1990-2002; đặc biệt ở các nước đang phát triển thì tỷ trọng của ngành du lịch
còn cao hơn, chiếm khoảng 60%.
+Góp phần cân bằng cán cân thanh toán quốc tế
Với sự gia tăng thu nhập ngoại tệ, du lịch có ảnh hưởng đáng kể đến cán cân
thanh toán của nhiều quốc gia. Trong xuất, nhập khẩu du lịch, một điều cần lưu ý
ở nước ta cũng như ở những nước đang phát triển khác là do nhu cầu bù đắp thiếu
hụt trong cán cân thanh toán quốc tế nên chính quyền một mặt kích thích xuất
khẩu du lịch (tạo khả năng thu hút khách du lịch quốc tế), mặt khác hạn chế cư
dân nước mình đi du lịch ở nước ngoài. Ngoài ra, bên cạnh việc cải thiện cán cân
thanh toán quốc tế, sự gia tăng xuất khẩu du lịch sẽ đồng thời làm tăng tổng sản
phẩm quốc dân của đất nước.
+Kích thích đầu tư
Nhìn chung, sự phát triển của bất kỳ ngành kinh tế nào cũng tạo ra cơ hội
đầu tư. Nhưng khác với các ngành khác, ngành du lịch có một cấu trúc độc đáo -
đó là ngành được tạo nên bởi rất nhiều doanh nghiệp nhỏ của các loại dịch vụ
khác nhau. Vì thế, sự đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng (hệ thống đường sá
công viên ) và đôi khi cả kiến trúc thượng tầng (nghệ thuật văn hóa dân
gian ) nhằm tạo điều kiện cho du lịch phát triển sẽ khích thích sự đầu tư rộng
rãi của các tầng lớp nhân dân và của các doanh nghiệp nhỏ.
+ Thúc đẩy sự phát triển của địa phương
Thường những vùng có khả năng thu hút khách du lịch là những vùng có
phong cảnh thiên nhiên đẹp nhưng nền kinh tế còn ít phát triển. Khi du lịch phát
triển, sự tiêu dùng của khách du lịch sẽ làm cho sự phân phối tiền tệ và cơ hội
tìm việc làm đồng đều hơn. Do vậy, du lịch là một trong những biện pháp hữu
hiệu để giúp tăng tốc những vùng có tốc độ phát triển kinh tế thấp.
+ Du lịch là phương tiện tuyên truyền và quảng cáo không mất tiền cho nước
chủ nhà
Khi khách đến du lịch, khách có điều kiện làm quen với một số mặt hàng ở
nước mà họ đến. Khi trở về đất nước của mình, khách bắt đầu tìm kiếm những
mặt hàng đó ở thị trường địa phương và nếu không tìm thấy, khách có thể yêu
cầu cơ quan ngoại thương nhập khẩu những mặt hàng ấy. Theo cách này, du lịch
quốc tế góp phần tuyên truyền cho nền sản xuất của nước du lịch chủ nhà.
+ Tạo nên hiệu quả kinh tế liên đới trong du lịch
Tiêu dùng của khách du lịch sẽ tạo nên thu nhập của các doanh nghiệp du
lịch. Các doanh nghiệp du lịch lại tiêu dùng các thu nhập của mình và lại tạo nên
thu nhập cho các ngành khác và cứ như thế nó tạo nên một chuỗi tiêu dùng - thu
nhập - tiêu dùng - thu nhập và chuỗi này tiếp tục cho đến khi có sự “rò rỉ” làm
chuỗi này tạ
-Ý nghĩa về mặt xã hội
+ Du lịch củng cố cộng đồng
Du lịch có thể tăng cường sức sống cho cộng đồng theo nhiều cách. Du lịch
tạo ra việc làm góp phần làm giảm sự di cư từ các vùng nông thôn lên thành thị.
Cũng nhờ những lợi ích do du lịch mang lại, các cộng đồng địa phương thể hiện
sự đoàn kết và quyết tâm của cộng đồng đối với các tài sản vốn có của mình
+ Phát triển du lịch đem lại lợi ích cho người dân địa phương, tạo cơ hội
việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp
Du lịch góp phần tăng cường cơ sở vật chất và dịch vụ cho cộng đồng, đem
lại mức sống cao hơn cho các địa điểm du lịch. Những lợi ích này bao gồm cả
việc cải tạo cơ sở hạ tầng, cải thiện điều kiện y tế, giao thông, xây dựng các cơ
sở thể thao và giải trí, các nhà hàng mới, đồng thời có được nhiều loại hàng hóa
và thức ăn với chất lượng cao hơn.
+ Du lịch nâng cao các giá trị văn hóa và truyền thống
Du lịch có thể đẩy mạnh việc bảo tồn và giao lưu các truyền thống văn hoá-
lịch sử, góp phần bảo tồn và quản lý bền vững các nguồn tài nguyên, bảo vệ các
di sản ở địa phương, phục hưng các nền văn hóa bản xứ, các nghề thủ công mỹ
nghệ
1.2.Xu hướng phat triển du lịch
1.2.1. Du lịch ngày càng được khẳng định là một hiện tượng kinh tế
-xã hội phổ biến
Trong thời kỳ hiện đại, số lượng khách du lịch ra nước ngoài tăng nhanh.
Những yếu tố được coi là những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến sự tăng
trưởng này là mức sống của người dân, giá cả các dịch vụ hạ hơn trong khi mức
thu nhập của họ lại tăng dần. Mặt khác cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch như lưu
trú, vận chuyển ngày càng thuận tiện và thoải mái hơn. Trong lúc đó, tại nơi ở
thường xuyên của du khách, mức độ ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng đã
trở thành một yếu tố quan trọng thúc đẩy họ đi du lịch.
Điều kiện sống của nhân dân là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch.
Nó được hình thành nhờ việc tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sinh
hoạt, nâng cao khẩu phần ăn uống, phát triển đầy đủ mạng lưới y tế, văn hoá,
giáo dục. Thu nhập tăng thì nhu cầu du lịch và chi phí cho du lịch tăng nhanh.
Thu nhập càng cao, càng nhiều gia đình đi du lịch.
Để có thể đi du lịch và thực hiện tiêu dùng du lịch, con người phải có điều
kiện vật chất đầy đủ. Đó là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu du lịch nói chung
thành nhu cầu du lịch (nhu cầu có khả năng chi trả). Do vậy phúc lợi vật chất
của nhân dân là điều kiện có ý nghĩa quyết định trong sự phát triển du lịch.
Nhiều công trình nghiên cứu đều cho thấy rằng khi thu nhập du lịch tăng lên thì
nhu cầu du lịch cũng gia tăng, hoặc những người có thu nhập cao thì đi du lịch
nhiều hơn.
Giáo dục là nhân tố kích thích du lịch. Trình độ giáo dục được nâng cao
thì nhu cầu du lịch sẽ tăng lên rõ rệt, sự ham hiểu biết và mong muốn tìm hiểu
cũng tăng lên và trong nhân dân, thói quen đi du lịch sẽ hình thành ngày càng rõ.
Ở Liên Xô cũ, người ta đã tổng kết được rằng trình độ văn hóa tăng lên thì số
người nghỉ tại nhà giảm đi. Cụ thể là từ 36% trong số những người có trình độ
sơ cấp xuống còn 28% ở những người có trình độ trung cấp và 7% ở những ngư-
ời có trình độ cao cấp. Những kết quả điều tra ở Mỹ cũng tương tự, những gia
đình mà người chủ gia đình có trình độ văn hóa càng cao thì tỷ lệ đi du lịch càng
lớn. Giáo dục có liên quan chặt chẽ với thu nhập và nghề nghiệp. Tuy còn có
một số trường hợp ngoại lệ, song về cơ bản là như vậy. Những người có trình độ
giáo dục cao sẽ có nghề nghiệp phù hợp với mức thu nhập cao.
Sự tập trung dân cư vào các thành phố, sự gia tăng dân số, tăng mật độ
dân cư, sự thay đổi cấu trúc, độ dài tuổi thọ đều có liên quan mật thiết với sự
phát triển du lịch.
Con người không thể đi du lịch nếu không có thời gian. Do vậy thời gian
rỗi là điều kiện tất yếu cần thiết để có thể tham gia vào hoạt động du lịch. Thời
gian rỗi của người dân ở từng nước được qui định trong luật lao động hoặc theo
hợp đồng lao động ký kết.
Thời gian rỗi có thể tăng lên nếu con người nếu sử dụng hợp lý quỹ thời
gian của mình và có chế độ lao động hợp lý. Thời gian rỗi còn tăng được bằng
cách giảm thời gian của các công việc khác ngoài giờ làm việc. Nếu như trước
đây (giống như ở các nước đang phát triển ngày nay) người ta phải dành trung
bình 1/3 đến 1/2 thời gian vào việc bếp núc và các việc vặt trong gia đình như
dọn dẹp, giặt giũ thì ở các nước công nghiệp công việc này chỉ chiếm 1 đến 2
giờ một ngày.
Xu hướng chung trong điều kiện phát triển hiện nay là giảm bớt thời gian
làm việc và tăng thời gian nhàn rỗi. Nhiều nước trên thế giới (trong đó có Việt
Nam) đã chuyển sang chế độ làm việc 5 ngày một tuần. Điều đó góp phần làm
cho số du khách gia tăng đáng kể.
Đô thị hóa tạo nên một lối sống đặc biệt - lối sống thành thị. Đô thị hóa
làm hình thành các thành phố lớn và các cụm thành phố. Quá trình đô thị hóa đã
thúc đẩy quá trình cải thiện điều kiện vật chất và văn hóa cho nhân dân, làm thay
đổi tâm lý và hành vi của con người. Khi nhận xét ý nghĩa tích cực của quá trình
đô thị hoá, Lê nin đã chỉ ra rằng sự di chuyển dân cư từ nông thôn vào thành phố
đã cuốn họ vào một cuộc sống xã hội hiện đại, “nâng cao trình độ và nhận thức
của họ, tạo cho họ những thói quen và nhu cầu văn hoá”.
Đồng thời, quá trình đô thị hóa còn dẫn tới sự thay đổi điều kiện tự nhiên,
tách con người ra khỏi môi trường tự nhiên bao quanh, làm thay đổi điều kiện
khí hậu, bầu khí quyển và những điều kiện tự nhiên khác.
Trong nhiều trường hợp, quá trình đô thị hóa làm giảm chất lượng môi
trường, có ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của con người. Mật độ dân số cao, lượng
thông tin quá nhiều, tần số tiếp xúc lớn, giao thông đi lại nhộn nhịp, ách tắc là
những nguyên nhân gây ra sự căng thẳng thần kinh.
1.2.2. Xã hội hóa thành phần du khách
Hàng loạt sự kiện chính trị, xã hội quan trọng đã xảy ra, sự phát triển
nhanh chóng của công nghiệp trong nửa đầu thế kỷ XX đã biến du lịch thành
một trong những lĩnh vực kinh doanh chính của thế giới và là một hoạt động giải
trí dành cho tầng lớp trung lưu. Sau thời gian hoạt động du lịch bị gián đoạn bởi
hai cuộc Thế chiến, khát vọng được đi du lịch dường như đã tăng lên mạnh mẽ
hơn trước. Người ta bỏ lại những đau khổ và lo âu của chiến tranh đằng sau họ
và khao khát đi du lịch. Chính nhờ đó mà du lịch lại phát triển nhanh chóng khi
những xung đột, mâu thuẫn lắng xuống và sự bình thường hóa được thiết lập
giữa các quốc gia.
Bước phát triển quan trọng nhất của du lịch trong thời đại công nghiệp là
ở lĩnh vực giao thông. Sự xuất hiện ô tô và máy bay cũng ảnh hưởng không nhỏ
tới hoạt động du lịch. Hai loại hình giao thông này đã trở thành phương tiện du
lịch được tầng lớp trung lưu, tầng lớp có số lượng đông đảo tín nhiệm. Tầng lớp
người này trong xã hội đều hội đủ điều kiện thời gian và tài chính cho hoạt động
du lịch Nhưng du lịch đường thủy vẫn có vẻ được chuộng hơn và thuận tiện
hơn. Vào thế kỷ XVIII – XIX, tàu thủy là phương tiện thích hợp với những
chuyến đi tới các vùng thuộc địa, đất mới như châu Phi, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu
Á, Viễn Đông để mở rộng thị trường tiêu thụ, các con đường buôn bán và mở
rộng thuộc địa. Trong khi các con tàu tung hoành khắp các biển, việc xuất hiện
các đầu máy hơi nước, đường ray đã làm phong phú thêm các loại hình giao
thông đường bộ.
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cơ cấu thành phần du khách có nhiều
thay đổi. Du lịch không còn là một đặc quyền của tầng lớp quý tộc, tầng lớp trên
của xã hội nữa. Xu thế quần chúng hoá thành phần du khách trở nên phổ biến ở
mọi nước. Và trong bối cảnh đó, du lịch đại chúng thời hiện đại đã tự khẳng
định mình. Lý do của hiện tượng này cũng là do mức sống của người dân được
nâng cao, giá cả dịch vụ và hàng hóa không đắt, các phương tiện giao thông, vận
tải lưu trú phong phú và thuận tiện. Ngoài ra còn phải kể đến chính sách của
chính quyền. Ở nhiều nơi, nhà nước có những chính sách khuyến khích người
dân đi du lịch do thấy rõ được ý nghĩa của hiện tượng này đối với sức khoẻ cộng
đồng. Ví dụ Chính phủ Nhật Bản đề ra chủ trương khuyến khích người dân đi du
lịch ra nước ngoài trong các kỳ nghỉ phép năm. Với chính sách đó, trong giai
đoạn đầu thập niên 90, hàng năm có từ 7-10 triệu người Nhật đi du lịch nước
ngoài và chi tiêu khoảng 7- 13 tỷ đô la Mỹ. Chính sách khuyến khích thể hiện cụ
thể ở việc giảm giá phương tiện đi lại, giảm giá lưu trú thông qua việc miễn
giảm thuế. Nhiều nơi còn tổ chức các chuyến du lịch bao cấp cho cán bộ, công
nhân viên, những người có thu nhập thấp và không có khả năng chi trả
1.2.3. Sự thay đổi về hướng và phân bố của luồng khách du lịch quốc tế
Sau khi người Anh chỉ ra giá trị du lịch của Địa Trung Hải với ba chữ S (Sea,
Sand, Sun), luồng khách Bắc - Nam là hướng đi du lịch chủ đạo quan sát được trên
thế giới. Người Anh, Hà Lan, Đức, Bỉ đổ về các miền bờ biển Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha, Pháp, Italia để tận hưởng cái ấm áp, mát mẻ và trong xanh của vùng này.
Như vậy bản chất của luồng khách Bắc - Nam là hướng dương và hướng thủy về các
vùng biển nhiệt đới. Theo thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), trung bình
cứ 8 người đi du lịch có một người đi nghỉ biển.
Ngày nay, tuy hướng Bắc - Nam vẫn là hướng hấp dẫn nhiều du khách
nhất, nhưng không còn giữ vai trò áp đảo như trước đây nữa. Đặc điểm của
luồng khách này là tập trung vào kỳ nghỉ hè và có số lượng tương đối tập trung.
Luồng khách thứ hai ngày nay cũng đã thịnh hành là hướng về các
vùng núi cao phủ tuyết được mệnh danh là vàng trắng (Lozato – Giotar,
1990). Nhu cầu về với thiên nhiên hoang sơ, nơi có không khí trong lành
hay muốn được thử thách bản thân và thể hiện mình sẽ có điều kiện đáp
ứng. Trượt tuyết, leo núi, săn bắn là các loại hình được nhiều người ưa
thích.
Một luồng khách tuy mới phát triển nhưng rất có triển vọng trong tương
lai gần là hướng chuyển động Tây - Đông. Theo các chuyên gia, thế kỷ XXI
được gọi là thế kỷ của châu Á - Thái Bình Dương. Trong những năm gần đây, số
du khách từ các nước đến khu vực này gia tăng đáng kể. Một số người đến đây
để tình cơ hội làm ăn, ký kết hợp đồng, nghiên cứu điều kiện đầu tư Một số
khác đến đây vì cảnh quan hay vì muốn tìm hiểu một nền văn hoá phương Đông
đầy bản sắc và phần nào kỳ bí đối với họ. Những công trình kiến trúc tuy không
đồ sộ nhưng ẩn chứa một giá trị tinh thần to lớn, những phong tục tập quán khác
lạ luôn góp phần tạo nên những sản phẩm du lịch hấp dẫn.
Bảng1.1.Thay đổi thị phần khách du lịch
Khu vực Năm(Triệu) Dự báo(triệu) Tốc độ tăng
trưởng-(%)
Thị phần(%)
1995 2010 2020 1995-2020 1995 2020
Thế giới 565,4 1.006,4 1.561,1 4,1 100 100
Châu Âu 338,4 527,3 717,0 3,0 59,8 45,9
Đông Á/Thái
Bình Dương
81,4 195,2 397,2 6,5 14,4 25,4
Nam Á 4,2 10,6 18,8 6,2 0,7 1,2
Nguồn:WTO
Ở châu Á, khu vực các nước Đông Nam Á là một trong những khu vực có
hoạt động du lịch sôi động nhất. Nếu lấy tỷ lệ du khách trên đầu người dân thì
Singapore có tỷ lệ vào hàng thứ nhất trên thế giới: 3/1. Malaysia và Thái Lan
cũng được coi là những cường quốc du lịch đón du khách quốc tế trong khu vực.
Bảng.1.2. Hiện trạng khách du lịch quốc tế đến các nước Đông Nam Á
giai đoạn 1995-2002
Đơn vị tính:lượt khách
Quốc gia 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2002
Malaysia 7.456.000 7.442.000 6.210.900 5.551.000 7.930.000 10.271.582 13.292.010
Thái Lan 6.950.000 7.201.000 7.221.300 7.765.000 8.650.000 9.508.623 10.799.067
Singapoe 6.422.000 6.608.000 6.531.000 5.630.000 6.960.000 7.691.399 7.567.110
Indonesia 4.323.000 4.475.000 5.185.200 4.900.000 4.730.000 5.064.217 4.913.835
Việt Nam 1.358.182 1.600.000 1.715.600 1.520.000 1.781.000 2.140.100 2.627.988
Philippin 1.760.000 2.054.000 2.222.500 2.149.000 2.212.000 1.928.037 1.932.677
Brunei 692.000 837.000 850.000 800.000 636.000 984.093 1.116.925
Lào 60.000 93.000 193.000 200.000 614.278 624.432 735.662
Cambodi
a
220.000 260.000 219.000 287.000 262.997 466.365 786.524
Mianma 117.000 172.000 189.000 201.000 199.000 270.000 217.212
Tổng 29.367.182 31.042.000 30.537.500 29.003.000 33.966.275 38.949.513 43.989.010
Nguồn:WTO,PATA,VNAT
1.2.4. Kéo dài thời vụ du lịch
Một trong những đặc điểm của hoạt động du lịch là mang tính thời vụ khá
rõ nét. Điều này có nghĩa là về bản chất, du lịch là một hoạt động bị lệ thuộc
nhiều vào thiên nhiên. Ngày nay với trình độ khoa học kỹ thuật và khả năng
kinh tế, con người đã và đang khắc phục được những hạn chế của thiên nhiên.
Do tính thời vụ là một yếu tố bất lợi trong kinh doanh cho nên người ta đã tìm
mọi cách để hạn chế ảnh hưởng của nó như mở rộng các loại hình du lịch, dịch
vụ. Việc kéo dài mùa du lịch đã góp phần tăng thêm lượng khách trong những
năm gần đây .
2.Khái niệm môi trường
2.1 Khái niệm môi trường
Môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến một cá
thể hay một sự kiện nào đó. Bất kỳ một cá thể hay một sự kiện náo cũng tồn tại
và diễn biến trong một môi trường nhất định. Tùy thuộc vào từng đối tượng nhất
định sẽ có môi trường tương thích. Có 3 loại môi trường : môi trường tự nhiên ,
moi trường nhân tạo và môi trường xã hội.
2.2Môi trường du lịch
Môi trường du lịch bao gồm tổng thể các nhân tố về tự nhiên, kinh tế-xã
hội và nhân văn mà trong đó hoạt động du lịch tồn tại và phát triển.
Hoạt động du lịch luôn có mối quan hệ mật thiết với môi trường tự nhiên, kinh
tế-xã hội và nhân văn, du lịch khai thác những giá trị, đặc tính của môi trường
mà nó tồn tại để phát triển, qua đó thay đổi những đặc tính của môi trường này.
Hoạt động du lịch luôn gắn liền với việc khai thác các tiềm năng
của tài nguyên môi trường tự nhiên như vẻ đẹp của quang cảnh biển, sông, núi,
các hang động, sa mạc, các hiện tượng tự nhiên khác. . .và các giá trị văn hóa
của môi trường nhân văn như đền chùa, am miếu, nhà thờ, thánh thất, tháp, lăng
tẩm, cung điện. . .Các giá trị văn hóa phi vật thể như không gian văn hóa Cồng
Chiêng Tây nguyên, Nhã nhạc Cung đình Huế, các loại hình văn hóa dân gian
(ca trù, hát quan họ, hát chầu văn. . .) nói chung là các giá trị của bản săc văn
hóa dân tộc. Bên cạnh việc khai thác tài nguyên để hoạt động, thì có các quy
hoạch, các dự án, công trình xây dựng nên những môi trường du lịch nhân tạo
trên cơ sở tích hợp các yếu tố của tự nhiên, giá trị văn hóa. . .Để tạo nên sự
phong phú đa dạng các loại hình du lịch là những công viên, khu du lịch, khu
vui chơi giải trí phức hợp. . . Bất cứ hoạt động nào của du
lịch cũng có tác động hai chiều đến môi trường của nó. Cho nên trong hoạt động
du lịch cần có những quy hoạch hợp lý, chính sách và dự án tối ưu nhất nhằm
giảm thiểu tác động đến môi trường.
2.3.Môi trường du lịch tự nhiên
Là một bộ phận cấu thành nên môi trường du lịch nói chung, bao gồm tập
hợp các đối tượng tự nhiên sống (hữu cơ ) và không sống ( vô cơ ). Trong đó có
những đối tượng tự nhiên chưa bị con người con người tác động và cả những đối
tượng tự nhiên đã bị con người tác động, cải tạo ở những mức độ khác nhau,
song vẫn bảo tồn được một phần hoặc toàn bộ các đặc tính tự phục hồi và phát
triển. Môi trường du lịch tự nhiên là toàn bộ không gian, lãnh thổ bao gồm các
nhân tố thiên nhiên như : đất, nước, không khí, hệ động vật trên cạn và dưới
nước… và các công trình kiến trúc cảnh quan thiên nhiên – nơi tiến hành các
hoạt động du lịch.
Môi trường du lịch tự nhiên được cấu thành một loạt các môi trường tự
nhiên bộ phận trong một hệ thống chung. Các môi trường bộ phận này tồn tại và
phát triển theo các quy luật của mình song có liên quan tác động mật thiết với
nhau bằng vô số các quan hệ nhiều chiều trong tương quan nhân quả và giải
quyết các mâu thuẫn về phát triển. Tuy nhiên vẫn đảm bảo bảo sự thống nhất nội
tại giữa các môi trường bộ phận trong một môi trường chung.
Môi trường tự nhiên có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển
và đa dạng hóa các hoạt động du lịch, tạo tiền đề cho sự phát triển các khu du
lịch. Ví dụ như các khu du lịch nổi tiếng như Phong Nha – Kẻ Bàng, Hạ Long,
Sa Pa, Đà Lạt … là những điểm du lịch dựa trên cơ sở môi trường tự nhiên với
những cảnh quan thiên nhiên đặc sắc. Bởi vì các thành phần cơ bản của môi
trường tự nhiên là những điều kiện cần thiết cho các hoạt động du lịch và có sức
hấp dẫn lớn đối với du khách, chính vì vậy mà “chúng”được trực tiếp khai thác
vào mục đích kinh doanh du lịch. các nhân tố, điều kiện cơ bản của môi trường
du lịch tự nhiên có tác động đáng kể nhất đối với du lịch có thể kể là vị trí địa lý,
môi trường địa chất - địa mạo, thời tiết và khí hậu, môi trường nước, thủy văn và
đa dạng sinh học.
2.3.1.Vị trí địa lý
Vị trí địa lý của các khu du lịch có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển
du lịch. Vị trí của các khu du lịch càng gần các thị trường tiềm năng thì càng
thuận tiện và thu hút nhiều du khách. Bởi vì nếu quãng cách này quá xa thì sẽ
ảnh hưởng tới sự chi trả của du khách cho vận chuyển, ảnh hưởng tới sức khỏe
cũng như mất thời gian tham quan của du khách do vận chuyển quá xa. Tuy
nhiên vẫn có những trường hợp ngoại lệ vì khoảng cách càng xa thì càng có sức
hấp dẫn cao đối với những du khách có khả năng chi trả cao, có tính hiếu kì vì
sự tương phản và khác lạ của nơi tham quan và nơi ở của du khách.
2.3.2. Môi trường địa chất:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét