mô sản xuất. Những ngời đang sản xuất hàng hoá sẽ thu hẹp quy mô sản xuất
để chuyển sang sản xuất loại hàng hoá này. Nh vậy, t liệu sản xuất, sức lao
động và vốn đợc chuyển vào ngành này tăng lên, cung về loại hàng hoá này trên
thị trờng sẽ tăng cao. Ngợc lại khi ngành đó thu hút quá nhiều lao động xã hội,
cung vợt cầu, giá cả hàng hoá hạ xuống, thì ngời sản xuất sẽ phải chuyển bớt t
liệu sản xuất và sức lao động ra khỏi ngành này để đầu t vào nơi có giá cả hàng
hoá cao. Nhờ vậy mà t liệu sản xuất và sức lao động đợc phân phối qua lại một
cách tự phát vào các ngành này để d dầu t vào nơi có giá cả hàng hoá cao. Nhờ
vậy mà t liệu sản xuất và sức lao động đợc phân phối qua lại một cách t phát
vào các ngành sản xuất khác nhau. ở đây ta thấy rằng sự biến động của giá cả
xung quanh giá trị không những chỉ rõ sự biến động về kinh tế mà còn có tác
động điều tiết nền kinh tế.
Ngoài ra ta còn thấy quy luật giá trị cũng điều tiết và lu thông hàng hoá.
Hàng hoá bao giờ cũng vận động từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao. Quy luậ
giá trị có tác dụng điều tiết sự vận động đó, phân phối các nguồn hàng hoá một
cách hợp lý hơn trong nớc.
1.2.2.2.Quy luật giá trị kích thích cải tiến kĩ thuật,hợp lý hoá sản xuất
nhằm tăng năng suất lao động.
Trong nền kinh tế hàng hoá, ngời sản xuất hàng hoá nào cũng mong có
nhiều lãi. Ngời có nhiều lãi hơn là ngời có thời gian lao động cá biệt ít hơn hoặc
bằng thời gian lao động xã hội cần thiết. Còn những ngời có thời gian lao động
cá biệt lớn hơn thời gian lao động xã hội cần thiết thì sẽ bị lỗ không thu về đợc
toàn bộ lao động đã hao phí. Muốn đứng vững và thắng trong cạnh tranh, mỗi
ngời sản xuất đều luôn luôn tìm cách rút xuống đến mức tối thiểu thời gian lao
động cá biệt. Muốn vậy, những ngời sản xuất phải tìm mọi cách cải tiến kỹ
thuật, nâng cao trình độ tay nghề, sử dụng những thành tựu mới của khoa học,
kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản lý của sản xuất, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ. Sự
cạnh tranh quyết liệt càng thúc đẩy các quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, kết
quả l à năng suất lao động tăng lên nhanh chóng. Ngoài ra để có thể thu đợc
nhiều lãi, ngời sản xuất hàng hoá còn phải thờng xuyên cải tiến chất lợng, mẫu
mã hàng hoá cho phù hợp nhu cầu, thị hiếu của ngời tiêu dùng, cải tiến các biện
pháp lu thông, bán hàng để tiết kiệm chi phí lu thông và tiêu thụ sản phẩm
nhanh. Vì vậy quy luật giá trị có tác dụng thúc đẩy sản xuất hàng hoá nhiều,
nhanh, tốt, rẻ hơn.
1.2.2.3.Quy luật giá trị phân hoá những ngời sản xuất hàng hoá thành
kẻ giàu ngời nghèo,làm phát sinh và phát triển quan hệ kinh tế t bản chủ
nghĩa.
Trong cuộc cạnh tranh chạy theo giá trị, lao động cá biệt của mỗi ngời sản
xuất có thể không nhất trí với lao động xã hội cần thiết. Những ngời làm tốt,
làm giỏi có năng suất lao động cá biệt thấp hơn thời gian lao động xã hôị cần
thiết và nhờ đó họ phát tài, làm giàu, mua sắm thêm t liệu sản xuất, mở rộng
quy mô sản xuất. Bên cạnh đó những ngời làm ăn kém, không may mắn, thời
gian lao động cá biệt lớn hơn thời gian lao động xã hội cần thiết nên họ bị lỗ
vốn thậm chí đi đến phá sản. Nh vậy, quy luật giá trị có ý nghĩa bình tuyển,
đánh giá ngời sản xuất, kích thích những yếu tố tích cực phát triển và đào thải
các yếu tố kém. Nó đảm bảo sự bình đẳng đối với ngời sản xuất.Sự phân hoá
này là kết quả tự nhiên sản xuất hàng hoá dựa trên chế đô t hữu.
1.3. Kinh tế thị trờng.
Nền kinh tế Việt Nam ta đã và đang vận hành theo cơ chế thị trờng vậy
chúng ta phải hiểu thế nào là cơ chế thị trờng ta có một số vấn đề sau:
1.3.1. Kinh tế thị trờng là gì?Bản chất của nền kinh tế thị trờng ở Việt
Nam.
Kinh tế thị trờng là sự phát triển cao hơn của kiểu tổ chức kinh tế - xã hội
mà hình thái phổ biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm để trao đổi trên thị
trờng. Kinh tế thị trờng là một nền kinh tế khách quan do trình độ phát triển của
lực lợng sản xuất quyết định, trong đó toàn bộ quá trình từ sản xuất tới trao đổi,
phân phối và tiêu dùng đều thực hiện thông qua thị trờng.
Đặc trng cơ bản của kinh tế thị trờng là các chủ thể tự do lựa chọn các hình
thức sở hữu, phơng thức kinh doanh, ngành nghề mà luật pháp không cấm. Mọi
hoạt động kinh tế đều diễn ra theo quy luật của nó, sản xuất và bán hàng hoá
theo yêu cầu của thị trờng, bán cái gì mà thị trờng cần chứ không phải bán cái
mình có, tiền tệ hoá các quan hệ kinh tế, các chủ thể đợc theo đuổi lợi ích chính
đáng của mình.
Mô hình kinh tế của Việt Nam đợc xác định là nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần,vận động theo cơ chế thi trờng có sự quản lý của nhà nớc,định hớng
xã hội chủ nghĩa.
Nói đến kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa có nghĩa la nền kinh
tế của chúng ta không phảI là kinh tế quản lý theo kiểu tập trung quan liêu bao
cấp nh trớc đây nhng đó cũng không phảI là nền kinh tế thị trờng tự do giống
nh các nớc t bản.Tức là không phảI thị trờng t bản chủ nghĩa,cũng cha hoàn
toàn là kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa.Chúng ta đang ở trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội,còn có sự đan xen và đấu tranh gữa cái cũ và cái mới,vừa
có,vừa cha có đầy đủ yếu tố xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay,nền kinh tế thị trờng của nớc ta còn ở tình trạng kém phát
triển,cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu, thấp kém,nền kinh tế ít nhiều còn
mang tính tự cấp tự túc.Tuy nhiên,nớc ta không lặp lai hoàn toàn quá trình phát
triển kinh tế của các nớc đI trớc:kinh tế hàng hoá giản đơn chuyển lên kinh tế
thị trờng tự do,rồi từ kinh tế thị trơng tự do chuyển lên kinh tế thị trờng hiện
đại.Nớc ta xây dựng nền kinh tế thị trơng hiện đạI,định hớng xã hội chủ nghĩa
theo kiểu rút ngắn.ĐIều này cí nghĩa là phảI đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đạI hoá để phát triển nhanh chóng lực lợng sản xuất,trong một thời gian tơng
đối ngắn xây dựng đợc cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đạI để nền kinh tế nớc ta bắt
kịp với trình độ phát triển chung của thế giới,đồng thời phảI hình thành đồnh bộ
cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc.Nhà nớc có vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc quản lý kinh tế vĩ mô và thực hiện định hớng xã hội chủ nghĩa.
1.3.2. Cơ chế thị trờng.
Cơ chế thị trờng là cơ chế hoạt động của nền kinh tế hàng hoá, điều tiết
quá trình sản xuất và lu thông hàng hoá theo yêu cầu khách quan của các quy
luật vốn có của nó nh quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu,
quy luật lu thông tiền tệ. Có thể nói cơ chế thị trờng là tổng thẻ các nhân tố kinh
tế, cung cầu, giá cả, hàng tiền. Trong đó ngời sản xuất và ngời tiêu dùng tác
động lẫn nhau thông qua thị trờng để xác định 3 vấn đề cơ bản là sản xuất cái
gì? sản xuất nh thế nào? sản xuất cho ai?
Cơ chế thị trờng là một trật tự kinh tế, không hề hỗn độn. Nó hoạt động
nh một bộ máy tự động không có ý thức, nó phối hợp rất nhịp nhàng hoạt động
của ngời tiêu dùng với các nhà sản xuất thông qua hệ thống giá cả thị trờng.
Không một ai tạo a nó, nó tự phát sinh và phát triển cùng với sự ra đời và phát
triển của kinh tế hàng hoá. Lợi nhuận chính là động lực cơ bản của sự vận động
nền kinh tế hàng hoá. Nó sẽ hớng những ngời sản xuất vào lĩnh vực mà ngời
tiêu dùng có nhu cầu nhiều và bắt họ phải bỏ những lĩnh vực có ít nhu cầu, cũng
nh buộc bộ sử dụng những công nghẹ mới để có đợc hiệu quả cao nhất.
Cơ chế thị trờng là một cơ chế tinh vi đợc điều tiết bởi các quy luật của thị
trờng. Đó là cơ chế "phạt và thởng", "thua và đợc", "lỗ và lãi" của hoạt động
kinh tế. Trong cơ chế thị trờng mọi vấn đề cơ bản của nền sản xuất đều đợc giải
quyết thông qua thị trờng và chịu sự chi phôí của các quy luật của thị trờng. Do
đó có thể nói cơ chế thị trờng là guồng máy hoạt động và tự điều chỉnh của nền
kinh tế hàng hoá theo yêu cầu của cac quy luật kinh tế vốn có của nó. Các quy
luật này quan hệ, tác động lẫn nhau tạo ra những nguyên tắc vận động của nền
kinh tế hàng hoá. Nói tới cơ chế thị trờng, trớc hết ta phải nói tới các nhân tố cơ
bản cấu thành nó, đó là tiền và hàng, ngời mua và ngời bán hàng hoá. Từ đó
hình thành ra các quan hệ: hàng - tiền, mua - bán, cung - cầu và giá cả hàng
hoá, hình thành mâu thuẫn cạnh tranh giữa các thành viên tham gia thị trờng mà
động lực thúc đẩy họ là lợi nhuận. Vì vậy thông qua lỗ, lãi mà cơ chế thị trờng
quyết định các vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất là gì? sản xuất nh thế nào? và sản
xuất cho ai?
Nh đã trình bày ở trên cơ chế thị trờng không những chỉ có những u điểm
mà còn có cả những khuyết tật không thể tránh khỏi. Đó là, gây nên sự phân
hoá dẫn đến phá sản của ngời sản xuất kinh doanh, gây lãng phí kinh tế, các
hiện tọng buôn gian, bán lận, đầu cơ, làm hàng giả, phá hoại môi sinh. Vì vậy
trong cơ chế thị trờng Nhà nớc cần quản lý, điều tiết theo định hớng mục tiêu đã
định, hạn chế các mặt tiêu cực của cơ chế thị trờng. Dới quyền chỉ đạo của Nhà
nớc thì nèn kinh tế thị trờng sẽ phát triển vững chắc hơn và việc vận dụng các
quy luật vào việc phát triển kinh tế sẽ trở nên thấu đáo hơn, có hiệu quả hơn
trong phát triển kinh tế.
1.3.3.Tính chất của nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam.
Nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,một
mặt vừa có những tính chất chung của nền kinh tế thị trờng,mặt khác kinh tế thị
trờnh định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dựa trên cơ sở và đựoc dẫn dắt,chi
phối bởi nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội.Do đó,kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa co những đạc trng riêng.
Thứ nhất,về mục tiêu phát triển kinh tế thị trờng.Muc tiêu hàng đàu của n-
ớc ta làgiảI phóng sức sản xuất,động viên mọi nguồn lực trong nớcvà ngoàI nớc
để thc hiện công nghiệp hoá ,hiên đạI hoá,xây ding cơ sở vật chất kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội ,nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội ,cảI thiện từng bớc đời sống
nhân dân.
Thứ hai,nền kinh tế thị trờng gồm nhiều thành phần,trong đó kinh tế nha n-
ớc giữ vai trò chủ đạo.Trong nền kinh tế nớc ta tôn tạI ba loạI hình sở hữu cơ
bản là sở hữu toàn dân,sở hữu tập thể,sở hữu t nhân.T ba loạI hình sở hữu cơ
bản đó hình thành nên năm thành phần kinh tế .Đó là kinh tế nhà nớc,kinh tế
tập thể,kinh tế cá thể ,tiểu chủ,kinh tế t bản t nhân,kinh tế t bản nhà nớc,kinh tế
có vôn đầu t nớc ngoài.Trong đó kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo.Việc xác
định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc là vấn đề có tính nguyên tắc và là sự
khác biệt có tính chất bản chất giữa kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa
với kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa.
Thứ ba,trong nền kinh tế thị trơng định hớng xã hôI chủ nghĩa thực hiện
nhiều hình thức phân phối thu nhập,trong đó lây phân phối theo lao động là chủ
yếu.
Thứ t, cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trờng có sự quản lý của
nhà nớc xã hội chủ nghĩa.Vai trò quản lý của nhà nớc xã hội chủ nghĩa là hết
sức quan trọng.Nó bảo đảm cho nền kinh tế tăng trởng ổn định,đạt kết quả
cao,đạc biệt là đảm bảo công bằng xã hội.Không ai ngoàI nhà nớc có thể giảm
bớt đợc sự chênh lệch giữa giàu và nghèo,giữa thành thị và nông thôn,giữa các
vùng của đất nớc trong đIều kiện kinh tế thị trờng.
Thứ năm,nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa cung là nền
kinh tế mở,hội nhập .Chỉ có nh vậy mới thu hút vốn,kỹ thuật,công nghệ,kinh
nghiệm quản lý tiên tiến của các nớc để khai thác tiềm năng và thế mạnh của n-
ớc ta,thực hiện phát huy nội lực để xây dựng và phát triển kinh tế thị trờng hiên
đạI theo kiểu rút ngắn.
Ch ơng 2
THựC TRạNG VậN DụNG QUY LUậT GIá TRị VàO NềN KINH Tế
NƯớc ta trong thời gian qua và những giảI pháp đề ra
nhằm vận dụng quy luật giá trị vào nền kinh tế việt nam
2.1. Thực trạng việc vận dụng quy luật giá trị vào nền kinh tế Việt
Nam
2.1.1.Việc vân dụng quy luật giá trị vào những năm nền kinh tế bao
cấp.
Trong thời kỳ này chúng ta đã có cách hiểu không đúng về việc thực hiện
mục tiêu tăng trởng kinh tế và thực hiện công bằng,bình đẳng xã hội,do đo việc
vận dụng quy luật giá trị đã có những thiếu sót,sai lệch.Hậu quả là đã làm triệt
tiêu nhng nhân tố tích cực ,năng động của xã hội.Nền kinh tế rơI vào tình trạng
trì trệ,kém phát triển.
2.1.2Việc vân dụng quy luật giá trị thời gian sau đổi mới.
Không một nền kinh tế nào có thể coi là hoàn thiện, là phát triển tốt tuyệt
đối cho dù đó có là nền kinh tế của một quốc gia phát triển nhất thế giơí đi nữa.
Lúc nào nó cũng chứa những mặt trái, những mặt còn cha tốt, những hạn chế
cần đợc tiếp tục khắc phục. Việc áp dụng các quy luật kinh tế vào việc vận
hành và quản lý nền kinh tế của một quốc gia luôn luôn tiềm ẩn những nguy cơ
đổ vỡ nền kinh tế do vận dụng không đúng cách, không đúng yêu cầu thực tế.
Đó vẫn là một trong những vấn đề nan giải của rất nhiều quốc gia trên thế giới,
trong đó có cả nớc Việt Nam của chúng ta. Vậy hiện nay, chúng ta cần phải làm
gì và làm nh thế nào để phát triển nền kinh tế yếu kém, lạc hậu đi lên một nền
kinh tế mới phát triển hơn, hoàn chỉnh hơn. Trớc khi xét điều đó ta sẽ đi phân
tích nền kinh tế nớc ta trong những năm gần đây để thấy đợc thực trạng nền
kinh tế của đất nớc.
Nền kinh tế của một quốc gia luôn luôn biến động cùng với nền kinh tế thế
giới. Để phát triển nền kinh tế thì vấn đề trớc hết là ta phải biết bắt đầu từ đâu,
đã có những cái gì và cha có đợc những gì, cái gì phải làm trớc, cái gì nên làm
sau mới thực hiện. ở phần này chúng ta sẽ đợc rà soát một lợt những vấn đề tồn
tại trong nền kinh tế Việt Nam để có thể lu tâm vạch ra kế hoạch cho sự khắc
phục và phát triển những yếu tố đó.
Thứ nhất, để phát triển nền kinh tế thì chúng ta cần phải có vốn, đó là vấn
đề đáng quan tâm hàng đầu của nớc ta hiện nay. Vậy mà trên thực tế những
năm gần đây nớc ta luôn trong tình trạng thiếu hụt nguồn vốn vì tổng thu ngân
sách luôn nhỏ hơn tổng chi ngân sách.
Thứ hai, là cơ sở vật chất của đất nớc. Điều không thể không thừa nhận là
nớc ta là cơ sở vật chất kém phát triển, chậm phát triển. Các khu công nghiệp
ít, hệ thống máy nớc trang thiết bị lạc hậu. Cơ sở vật chất không đáp ứng đủ cho
việc thu hút vốn đầu t của nớc ngoài. Hệ thống giao thông không thuộn lợi, kém
phát triển, lại thêm sự ảnh hởng của thiên nhiên và môi trờng càng làm cho hệ
thống cơ sở vật chất của nớc ta ngày càng bị sa sút nghiêm trọng. Chính sách
đầu t cho phát triển cơ sở hạ tầng còn cha đợc quan tâm thích đáng. Các nguồn
tài nguyên thiên nhiên bị lãng phí hoặc bị bỏ quên còn nhiều. Những điều đó đã
gây ảnh hởng không nhỏ tới nền kinh tế quốc dân.
Thứ ba, là con ngời. Trình độ văn hoá của con ngời thấp kém, khả năng
ứng dụng máy nớc, trang thiết bị hiện đại trong phát triển sản xuất không đạt
yêu cầu thực tế. Hơn nữa những ngời có tay nghề, kỹ thuật cao chiếm số ít trong
lực lợng lao động của đất nớc. Thái độ lao động của nhiều ngời còn không
nghiêm túc. Những ngời có trình độ, có tri thức vận dụng tài năng của mình để
tham ô tài sản nhà nớc. Tất cả các yếu tố trên đã góp một phần không nhỏ vào
việc kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế đất nớc.
Thứ t, là vấn đề kỹ thuật và công nghệ. Trình độ khoa học kỹ thuật và công
nghệ còn yếu. Không có thành tựu nào là đáng kể trong nghiên cứu khoa học
mà chỉ thừa hởng những công nghệ đã lạc hậu ở nớc tiên tiến trên thế giới
chuyển giao lạ. Điều đáng nói là ngay cả việc giám định các công nghệ chuyển
giao cũng không có. Nó đã gây lãng phí ngân sách Nhà nớc rất nhiều vì chúng
ta phải nhận những máy móc, công nghệ đã qua sử dụng với giá cả ngàng bằng
giá của máy móc, công nghệ mới. Nguyên nhân cơ bản là do Nhà nớc không có
chính sách đầu t thích đáng cho nghiên cứu, ứng dụng triển khai các thành tựu
khoa học kỹ thuật mới.
Thứ năm, là cơ cấu kinh tế. Tuy nền kinh tế nớc ta đang vận hành theo cơ
chế thị trờng nhng cơ cấu kinh tế của nớc ta vẫn cha chặt chẽ, hợp lý, vẫn còn
nhiều kẽ hở lớn, cơ cấu ngành nghề còn nhiều điều bất cập. Các vùng kinh tế
cha đợc chú ý phát triển đồng đều về các mặt. Do đó sự phát triển của nền kinh
tế quốc dân vẫn vị kìm hãm.
Thứ sáu là mức tăng dân số quá nhanh. Tuy những năm gần đây tỷ lệ tăng
dân số có giảm hơn trớc những vấn đề còn cao. Nó đồng nghĩa với việc số lao
động ngày càng gia tăng trong khi việc làm thì ngày càng ít do sự phát triển của
khoa học công nghệ. Chính những ngời thất nghiệp này là nguy cơ dẫn đến sự
gia tăng của tệ nạn xã hội, anh minh không đợc bảo đảm.
Cuối cùng là thế chế chính trị và quản lý của Nhà nớc. Đây cũng là nhân
tố quan trọng nhất có vai trò quyết định trong phát triển kinh tế của đất nớc.
Tuy rằng nớc ta có một thể chế chính trị ổn định và tiến bộ nhng khả năng định
hớng cho sự phát triển kinh tế còn nhiêù khuyết tật, mà lý do chính là sự điều
tiết hớng phát triển của nền kinh tế còn cha phù hợp, gây ô nhiễm môi trờng,
làm phân hoá giầu nghèo, nạn thất nghiệp ngày càng gia tăng.
Nhận thức và vận dụng quy luạt giá trị thể hiện chủ yếu trong việc hình
thành giá cả. Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị, giá cả phải lấy gái trị làm
cơ sở thì mới có căn cứ kinh tế, mới có tác dụng kích thích tăng năng suất lao
động, cải tiến kỹ thuật, hạ tầng thành sản phẩm. Nhà nớc phải chủ động lợi
dụng cơ chế hoạt hoạt động của quy luật giá trị nghĩa là khả năng giá cả tách rời
giá trị, và xu hớng đa giá cả trở về giá trị. Thông qua chính sách giá cả, Nhà nớc
vận dụng quy luật giá trị nhằm;
Thứ nhất là kích thích sản xuất phát triển. Đối với xí nghiệp quốc doanh,
chủ yếu là xây dựng một hệ thống giá bán buôn để đa chế độ hạch toán kinh tế
đi vào nền nếp và có căn cứ vững chắc.
Thứ hai là điều hoà lu thông hàng tiêu dùng. Trong chế độ kinh tế thị tr-
ờng, tổng khối lợng va cơ cấu hàng tiêu dùng do kế hoạch lu chuyển hàng hoá
quyết định căn cứ vào trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, mức tăng thu
nhập quốc dân, và thu nhập bằng tiền của nhân dân, nhu cầu về hàng tiêu dùng
trong điều kiện sức mua khong đổi, nếu giá cả một loại hàng nào đó giảm
xuống thì lợng hàng tiêu thụ sẽ tăng lên và ngợc lại. Nhà nớc có thể quy định
giá cả cao hay thấp để ảnh hởng đến khối lợng tiêu thụ một số loại hàng nào đó
nhằm làm cho nhu cầu và mức tăng của sản xuất về một số hàng tiêu dùng ăn
khớp với kế hoạch lu chuyển hàng hoá của Nhà nớc.
Thứ ba là phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân thông qua chính
sách giá cả, việc quy định hợp lý các tỷ giá, Nhà nớc phân phối và phân phối lại
thu nhập quốc dân giữa các ngành nhằm phục vụ cho yêu cầu năng cao đồi sống
của nhân dân lao động.
Cuối cùng, nhận thức và vận dụng quy luật giá trị nói rộng ra là biết sử
dụng các đòn bẩy của kinh tế hàng hoá nh tiền lơng, giá cả, lợi nhuận dựa
trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết để tổ chức và thực hiện chế đọ hạch
toán kinh tế.
Tóm lại, những điều trình bày trên đây nói lên trong kinh tế thị trờng có
sự cần thiết khách quan phải kết hợp kế hoạch với thị trờng, lấy cái sau bổ
xung cho cái trớc. Quá trình kết hợp đó cũng là một quá trình phát huy tác dụng
tích cực của quy luật giá trị, là một quá trình tự giác vận dụng quy luật giá trị và
quan hệ thị trờng nh là một công cụ để xây dựng các mặt kinh tế, kích thích cải
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét