Mức tiết kiệm tài sản lưu động số tài sản lưu động doanh nghiệp tiết kiệm
được do tăng tốc độ luân chuyển vốn. Doanh nghiệp càng tăng được vòng quay
tài sản lưu động thì càng có khả năng tiết kiệm được tài sản lưu động, càng nâng
cao được hiệu quả sử dụng tài sản lưu động.
360
Thời gian 1 vòng luân chuyển
TSLĐ
=
Số vòng quay TSLĐ
Thời gian 1 vòng luân chuyển tài sản lưu động cho cho biết trong khoảng
thời gian bao nhiêu ngày thì tài sản lưu động luân chuyển được một vòng. chỉ
tiêu này càng bé cho thấy tốc độ lưu chuyển tài sản lưu động càng nhanh.
1.2.3.5. Một số chỉ tiêu khác

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét