1.2.2 Những biểu hiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Sản phẩm và cơ cấu sản phẩm.
Việc xác định sản phẩm và cơ cấu sản phẩm là nội dung trong chính sách
sản phẩm. Khi xây dựng chính sách sản phẩm các doanh nghiệp phải xác
định đợc các mặt hàng chủ lực, cơ cấu sản phẩm cho hợp lý thích hợp với nhu
cầu thị trờng cho phép doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm và mở rộng thị trờng,
tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Bên cạnh những mặt hàng chủ
lực thì các doanh nghiệp phải tiến hành đa dạng hoá sản phẩm.sản phẩm phải
luôn đợc hoàn thiện về chất lợng, cải tiến bao bì mẫu mã, tăng cờng đào sâu
cách biệt ở sức cạnh tranh đối với những mặt hàng mà doanh nghiệp chiếm
lợi thế và duy trì khoảng cách cạnh tranh các sản phẩm của mình. Tuy nhiên
đa dạng hoá sản phẩm không chỉ đảm bảo nhu cầu thị trờng mà còn cho phép
doanh nghiệp phân tán rủi ro trong kinh doanh. Khi sự cạnh tranh diễn ra
khốc liệt kéo theo mức độ rủi ro rất cao. Tuỳ theo từng trờng hợp nhất định
các doanh nghiệp có thể thực hiện chiến lợc khác biệt hoá sản phẩm để có thể
thu hút sức hấp dẫn, tạo ra nét tiêu biểu khác biệt đối với sản phẩm của các
đối thủ cạnh tranh.
Nh vậy xác định sản phẩm và có cơ cấu sản phẩm hợp lý là yếu tố đầu
tiên quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Yếu tố giá cả.
Là một trong những phơng tiện cạnh tranh của doanh nghiệp. Giá cả
phản ánh giá trị của sản phẩm, giá cả có vai trò rất quan trọng đối với quyết
định của khách hàng. Một hàng hoá cỏ chất lợng tốt nhng giá cả lại quá cao
không phù hợp với khách hàng ít tiền, ngợc lại hàng hoá rẻ đôi khi lại bị nghi
ngờ là hàng hoá không tốt. Do đó định giá ngang giá thị trờng cho phép
doanh nghiệp giữ đợc khách hàng, duy trì và phát triển thị trờng.
Chất lợng sản phẩm.
Cùng với giá cả chất lợng sản phẩm cũng là một yếu tố cạnh tranh.
Tuy nhiên hiện nay chất lợng sản phẩm đợc coi là vấn đề sống còn của doanh
nghiệp. Đặc biệt là đối với doanh nghiệp Nhà nớc Việt Nam khi họ phải đối
5
đầu với các doanh nghiệp nớc ngoài có trình độ khoa học công nghệ cao
hơn. Một khi chất lợng không đợc đảm bảo các doanh nghiệp sẽ mất khách
hàng, mất thị trờng.
Hiện nay khi nền kinh tế đã phát triển quan niệm chất lợng sản phẩm
đã thay đổi. Không phải sản phẩm có chất lợng tốt, bền đẹp là đã tiêu thụ đợc
nhiều mà còn phụ thuộc vào khách hàng. Quản lý chất lợng là yếu tố chủ
quan còn sự đánh giá của khách hàng mang tính khách quan.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào chất l-
ợng sản phẩm mà chất lợng sản phẩm là kết quả của một quá trình từ thu
mua, sản xuất , bảo quản đến tiêu thụ hàng hoá
Tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
Đây là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là giai đoạn
thực hiện bù đắp chi phí và lợi nhuận. Tổ chức têu thụ sản phẩm chính là hình
thức cạnh tranh phi giá cả gây ra sự chú ý và thu hút khách hàng. Việc lựa
chọn các kênh phân phối giúp tiếp cận nhanh nhất với khách hàng, nhanh
chóng giải phóng nguồn hàng để bù đắp chi phí và thu hồi vốn. Ngoài ra
doanh nghiệp cần đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ bán hàng nh quảng cáo,
khuyến mãi và dịch vụ sau bán hàng.
Nguồn nhân lực.
Là những ngời quyết định phơng thức sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, trực tiếp tạo ra sản phẩm. Trình độ tay nghề cao và tinh thần hăng say
lao động cùng với trách nhiệm của họ là cơ sở đảm bảo chất lợng, năng suất
lao động. Nguồn nhân lực giỏi, chất lợng cao là tiền đề, thế mạnh cụ thể để
doanh nghiệp có thể cạnh tranh và đứng vững trên thị trờng.
Cở sở vật chất khoa học kỹ thuật.
Một hệ thống khoa học hiện đại cùng với công nghệ tiên tiến phù hợp
với quy mô sản xuất của doanh nghiệp chắc chắn sẽ làm tăng khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp lên rủi rất nhiều. Cùng với chất lợng nguồn nhân lực
tốt, khoa học công nghệ hiện đại là yếu tố trực tiếp sản xuất ra sản phẩm có
chất lợng cao với giá cả phải chăng là một sự kết hợp hài hoà tạo bớc đột phá
6
6
cho doanh nghiệp trên thơng trờng. Tuy nhiên để có thể giải quyết đợc những
vấn đề đó nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thì yếu tố
đầu tiên là khả năng tài chính.
Khả năng tài chính.
Nếu nh tất cả những biểu hiện trên mà doanh nghiệp không có khả
năng tài chính để trang trải thì mọi chuyện đều không thể thành hiện thực.
Một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh, có khả năng trang bị những kỹ
thuật hiện đại nhằm nâng cao chất lợng sản phẩm và năng suất lao động thì
khả năng cạnh tranh của họ đối với những đối thủ là rất cao.
Quy mô lớn hay nhỏ phụ thuộc vào vấn đề tài chính. Các hoạt động
đầu t trang thiết bị, tổ chức mạng lới tiêu thụ, quảng cáo đề phải tính toán
dựa vào khả năng tài chính của doanh nghiệp. Các hình thức cạnh tranh, các
mục tiêu mà oanh nghiệp đeo đuổi cũng bị chi phối rất nhiều vào khả năng
tài chính của họ.
1.2.3 Một số tiêu thức đánh giá khả năng cạnh tranh:
Thị phần là chỉ tiêu phản ánh phần trăm thị trờng chiếm đợc của doanh
nghiệp. Thị phần có thể tính:
Doanh thu
Thị phần của doanh nghiệp = x100
Tổng doanh thu trên thị trờng.
Lợng bán
Hoặc thị phần = x100
Lợng tiêu thụ trên thị trờng
Doanh nghiệp có thị phần càng lớn thì độ lớn của thị trờng, vai trò, vị
trí của doanh nghiệp những chỉ tiêu này khó chính xác.
Doanh thu của đối thủ mạnh nhất:
7
Doanh thu
Thị phần so với đối thủ = x100
cạnh tranh mạnh nhất. Doanh thu của các đối thủ cạnh
tranh mạnh nhất.
Đây là chỉ tiêu đơn giản, dễ tính do đối thủ cạnh tranh thờng có nhiều
thông tin hơn và những thị phần mà đối thủ cạnh tranh mạnh nhất chiếm giữ
thờng là khu vực thị trờng có lợi nhuận cao hơn và rất có thể doanh nghiệp
cần phải chiếm lĩnh khu vực thị trờng này. Nhng khó có thể lựa chọn đợc đối
thủ mạnh nhất
+ Tỷ suất lợi nhuận:
Lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận = x100
Doanh thu
Đây là chỉ tiêu đánh giá mức cạnh tranh trên thị trờng. Nếu chỉ tiêu
này thấp thì mức cạnh tranh là rất gay gắt, có nhiều đối thủ cạnh tranh trong
khu vực. Ngợc lại nếu chỉ tiêu này cao có nghĩa là công việc kinh doanh
thuận lợi, thu lợi cao.
+ Tỷ lệ chi phí cho Marketing.
Là một công cụ cạnh tranh rất hữu hiệu, marketing rất đợc a chuộng.
Chi phí cho marketing chiếm một phần không nhỏ trong tổng chi phí của
doanh nghiệp.
Chi phí marketing Chi phí marketing
(1) (2)
Tổng doanh thu. Tổng chi phí.
8
8
Nếu chỉ tiêu (1) cao tức là doanh nghiệp đầu t quá nhiều vào marketing
nhng lại không hiệu quả. Do đó doanh nghiệp cần xem xét lại marketing cho
phù hợp hơn mang lại hiệu quả cao hơn.
Nếu chỉ tiêu (2) cao nghĩa là doanh nghiệp đầu t quá nhiều vào
marketing. Doanh nghiệp cần xem xét lại cơ cấu chi tiêu để đảm bảo lợi
ích lâu dài cho doanh nghiệp: Tăng chi phí cho nghiên cứu và phát triển,
nâng cao khả năng cạnh tranh.
1.3 Các nhân tố ảnh hởnh đến khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là những năng lực mà doanh
nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó lâu dài trên thị trờng cạnh tranh. Môi tr-
ờng hoạt động của doanh nghiệp là thị trờng mà thị trờng lại bao gồm rất
nhiều yếu tố phức tạp và khó có thể lợng hoá đợc, cả những yếu tố vi mô và
vĩ mô.
1.3.1 Môi trờng kinh tế.
Là một nhân tố quan trọng nhất tác động đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Mọi sự ổn định hay bất ổn của nó đều ảnh hởng đến hoạt
động và hiệu quả của doanh nghiệp nếu nền kinh tế ổn định, nền tài chính
quốc gia lành mạnh tiền tệ ổn định lạm phát đợc khống chế. Điều đó là môi
trờng tốt cho sự tăng trởng. Bởi vì khi nền kinh tế phát triển cao không những
tốc độ đầu t sản xuất sẽ tăng lên do khả năng tích tụ và tập trung t bản lớn mà
sức mua của ngời tiêu dùng cũng sẽ tăng lên do thu nhập tăng lên. Khi hàng
hoá đợc bán nhiều hơn, cơ hội đầu t nhiều hơn thì chắc chắn cơ hội tìm kiếm
lợi nhuận sẽ tăng lên và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng đợc tăng
lên. Tuy nhiên nền kinh tế phát triển cao làm số lợng doanh nghiệp tham gia
vào thị trờng tăng lên nhanh chóng dẫn tới cạnh tranh ngày càng gay gắt. Ng-
ợc lại trong giai đoạn nền kinh tế suy thoái tỷ lệ lạm phát cao, giá cả tăng lên,
sức mua của ngời dân bị giảm sút, các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để
giữ khách hàng, sự cạnh tranh trở nên khốc liết hơn.
9
Lãi suất cho vay của ngân hàng cũng là một nhân tố quan trọng ảnh h-
ởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bởi khi lãi suất tăng lên đẩy
chi phi khoa học công nghệ tăng lên làm cho khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp giảm.
Ngoài ra tỷ giá hối đoái, tiền công, tiền lơng cũng ảnh hởng tới sản
xuất kinh doanh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng nh mức độ
cạnh tranh trên thị trờng.
1.3.2 Môi trờng chính trị pháp luật
Chính trị pháp luật là nên tảng cho sự phát triển kinh tế, là cơ sở pháp
lý để doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên thị trờng. Pháp luật rõ ràng,
chính trị ổn định là môi trờng thuận lợi đảm bảo sự bình đẳng cho các doanh
nghiệp tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả trên thị trờng. Chính
trị định tạo hành lang thông thoáng cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.
Hệ thống pháp luật rõ ràng là quy định lĩnh vực hình thức mà doanh
nghiệp đợc phép và không đợc phép hoạt động.
Cho nên sự quy dịnh cụ thể tạo sân chơi thông thoáng cho các doanh
nghiệp, trên cơ sở đó cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có cơ hội để phát
triển. Do đó thúc đẩy khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.3.3 Môi trờng khoa học công nghệ
Thông qua chất lợng sản phẩm và giá bán, khoa học công nghệ tác
động mạnh mẽ đến khả năng của doanh nghiệp. Bất kỳ một sản phẩm nào đ-
ợc sản xuất ra đều phải gắn liền với một khoa học kỹ thuật nhất định.công
nghệ sản xuất quyết định chất lợng sản phẩm cũng nh tác động tới chi phí cá
biệt của từng sản phẩm từ đó ảnh hởng tới khả năng cạnh tranh của từng sản
phẩm cũng nh của toàn doanh nghiệp.
Trong cuộc cạnh tranh gay gắt nh hiện nay thì cạnh tranh phi giá cả
đang đợc doanh nghiệp sử dụng rất nhiều. Việc nắm bắt và xử lý thông tin
chính xác và kịp thời đôi khi quyết định sự thành công của doanh nghiệp.
Trong khi dó khoa học công nghệ mới cho phép doanh nghiệp làm đợc điều
đó. Doanh nghiệp phải tích cực áp dụng khoa học kỹ thuật để có đầy đủ
10
10
chính xác thông tin diễn biến động thái thị trờng của đối thủ cạnh tranh.Từ
đó doanh nghiệp có đợc những quyết định chính xác nhờ thu thập lu trữ và xử
lý thông tin.
Khoa học công nghệ mới tạo hệ thống cơ sở vật chất hiện đại của nền
kinh tế quốc dân nói chung, của từng doanh nghiệp nói riêng là tiền đề để
doanh nghiệp phát triển ổn định, nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
1.3.4 Môi trờng tự nhiên, văn hoá, xã hội
Điều kiện tự nhiên của từng vùng, từng quốc gia là nhân tố quan trọng
tạo thuận lợi cũng nh gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc cạnh tranh.
Thể hiện một điều kiện tự nhiên tốt có các trung tâm kinh tế, hệ thống cơ sở
hạ tầng tốt, thuận lợi cho việc tập hợp các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp,
qua đó tiết kiệm đợc chi phí sản xuất.
Phong tục tập quán, lối sống, thị hiếu, trình độ văn hoá tác động trực
tiếp tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua nhu cầu khách hàng
và cơ cấu nhu cầu của thị trờng. ở những vùng khác nhau, lối sống, thị hiếu,
nhu cầu cũng khác nhau. Do vậy doanh nghiệp cần có sự nghiên cứu kỹ càng,
nghiêm túc thị trờng trớc khi thâm nhập thị trờng để có những chính sách
sản phẩm, lựa chọn kênh phân phối đáp ứng tốt nhất nhu cầu của từng vùng,
từng thị trờng.
1.3.5 Mô hình cạnh tranh (Micheal Porter với 5 lực lợng cạnh
tranh)
Bên cạnh những tác động vĩ mô nói trên, khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp còn chịu tác động của môi trờng cạnh tranh. Theo Micheal
Poster, doanh nghiệp cần quan tâm tới 5 lực lợng cạnh tranh theo mô hình sau
11
Hình 1: Mô hình 5 sức mạnh cạnh tranh.
Chính sức ép của các đối thủ này đối với doanh nghiệp làm cho giá cả
các yếu tố đầu vào và đầu ra biến động theo những xu hớng khác nhau.
Doanh nghiệp phải linh động điều chỉnh các hoạt động của mình giảm thách
thức, tăng thời cơ chiến thắng cạnh tranh để nhanh chóng chiếm lĩnh thị tr-
ờng, đa ra thị trờng những sản phẩm mới có chất lợng cao, mẫu mã đa dạng,
phù hợp, giá cả phải chăng theo mô hình Micheal Porter có 5 tác lực cạnh
tranh là đối thủ tiềm ẩn, ngời cung cấp, ngời mua, sản phẩm, dịch vụ thay thế
và sự cạnh tranh của các công ty hiện tại.
1.3.5.1. Sự đe doạ từ các đối thủ tiềm ẩn.
Các đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp cha có mặt trong ngành nhng
có khả năng tham gia vào ngành.
Trong bất kỳ môi trờng cạnh tranh ngành nào đều có đối thủ tiềm ẩn.
Sự xuất hiện đối thủ này phụ thuộc vào rào cản nhập cuộc trong môi
trờng đó. Rào cản nhập cuộc là những điều kiện và khả năng của doanh
nghiệp tính riêng biệt của một thị trờng nào đó nh các rào cản mang bản chất
kỹ thuật, phơng tiện kỹ thuật (phơng pháp sản xuất mà không phải ai cũng có
hoặc những bí quyết công nghệ thậm chí là kinh nghiệm).
12
12
Khả năng về mặt tài chính là một rào cản nhập cuộc. Sẽ có một số
ngành đòi hỏi khi tham gia phải đợc đầu t lớn ngay từ đầu hoặc doanh nghiệp
phải có lợi thế quy mô.
Những rào cản mang bản chất thơng mại: hình ảnh và uy tín của sản
phẩm hoặc sự lôi kéo đợc những khách hàng trung thành.
Ngoài ra với nguồn lực khan hiếm (bị kiểm soát rất chặt chẽ) cũng là
một rào cản các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn nhập cuộc.
Chính vì những nguy cơ nhập cuộc của đối thủ tiềm ẩn mà nghiên cứu
đối thủ tiềm ẩn là một quá trình hết sức cần thiết trong việc xây dựng chiến l-
ợc kinh doanh cho doanh nghiệp. Nó giúp doanh nghiệp chủ động né tránh,
đối phó thậm chí là kìm hãm sự xuất hiện của đối thủ tiềm ẩn.
1.3.5.2 Sức ép từ nhà cung cấp
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao giờ cũng chịu sức ép từ
những phía khác. Sức ép có thể từ nhà cung cấp hay từ khách hàng. Tuy nhiên
trong mỗi trờng hợp khác nhau, mức độ sức ép của nhà cung cấp cũng khác
nhau, có thể là mạnh hay yếu. Nếu nh các nhà cung cấp tập trung thì họ có
khả năng ép giá, ngợc lại doanh nghiệp có thể chi phối đợc giá cả đầu vào
của ngời cung cấp.
Khả năng ép của ngời cung cấp còn phụ thuộc vào những vấn đề sau:
* Thứ nhất, ngành hoạt động có phải là khách hàng chủ yếu hay
không, nếu không thì họ sẵn sàng bỏ qua ngành này để tập trung vào khách
hàng chủ yếu. Khi đó sức ép thuộc về ngời cung cấp.
* Thứ hai, bản thân ngành hoạt động có khả năng tìm sản phẩm thay
thế hay không nếu nh khả năng thay thế dễ dàng thì doanh nghiệp có khả
năng ép gía và ngợc lại.
* Thứ ba, chi phí chuyển đổi là chi phí khi mà doanh nghiệp thay nhà
cung cấp này bằng nhà cung cấp khác. Nếu chi phí này lớn thờng doanh
nghiệp không chuyển đổi và ngợc lại.
* Thứ t, là khả năng hội nhập dọc ngợc chiều và xuôi chiều. Quá trình
hội nhập là tự mình cung cấp nguyên vật liệu cho chính mình làm giảm sức
13
ép của nhà cung cấp và hội nhập với nhà cung cấp. Khi đó, doanh nghiệp
phải có những năng lực mới vì khi đó doanh nghiệp không chỉ hoạt động sản
xuất mà còn hoạt động thêm của nhà cung cấp.
1.3.5.3 Sức ép của khách hàng
Cũng nh quan hệ của doanh nghiệp và nhà cung cấp thông qua chỉ số:
giá chất lợng, giao hàng và phơng tiện tính toán. Những quan hệ giữa doanh
nghiệp với khách hàng có khác bởi khách hàng là ngời quyết định sự tồn tại
của doanh nghiệp.
Sức ép của khách hàng tuỳ thuộc vào một số tiêu thức sau:
- Quy mô tơng đối của khách hàng.
- Ngành hoạt động có phải là nhà cung cấp chủ yếu không.
- Khách hàng có khả năng tìm sản phẩm thay thế hay không.
- Chi phí chuyển đổi có cao không.
- Khả năng hội nhập dọc, xuôi chiều của doanh nghiệp.
- Thông tin của khách hàng.
1.3.5.4 Đe doạ từ sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế là những sản phẩm cho phép cùng nhu cầu so với
sản phẩm hiện tại của ngành.
Việc xác định sản phẩm thay thế là rất khó khăn vì có thể nó đến từ rất
xa hoặc ngay trong nội bộ ngành.
4. Sự cần thiết phải nâng cao khả năn cạnh tranh của doanh
nghiệp
Hàng xuất khẩu chủ yếu trớc hết phải là những mặt hàng có lợi thế so
sánh, có trữ lợng nhiều và kim ngạch xuất khẩu lớn. Đối với một quốc gia
hay một doanh nghiệp, hàng xuất khẩu chủ yếu kéo chiến lợc hớng về xuất
khẩu của một quốc gia, đa chiến lợc kinh doanh của một doanh nghiệp thành
công.
Trong một quốc gia xây dựng mặt hàng xuất khẩu chủ lực vừa tận
dụng đợc lợi thế so sánh vừa tạo nguồn vốn ban đầu. Trong phạm vi doanh
nghiệp hàng xuất khẩu chủ yếu là sợi chỉ nam xuyên suốt mọi hành động của
14
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét