4.2) Hoạt động thơng mại kích thích sự phát triển của lực lợng sản xuất trong
tỉnh.
Hoạt động thơng mại có mục đích là lợi nhuận. Ngời sản xuất sẽ tìm mọi
cách để cải tiến công tác, áp dụng khoa học kỹ thuật công nghệ mới, hạ chi phí
để thu nhiều lợi nhuận. Đồng thời cạnh trạnh trong hoạt động thơng mại bắt
buộc ngời sản xuất trong tỉnh phải năng động, không ngừng nâng cao tay nghề,
chuyên môn và tính toán thực chất hoạt động sản xuất kinh doanh, tiết kiệm các
nguồn lực, nâng cao năng suất lao động. Đây là những nhân tố tác động làm
cho lực lợng sản xuất phát triển .
4.3) Hoạt động thơng mại kích thích nhu cầu và tạo ra nhu cầu mới.
Ngời tiêu dùng mua bán không xuất phát từ tình cảm mà bằng lý trí. Lợi
ích của sản phẩm hay mức độ thoả mãn nhu cầu của sản phẩm sẽ tái tạo nhu
cầu. Hoạt động thơng mại một mặt làm cho cầu trên thị trờng trung thực với
nhu cầu, mặt khác nó làm bộc lộ tính phong phú đa dạng của nhu cầu. Hoạt
động thơng mại đáp ứng tốt hơn là chế độ trao đổi hiện vật. Thơng mại buộc các
nhà sản xuất phải đa dạng hoá kiểu dáng, mẫu mã, chất lợng sản phẩm. Điều
này tác động ngợc trở lại ngời tiêu dùng làm bật dậy các nhu cầu tiềm tàng. Do
vậy hoạt động thơng mại làm tăng trởng nhu cầu và là gốc rễ cho sự phát triển
của sản xuất kinh doanh.
4.4) Hoạt động thơng mại góp phần đẩy nhanh quá trình đô thị hoá, tham gia
bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc, xây dựng xã hội văn minh đặc biệt là
khu vực miền núi, nông thôn, hải đảo.
Vai trò này của hoạt động thơng mại có thể thấy qua vai trò của chợ. Chợ
phát triển đặc biệt là chợ chuyên doanh, chợ bán buôn phát luồnglà bớc khởi
đầu của phát triển đô thị, ở khu vực nông thôn dần dần hình thành thị trấn.
Thông qua nhu cầu của lu thông hàng hoá một loạt lĩnh vực khác nh đờng giao
thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống dịch vụ khác phát triển làm thay đổi
từng bớc bộ mặt của một vùng dân c. Ơ miền núi chợ là nơi sinh hoạt văn hoá,
tinh thần của ngời dân. ở đây diễn ra các hoạt động giao lu kinh tế, văn hoá
giữa các dân tộc, các sản phẩm văn hoá đợc bày bán, từ đó góp phần làm cho
văn hoá phát triển và đợc giữ gìn.
4.5) Hoạt động thơng mại góp phần giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho ng-
ời lao động, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nớc, tạo điều kiện cho xây
dựng cơ bản phát triển, thu hút vốn nhàn rỗi của nhân dân vào sản xuất.
Hoạt động thơng mại diễn ra đòi hỏi một lợng nhân công nhất định. Càng
có nhiều hoạt động thơng mại càng cần nhiều ngời làm càng giải quyết tốt việc
làm cho nguồn nhân lực trong tỉnh và tạo thu nhập cho họ.
Hoạt động thơng mại còn đóng góp cho ngân sách một khoản không nhỏ.
UBND tỉnh thu thuế từ hoạt động thơng mại nh thuế môn bài, thuế chợ, thuế
chuyến, thuế XNK, thuế thu nhập doanh nghiệp
Muốn hoạt động thơng mại tốt cần phải có cơ sở vật chất kỹ thuật tốt do
đó hoạt động thơng mại đặt ra yêu cầu tất yếu phải xây dựng và đầu t từ đó
khiến cho tốc độ XDCB trên địa bàn tỉnh tăng nhanh. Đồng thời hoạt động th-
5
ơng mại còn cung ứng đầy đủ các yếu tố sản xuất cho hoạt động sản xuất và
hoạt động XDCB.
Khi tiến hành hoạt động thơng mại mà dễ dàng thuận lợi thì sẽ có nhiều
ngời tiến hành do vậy vốn đợc bỏ vào kinh doanh không còn nhàn rỗi nữa.
4.6) Hoạt động thơng mại mở ra các mối quan hệ kinh tế của tỉnh với các tỉnh
khác trong vùng và cả nớc, mở rộng quan hệ quốc tế.
Thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, hội chợ triển lãm, ngời sản xuất
trong tỉnh có thể giới thiệu sản phẩm, tiếp cận với khách hàng từ tỉnh bạn và nớc
ngoài để ký kết hợp đồng hợp tác làm ăn. Đồng thời khách hàng cũng có thể
biết đến tỉnh có thế mạnh gì, tiềm năng ra sao, chính sách phát triển thế nào
thông qua hoạt động thơng mại từ đó mà tìm đến mua hàng, bán hàng, đặt quan
hệ kinh tế,văn hoá với các doanh nghiệp, ngời làm ăn kinh tế trong tỉnh.
5) Một số nhân tố ảnh hởng đến hoạt động thơng mại của một tỉnh.
5.1) Vị trí địa lý.
Vị trí địa lý có ảnh hởng rất lớn đến hoạt động thơng mại của một tỉnh.
Nếu tỉnh nằm ở vùng có nhiều thuận lợi về giao thông, thông tin liên lạc; gần
các trung tâm thơng mại, kinh tế, văn hoá lớn; tiếp giáp với các thị trờng có nhu
cầu tiêu thụ hàng hoá của tỉnh, gần các cửa khẩu thì chắc chắn hoạt động th-
ơng mại sẽ dễ dàng và thuận lợi vì chi phí vận chuyển có thể thấp, dễ có quan
hệ buôn bán hợp tác với các đối tác khác, xuất nhập khẩu dễ hơn Ngợc lại tỉnh
ở vị trí không gần các thị trờng tiêu thụ lớn các hàng hoá, không có hệ thống đ-
ờng giao thông quan trọng của cả nớc đi qua, hệ thống thông tin liên lạc không
đợc phát triển ở đây hoạt động thơng mại sẽ rất khó khăn. Vì hàng hoá sản
xuất ra không có thị trờng lớn để tiêu thụ, chí phí sẽ cao vì giao thông khó khăn,
khó có các hàng hoá dịch vụ phục vụ sản xuất hơn
5.2) Trình độ phát triển kinh tế của tỉnh.
Kinh tế của tỉnh phát triển ở trình độ thấp, hàng hoá có không nhiều hoặc
có nhng chất lợng không cao, hệ thống cơ sở hạ tầng không phát triển, sức mua
của dân c thấp, thu nhập của ngời làm kinh tế không cao, chắc chắn sẽ ảnh h-
ởng tiêu cực đến hoạt động thơng mại.Vì kinh tế phát triển ở trình độ cao thì thu
nhập của dân c trong tỉnh cao cầu sẽ cao, hàng hoá có nhiều với chất lợng khá,
đa dạng về chủng loại nguồn hàng dồi dào sẽ làm cho hoạt động thơng mại diễn
ra đa dạng Thực tế cũng chứng minh ở đâu kinh tế phát triển thì hoạt động th-
ơng mại sẽ phát triển. Kinh tế phát triển là điều kiện cần cho hoạt động thơng
mại phát triển nhng ngợc lại hoạt động thơng mại phát triển cũng làm cho kinh
tế phát triển.
5.3) Tình hình kinh tế-chính trị-xã hội các tỉnh lân cận, trong nớc, khu vực,
quốc tế.
Các tỉnh lân cận thờng có quan hệ hợp tác rất tốt với tỉnh, đây cũng là các
thị trờng có quan hệ mật thiết đối với thị trờng của tỉnh. Tình hình kinh tế-chính
trị-xã hội của các tỉnh lân cận rối ren, ảm đạm sẽ ảnh hởng tới cầu cho hàng hoá
của tỉnh ảnh hởng đến hoạt động thơng mại.
6
Đất nớc không ổn định về chính trị, kinh tế không phát triển, xã hội biến
loạn thì ảnh hởng đến tình hình phát triển kinh tế, tình hình chính trị-xã hội của
tỉnh vì tỉnh là một bộ phận của quốc gia. Do đó ảnh hởng đến hoạt động thơng
mại của tỉnh. Không thể phát triển kinh tế nói chung cũng nh phát triển hoạt
động thơng mại nói riêng đợc khi đất nớc nội chiến, bị xâm lợc, chiến tranh,
hoả hoạn thiên tai Đất nớc ổn định về chính trị, phát triển kinh tế, phát triển
xã hội là một tiền đề cần thiết cho phát triển hoạt động thơng mại của cả nớc
nói chung và của một tỉnh nói riêng.
Các nớc trong khu vực, quốc tế không ổn định về chính trị, kinh tế khủng
hoảng cũng sẽ ảnh hởng đến nớc ta, và ảnh hởng đến một tỉnh nói riêng. Tỉnh
có quan hệ buôn bán với các nớc trong khu vực, quốc tế càng rộng bao nhiêu thì
mức độ ảnh hởng càng lớn bấy nhiêu. Hoạt động ngoại thơng của tỉnh phụ
thuộc vào các thị trờng nớc ngoài. Nếu các thị trờng này biến động sẽ làm cho
hoạt động ngoại thơng của tỉnh biến động theo. Có thể theo chiều hớng tích cực
nếu thị trờng các nớc biến động theo chiều hớng tích cực và ngợc lại.
5.4) Thị trờng các tỉnh lân cận, trong nớc, quốc tế.
Một tỉnh chỉ có thể sản xuất một số mặt hàng nhất định, chỉ có một số
yếu tố đầu vào cho sản xuất nhất định. Do vậy buộc phải buôn bán với bên
ngoài để có những cái còn thiếu cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân
dân. Các tỉnh lân cận là những nơi mua hàng của tỉnh, cung cấp các hàng hoá
tỉnh cần cho sản xuất, cho xuất khẩu, cho nhập khẩu, cho tiêu dùng. Tỉnh nào
gần nơi cung cấp nguồn nguyên nhiên liệu, khoa học kỹ thuật công nghệ, nguồn
hàng hoá tiêu dùng, sẽ có điều kiện phát triển kinh tế tốt. Tỉnh nào có thị tr-
ờng tiêu thụ sản phẩm của mình sẽ phát triển kinh tế thuận lợi. Các tỉnh khác
vừa là thị trờng vừa là nguồn hàng dồi dào để cho thơng nhân của tỉnh khai thác
tiến hành hoạt động thơng mại.
Thị trờng các nớc trên thế giới sẽ ảnh hởng đến hoạt động ngoại thơng
của tỉnh. Tỉnh xuất các mặt hàng các nớc cần và nhập các mặt hàng tỉnh cần từ
nớc ngoài. Nhu cầu, cơ cấu nhu cầu, thói quen tiêu dùng, đặc điểm thị trờng các
nớc sẽ ảnh hởng đến nội dung và hình thức hoạt động ngoại thơng của tỉnh. Kết
quả hoạt động ngoại thơng của tỉnh phụ thuộc vào khả năng tìm kiếm, khai thác
thị trờng xuất nhập khẩu nớc ngoài, khả năng cung cấp hàng hoá dịch vụ với
chất lợng tốt nhất,
5.5) Quan điểm, đờng lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Chính phủ,
UBND tỉnh về thơng mại.
Rõ ràng khó phát triển hoạt động thơng mại khi quan điểm, đờng lối của
Đảng không muốn, chính sách, pháp luật của Chính phủ, UBND tỉnh có nhiều
vấn đề đặt ra không hợp thực tế và quy luật khách quan. Quan điểm, đờng lối,
chính sách, pháp luật về thơng mại của các cấp uỷ Đảng, Chính phủ và UBND
các cấp có ảnh hởng trực tiếp dến hoạt động thơng mại. Để hoạt động thơng mại
phát triển cần có quan điểm, chính sách tốt nghĩa là các quan điểm, chính sách
đó phù hợp những gì thực tế đòi hỏi, phải giải quyết đợc các vớng mắc trong khi
tiến hành hoạt động thơng mại.
5.6) Nhận thức t tởng và trình độ của thơng nhân trong tỉnh.
7
Đây là nhân tố khá ảnh hởng. Khi nhận thức, tởng cha thông thì hành
động khó có kết quả tốt, trình độ mà kém khó nghĩ ra phơng án hay để nắm bắt
cơ hội và tạo ra cơ hội làm ăn. Trong hoạt động thơng mại thơng nhân đóng vai
trò chính. Nhận thức t tởng, trình độ của thơng nhân kém sẽ hạn chế sự phát
triển của hoạt động thơng mại và ngợc lại.
5.7) Khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ của tỉnh.
Hàng hoá, dịch vụ có khả năng cạnh tranh cao dễ giành thắng lợi trong
việc giành hợp đồng cung cấp hàng hoá, dịch vụ do vậy hoạt động thơng mại dễ
diễn ra. Đồng thời hàng hoá dịch vụ có khả năng cạnh tranh cũng dễ mở rộng
quan hệ thơng mại với các đối tác làm ăn bên ngoài, dễ mở rộng thị trờng và giữ
thị trờng đã có do đó khiến cho hoạt động thơng mại phát triển.
5.8) Cơ sở hạ tầng cho hoạt động thơng mại.
Cơ sở hạ tầng kém sẽ ảnh hởng không chỉ đến hoạt động thơng mại mà
còn ảnh hởng đến sự phát triển kinh tế nói chung. Cơ sở hạ tầng cho hoạt động
thơng mại gồm các chợ, các cửa hàng buôn bán hàng hoá, trụ sở văn phòng giao
dịch, trung tâm thơng mại, siêu thị, trung tâm xúc tiến thơng mại, Nếu các cơ
sở hạ tầng nói trên nằm ở vị trí thuận lợi nh mặt đờng, đầu mối giao thông, gần
khu dân c, có điện nớc, có dịch vụ thông tin liên lạc viễn thông, tốt, lại đợc
xây dựng khang trang sach sẽ cảnh quan tơi đẹp, giá thuê hợp lý, thì chắc
chắn sẽ thu hút đợc nhiều ngời mua ngời bán nhờ vậy hoạt động thơng mại sẽ
diễn ra sôi động phong phú giải quyết tốt đầu ra cho sản xuất và làm sống động
một vùng dân c.
5.9) Thu nhập của dân c trong tỉnh.
Thu nhập của dân c trong tỉnh có ảnh hởng lớn đến hoạt động thơng mại
của tỉnh. Vì thu nhập dân c ảnh hởng đến nhu cầu và cơ cấu cầu về các hàng
hoá, dịch vụ mà cầu và cơ cấu nhu cầu sẽ quyết định đến nội dung và hình thức
của hoạt động thơng mại. Thu nhập thấp sẽ dẫn đến cầu hàng hoá dịch vụ thấp
sẽ hạn chế hoạt động thơng mại và ngợc lại.
5.10) Sự quản lý Nhà nớc của cơ quan quản lý Nhà nớc về thơng mại và sự
hoạt động của các doanh nghiệp thơng mại.
Các cơ quan quản lý Nhà nớc về thơng mại ở các huyện thị và Sở thơng
mại tỉnh có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển hoạt động thơng mại trên
địa bàn. Các cơ quan này có nhiệm vụ quy hoạch, kế hoạch sự phát triển các
hoạt động thơng mại trên địa bàn, lập chiến lợc phát triển thơng mại, cấp giấy
phép và xem xét các hoạt động kinh doanh thơng mại, phổ biến và kiểm tra việc
thực hiện các văn bản pháp luật về thơng mại của Nhà nớc, đào tạo cán bộ làm
công tác thơng mại, chỉ đạo các cơ quan trực thuộc chống buôn lậu, làm hàng
giả, chống gian lận thơng mại, chống đầu cơ lũng đoạn thị trờng, quản lý các
hoạt động xúc tiến thơng mại trên địa bàn, Sự hoạt động có hiệu quả hay nói
khác đi là sự quản lý Nhà nớc có hiệu quả của các cơ quan này sẽ làm cho hoạt
động thơng mại phát triển bởi vì các công việc họ làm chính là việc thực hiện cơ
chế, chủ trơng, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nớc, tạo cơ sở hạ tằng
cho hoạt động thơng mại. Các cơ quan quản lý Nhà nớc về thơng mại hoạt động
8
không hiệu quả thì sự quản lý Nhà nớc về thơng mại bị buông lỏng điều này sẽ
khiến cho thị trờng không lành mạnh, các hoạt động thơng mại phát triển tự
phát không theo định hớng. Muốn hoạt động thơng mại phát triển cần thiết phải
có sự quảnlý Nhà nớc có hiệu quả.
Các doanh nghiệp thơng mại của tỉnh có vai trò rất quan trọng trong việc
đẩy mạnh hoạt động thơng mại trên địa bàn. Bởi vì thông qua hoạt động của
mình các doanh nghiệp thơng mại đã phát triển và mở rộng thị trờng, tìm kiếm
bạn hàng cung cấp và tiêu thụ sản phẩm cho cả tỉnh. Kết quả hoạt động của
doanh nghiệp thơng mại đóng góp phần lớn trong các chỉ tiêu đo sự phát triển
của hoạt động thơng mại. Doanh nghiệp thơng mại Nhà nớc còn thể hiện sự chủ
đạo trong nhiều lĩnh vực, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác tham gia vào thị
trờng, chi phối và điều tiết giá cả một số mặt hàng. Doanh nghiệp thơng mại
hoạt động có hiệu quả sẽ làm cho hoạt động thơng mại phát triển và ngợc lại.
5.11) Truyền thống, tôn giáo, phong tục tập quán của nhân dân trong tỉnh.
Đây là nhân tố ảnh hởng đến nhu cầu và cách tiêu dùng hàng hoá do vậy
nó ảnh hởng đến hoạt động thơng mại. Một nơi có truyền thống không ăn thịt
thì nơi đó thịt không thể bán đợc, một nơi có tục kiêng ăn, kiêng mặc những thứ
loè loẹt vào một số tháng nào đó thì khó có thể buôn bán các thứ trang phục loè
loẹt đó trong các tháng kiêng vv. Truyền thống, tôn giáo, phong tục tập quán
khác nhau giữa các nơi cũng sẽ làm cho tính thông thơng của thị giữa các vùng
trong tỉnh bị hạn chế điều đó cũng sẽ làm cho hoạt động thơng mại kém phát
triển. Vùng này không thể bán cho vùng kia sản phẩm của mình nếu nh phong
tục tôn giáo vùng đó không cho phép tiêu dùng hàng hoá đó và ngợc lại.
6) Một số chỉ tiêu đo sự phát triển của hoạt động thơng mại của một tỉnh.
6.1) GDP thơng mại dịch vụ và tốc độ tăng GDP thơng mại dịch vụ.
6.1.1) GDP thơng mại dịch vụ.
+ GDP thơng mại dịch vụ là tổng giá trị tăng thêm mà hoạt động thơng
mại dịch vụ tạo ra.
+GDP thơng mại dịch vụ là chỉ tiêu cho phép biết vai trò, khả năng, hiệu
quả của hoạt động thơng mại. Hoạt động thơng mại càng phát triển thì GDP th-
ơng mại dịch vụ càng lớn và ngợc lại.
+ GDP thơng mại dịch vụ = GDP của tỉnh-(GDP nông nghiệp + GDP
công nghiệp ) = Tổng giá trị sản xuất thơng mại dịch vụ-Chi phí trung gian
của hoạt động thơng mại dịch vụ.
6.1.2) Tốc độ tăng GDP thơng mại dịch vụ.
+ Tốc độ tăng GDP thơng mại dịch vụ là kết quả của việc đem so sánh
GDP thơng mại dịch vụ của năm này với GDP thơng mại dịch vụ của năm kia.
9
+ Tốc độ tăng GDP thơng mại dịch vụ cho phép ta biết khả năng phát
triển của hoạt động thơng mại dịch vụ năm này so với năm kia nh thế nào và kết
quả phát triển của hoạt động thơng mại dịch vụ của tỉnh trong một thời kỳ ra
sao. Tốc độ tăng trởng GDP thơng mại dịch vụ càng lớn chứng tỏ hoạt động th-
ơng mại của năm này so với năm kia càng tiến bộ và ngợc lại.
+ Tốc độ tăng trởng GDP thơng mại dịch vụ của năm i so với năm j =
(GDP thơng mại dịch vụ của năm i - GDP thơng mại dịch vụ của năm j) chia
cho GDP thơng mại dịch vụ của năm j.
6.2) Mức lu chuyển hàng hoá xã hội của tỉnh.
+ Lu chuyển hàng hoá là quá trình sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu
dùng thông qua quan hệ mua bán, tức là thông qua quan hệ hàng hoá và tiền tệ.
+ L u chuyển hàng hoá bao gồm:
* Lu chuyển hàng ban đầu (Ngời sản xuất bán cho thơng nghiệp, bán
cho ngời tiêu dùng sản xuất, bán cho dân c): Phản ánh khối lợng hàng hoá rời
khỏi lĩnh vực sản xuất đi vào lĩnh vực lu thông.
* Lu chuyển hàng hoá trung gian (Thơng nghiệp bán cho thơng nghiệp,
bán cho dân c, bán cho ngời tiêu dùng sản xuất): Phản ánh khối lợng hàng hoá
lu chuyển trong các tổ chức thơng nghiệp cha ra khỏi lĩnh vực lu thông, nói lên
quy mô kinh doanh của ngành thơng nghiệp.
* Lu chuyển hàng hoá bán buôn (Ngời sản xuất và thơng nghiệp mua
của ngời sản xuất, mua của dân c, mua của thơng nghiệp, mua của ngời tiêu
dùng sản xuất ): Phản ánh khối lợng hàng hoá mua về với mục đích để tiêu
dùng sản xuất hoặc tiếp tục bán.
* Lu chuyển hàng hoá bán lẻ: Phản ánh khối lợng hàng hoá mua về thoả
mãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Lu chuyển hàng hoá bán lẻ cho phép tính toán
các chỉ tiêu nghiên cứu tiêu dùng và mức sống của dân c.
+ Tổng mức lu chuyển hàng hóa xã hội phản ánh tổng khối lợng hàng
hoá lu thông trên thị trờng bao gồm cả bán lẻ lẫn bán buôn.
Tổng mức lu chuyển hàng hoá xã hội = Tổng mức bán ra xã hội +
Tổng mức mua vào xã hội
Tổng mức lu chuyển hàng hoá xã hội cho biết vai trò của hoạt động th-
ơng mại đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phơng.Tổng mức lu chuyển xã
10
hội càng lớn thì hàng hoá đợc lu thông càng nhiều. Điều này cho thấy kinh tế xã
hội của tỉnh càng phát triển.
6.3) Tổng kinh ngạch xuất nhập khẩu:
+ Tổng kinh ngạch xuất nhập khẩu là tổng giá trị xuất khẩu cộng với
tổng giá trị nhập khẩu.
+ Tổng kinh ngạch xuất nhập khẩu cho biết kết quả của hoạt động ngoại
thơng của tỉnh. Tổng kinh ngạch xuất nhập khẩu càng lớn thì hoạt động ngoại
thơng càng phát triển. Đồng thời còn phản ánh nền kinh tế của tỉnh là nền kinh
tế mở hay không, mở ở mức độ nào.
+ Tổng kinh ngạch xuất nhập khẩu = Tổng kinh ngạch xuất khẩu +
Tổng kinh ngạch nhập khẩu.
Nếu tổng kinh ngạch xuất khẩu > Tổng kinh ngạch nhập khẩu tỉnh xuất siêu.
Nếu tổng kinh ngạch xuất khẩu< Tổng kinh ngạch nhập khẩu tỉnh nhập siêu.
Tỉnh nào nhập siêu nhiều sẽ không tốt và phản ánh rằng hàng hoá của tỉnh xuất
đợc ít kinh tế cha phát triển lắm.Tỉnh nào xuất siêu điều đó chứng tỏ tỉnh có
trình độ phát triển kinh tế xã hội khá tốt hàng hoá có chât lợng và giá trị
cao vv.
+ Tổng kinh ngạch xuất khẩu chia cho dân số của tỉnh = bình quân
xuất khẩu đầu ngời. Chỉ tiêu này cho biết trình độ hoạt động ngoại thơng của
tỉnh. Nếu chỉ tiêu này đạt 180USD/1 ngời thì tỉnh là tỉnh có hoạt động ngoại th-
ơng phát triển trung bình, thấp hơn thì ngợc lại.
6.4) Một số chỉ tiêu khác.
Ngoài các chỉ tiêu trên ta còn có một số chỉ tiêu khác đo hoạt động thơng
mại nh : Số lao động hoạt động thơng mại dịch vụ; Số doanh nghiệp hoạt
động trên lĩnh vực thơng mại dịch vụ; Số chợ, số cửa hàng, số trung tâm thơng
mại, số siêu thị, số trung tâm xúc tiến thơng mại trên địa bàn tỉnh; Số vốn của
ngành thơng nghiệp dịch vụ; Lãi của ngành thơng nghiệp Nhà nớc; Số doanh
nghiệp chuyên doanh xuất nhập khẩu, hoạt động nội thơng; Số thuế ngành th-
ơng mại dịch vụ đóng hàng năm vv.
11
Chơng II:
Thực trạng hoạt động thơng
mại và các giải pháp đẩy mạnh
hoạt động thơng mại đang thực
hiện ở Hà Tây.
I) Một số nét cơ bản về tỉnh Hà Tây.
Hà Tây trớc đây là một phần của tỉnh Hà Sơn Bình. Năm 1991 đến đầu
năm 1992 Hà Sơn Bình tách thành Hà Tây và Hoà Bình
Hà Tây có diện tích tự nhiên 2.192,95 Km
2
bao gồm 14 huyện, thị xã
trong đó Hà Đông là tỉnh lỵ. Toàn tỉnh có 24 phờng và 300 xã.
Tính đến hết năm 2000:
+ Dân số Hà Tây là 2.423.000 ngời, đứng thứ bảy so với toàn quốc. Hà
Tây có 3 dân tộc khác nhau trong đó dân tộc kinh chiếm tỷ lệ 99%.
+ Lao động ở trong độ tuổi 1276.300 ngời chiếm 52,55% dân số.
+ Công nhân viên chức địa phơng quản lý khoảng 48.200 ngời.
+ Tổng sản phẩm GDP theo giá thực tế: 7540 tỷ đồng.
Cơ cấu GDP theo ngành:
Công nghiệp& xây dựng cơ bản: 2.304.000.000 đồng chiếm 30,5%
Nông-lâm-thuỷ sản: 3090 tỷ đồng chiếm 41%
Thơng mại dịch vụ: 2146 tỷ đồng chiếm 28,5%
Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế:
Ngoài Nhà nớc và khu vực có vốn đầu t nớc ngoài 79%
Khu vực Nhà nớc chiếm 21%
+Tốc độ tăng GDP bình quân 1996-2000 khoảng 7,2% năm cao hơn cẩ
nớc (6,8%). GDP bình quân đầu ngời năm 1996 khoảng 2 triệu đồng, năm 2000
đạt gần 3,112 triệu đồng tơng ứng với trên 200 USD nhng chỉ bằng 60% mức
bình quân của cả nớc.
+ Ngành nông lâm nghiệp và thuỷ sản: Giá trị sản xuất nông nghiệp thời
kỳ 1996-2000 của tỉnh tăng với tốc độ 8,1% năm. Năm 2000 đạt khoảng 3285
tỷ đồng (theo giá cố định năm 1994) tăng gần 709 tỷ đồng so với năm 1996.
Bình quân lơng thực trong 4 năm qua hàng năm tăng 3,22%, sản lợng lơng thực
bình quân/ ngời năm 1999 đạt 414 kg/ngời. Ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng
cao, năm 1999 đạt trên 68% về giá trị sản lợng. Ngành trồng trọt có nhiều sản
phẩm có thể xuất khẩu đợc, các thế mạnh của sản phẩm trồng trọt là:
12
Sản lợng thóc năm 2000 đạt khoảng 877.000 tấn.
Sản lợng mầu năm 2000 đạt khoảng 123.000 tấn.
Sản lợng ngô: 70080 tấn quy thóc.
Sản lợng lạc: 5400 tấn quy thóc.
Sản lợng đậu tơng: 17.800 tấn quy thóc.
Cây mía đạt: 15.000 tấn.
Ngành trồng trọt không những đáp ứng đủ lơng thực cho nhu cầu của
nhân dân trong tỉnh mà còn d thừa cho xuất khẩu. Lơng thực của Hà Tây có
chất lợng khá cao do làm tốt khâu chọn giống, chăm sóc dới sự chỉ đạo khá sâu
sát của các cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp ở địa phơng.
Ngành chăn nuôi từng bớc phát triển đa dạng để trở thành ngành chính.
Năm 1999 ngành chăn nuôi chiếm tỷ trọng gần 30% của Nông nghiệp với nhiều
sản phẩm nh:
Đàn trâu: 34000 con.
Đàn bò : 94000 con.
Đàn lợn : 900.000 con.
Thịt lợn xuất chuồng: 75.000 tấn.
Gia cầm : 77.000.000 con.
Ngành chăn nuôi đã tạo ra nhiều nguyên liệu cho các ngành chế biến
thực phẩm, đáp ứng tốt nhu cầu của nhân dân trong và ngoài tỉnh, d thừa cho
xuất khẩu.
+ Ngành công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp có bớc tăng trởng đáng kể so
với năm 1996 với mức tăng trởng bình quân hàng năm 16% (1996-2000). Giá
trị sản lợng của các ngành năm 2000 là :
Khối doanh nghiệp Nhà nớc trung ơng: 184,5 tỷ đồng.
Khối doanh nghiệp Nhà nớc địa phơng : 264 tỷ đồng.
Ngoài Nhà nớc : 1558,5 tỷ đồng.
Doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài: 990 tỷ đồng.
Các sản phẩm chính của ngành là đá các loại, bia, vỏ đồ hộp, vỏ bao bì,
chè khô, quần áo may sẵn, đồ chơi trẻ em. Hà Tây là tỉnh có nhiều làng nghề
thủ công nhất nớc (106 làng nghề ) với nhiều sản phẩm làm ra nổi tiếng trong cả
nớc nh tơ lụa Hà Đông, sản phẩm rèn Đa Sĩ, nón chuông, khảm trai Phú Xuyên,
Sơn mài mỹ nghệ Thờng Tín Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp của các
làng nghề ở một số huyện trong tỉnh rất cao nh Hoài Đức, Phú Xuyên, Thờng
Tín, Thanh Oai, Hà Đông Các làng nghề phát triển tạo điều kiện cho xuất
khẩu phát triển, giải quyết công ăn việc làm, thu hút vốn nhàn rỗi, của nhân
dân vào sản xuất, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Các sản
phẩm công nghiệp của Hà Tây còn gặp khó khăn về thị trờng mặt hàng, sản
13
phẩm. Các cơ sở công nghiệp còn nhỏ bé, trình độ công nghệ lạc hậu cha đủ sức
cạnh tranh mạnh trên thị trờng.
+ Đời sống văn hoá-xã hội của nhân dân trong tỉnh đợc chú trọng. Các
hoạt động văn hoá thông tin có nhiều tiến bộ trong việc giữ gìn truyền thống
lịch sử, bản sắc văn hoá dân tộc. Công tác y tế có nhiều thành tựu đến nay
100% số xã có cơ sở y tế. Năm 2000 theo thống kê trung bình đã có trên 9,5 bác
sĩ/ vạn dân, 16,6 giờng bệnh/vạn dân. Công tác kế hoạch hoá gia đình đợc duy
trì tốt năm 2000tỷ lệ sinh giảm, tỷ lệ tăng tự nhiên giảm. Số hộ xem truyền hình
đạt 80%. Công tác triển khai xoá đói giảm nghèo đã triển khai có hiệu quả hơn.
Công tác giáo dục, đào tạo có nhiều tiến bộ, số học sinh phổ thông năm 1999-
2000 tăng 1%, 12/14 huyện thị đợc công nhận đạt tiêu chuẩn phổ cập THCS.
+ Hà Tây là tỉnh có nhiều tiềm năng về du lịch, với nhiều di tích lịch sử
văn hoá (nhiều chỉ sau Hà Nội và Thành phố HCM ) gắn liền với lịch sử phát
triển của dân tộc. Hà Tây có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng nh: Chùa H-
ơng, Chùa Thầy, Đồng mô, Hàng năm lợng khách đến với Hà Tây không phải
nhỏ. Đây là điều kiện để du lịch và hoạt động thơng mại Hà Tây phát triển.
+ Hà Tây có hệ thống cơ sở hạ tầng khá tốt so với một số tỉnh khác
* Về giao thông: Hà Tây chỉ có 20% đờng tốt, 40% đờng trung bình,
50% đờng xấu. Hà Tây có cả đờng sông, đờng thuỷ, đờng sắt, đờng bộ và hàng
không. Đờng sắt có tổng chiều dài khoảng 42,5km, đờng thuỷ gồm các tuyến
sông do trung ơng quản lý dài khoảng 148km, địa phơng quản lý dài 7km. Có
các cảng Sơn Tây, Hồng Vân, Vạn Điểm (thuộc Sông Hồng), Vân Đình, Tế
Tiêu (Thuộc sông Đáy). Hà Tây có hai sân bay: Hoà Lạc, Miếu Môn, hiện các
sân bay này thuộc bộ quốc phòng quản lý. Trong tơng lai dự kiến xây dựng Hoà
Lạc thành sân bay du lịch và xây dựng Miếu Môn thành sân bay Quốc tế.
* Về thông tin liên lạc: Trang bị máy điện thoại tính đến hết năm 1999
có 100% số xã có điện thoại và 1,59 máy/ 100 dân.
* Về điện lới: Tính đến hết năm 2000 tỉnh đã có 100% số xã đợc sử dụng
điện lới quốc gia với tổng số hộ nông thôn sử dụng điện chiếm khoảng 98,6%
tổng số hộ của toàn tỉnh.
Trong thời gian tới từ 2001 đến 2005 Hà Tây sẽ:
+ Nắm bắt và tranh thủ những đIều kiện thuận lợi nhất để phát triển kinh
tế với tốc độ cao và bền vững, phấn đấu đạt mức bình quân chung của cả nớc
vào năm 2010.
+ Tận dụng những cơ hội để phát triển mạnh kinh tế đối ngoại, phát triển
kinh tế theo hớng mở cửa và hớng ngoại. Hà Tây phấn đấu đạt kinh ngạch
xuất khẩu so với năm 2000 vào năm 2005 tăng gấp 1,5-2 lần và vào năm 2010
gấp 3-4 lần.
+ Từng bớc nâng cao đời sống và mức thu nhập của dân c, phấn đấu vào
năm 2010 cơ bản không còn hộ nghèo.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét