- Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thì: Bảo hiểm là sự thỏa thuận, qua
đó một bên ( Người bảo hiểm) cam kết sẽ thanh toán cho bên kia ( Người được
bảo hiểm hay người tham gia bảo hiểm), một khoản tiền nếu có sự cố xảy ra gây
tổn thất về tài chính cho Người được bảo hiểm. Trách nhiệm thanh toán những tổn
thất này được chuyển giao từ Người tham gia bảo hiểm đến Người bảo hiểm. Để
chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, Người bảo hiểm đòi Người được bảo hiểm
một khoản tiền đó là phí bảo hiểm.
- Một cách toàn diện hơn người Pháp cho rằng: Bảo hiểm là một hoạt động,
thông qua đó một cá hay một tổ chức có quyền được hưởng bồi thường hoặc chi
trả nếu rủi ro xảy ra, nhờ vào khoản đóng góp cho mình hay cho người khác.
Khoản bồi thường hoặc chi trả này do một tổ chức đảm nhiệm, tổ chức này có
trách nhiệm trước các rủi ro và bù trừ chúng theo qui luật thống kê.
Dù BHTM được khái niệm bằng cách nào nhưng nó đều thể hiện bản chất
của BH nói chung đó là sự san sẻ rủi ro trên cơ sở số lớn của các cá nhân và tổ
chức xã hội thông qua hoạt động của các tổ chức BH. Nói cách khác BH là
phương sách xử lý tủi ro, nhờ đó việc chuyển giao, phân tán rủi ro trong từng
nhóm người được thực hiện thông qua hoạt động kinh doanh của các DNBH.
b) Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm thương mại
*) Nguyên tắc số đông bù số ít: KDBH là việc người BH tìm kiếm lợi ích kinh
tế dựa trên cơ sở hợp đồng BH, mà theo đó đổi lấy phí BH, người BH cam kết
thực hiện bồi thường, hoặc trả tiền BH cho người được BH khi có sự kiện BH xảy
ra. Khoản tiền bồi thường hay chi trả này thường lớn hơn gấp nhiều lần so với
khoản phí BH mà các DNBH nhận được. Để làm được điều này, hoạt động của
BHTM phải dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít. Đây là nguyên tắc xuyên suốt
không thể thiếu được trong bất kỳ một nghiệp vụ BHTM nào.
Các DNBH thông qua việc huy động bằng hình thức phí BH, thành lập nên
quỹ bồi thường để chi trả cho các tổn thất có thể xảy ra trong cộng đồng những
người tham gia BH. Các DNBH đã thực hiện việc bù trừ rủi ro theo qui luật số
lớn. Theo nguyên tắc này, càng nhiều người tham gia BH thì quỹ BH tích tụ được
5
càng lớn, việc chi trả càng trở nên dễ dàng, rủi ro được san sẻ cho nhiều người
hơn. Thông thường, một sản phẩm BH chỉ có thể được triển khai có hiệu quả khi
có nhiều nhu cầu về cùng loại dịch vụ đó.
*) Nguyên tắc rủi ro có thể được bảo hiểm: Về nguyên tắc, những rủi ro có thể
được BH là những rủi ro bất ngờ, không lường trước được và những nguyên nhân
gây ra rủi ro phải là khách quan và không cố ý. Vì vậy, các DNBH thường không
nhận BH cho các trường hợp tổn thất gây ra do hành vi cố ý của người tham gia
BH (ví dụ cố ý tự tử), những tổn thất đã xảy ra, hoặc chắc chắn sẽ xảy ra ( ví dụ
hao mòn tự nhiên, giảm giá trị thương mại ), hay những tổn thất bởi người tham
gia BH vi phạm nghiêm trọng pháp luật…Để đảm bảo nguyên tắc này, trong các
điều khoản của hợp đồng BH luôn qui định các rủi ro bị loại trừ.
Nguyên tắc này nhằm tránh việc bồi thường cho những tổn thất có thể thấy
trước hoặc chắc chắn sẽ xảy ra. Đồng thời làm giảm sác xuất rủi ro trong khi tính
toán và đưa ra mức phí BH chính xác, hợp lý. Nguyên tắc này không chỉ đảm bảo
quyền lợi cho các DNBH mà chính những người tham gia BH cũng được hưởng
mức phí BH hợp lý và cảm thấy công bằng hơn khi mua BH.
*)Nguyên tắc phân tán rủi ro: Các DNBH có chức năng huy động và thành lập
quỹ BH trên cơ sở sự đóng góp của nhiều người. Đây là một quỹ tài chính lớn và
dùng để thực hiện cam kết bồi thường và chi trả BH. Tuy nhiên các DNBH cũng
phải đối mặt với những tổn thất có thể rất lớn mà không phải lúc nào DNBH cũng
đảm bảo được khả năng thanh toán ( có thể thấy điều này ở các DNBH có qui mô
nhỏ, hoặc mới thành lập).
Vì lý do trên, các nhà BHTM thường không nhận những rủi ro quá lớn vượt
quá khả năng tài chính của mình. Tuy nhiên, để tránh được điều tối kỵ là phải từ
chối nhận BH, đồng thời vẫn đảm bảo được hoạt động kinh doanh, các DNBH áp
dụng nguyên tắc phân tán rủi ro đó là đồng BH và tái BH. Nếu trong đồng BH,
nhiều DNBH cùng nhận BH cho một rủi ro lớn thì tái BH lại là phương thức trong
đó, một DNBH nhận BH cho một rủi ro lớn, sau đó nhượng bớt phần rủi ro cho
một hoặc nhiều DNBH khác.
6
*) Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: Nguyên tắc này đòi hỏi các DNBH phải có
trách nhiệm cân nhắc các điều kiện điều khoản để soạn thảo hợp đồng đảm bảo
cho quyền lợi của hai bên. Sản phẩm cung cấp của nhà BH là sản phẩm dịch vụ và
là sản phẩm “vô hình”. Người mua chỉ có trong tay một hợp đồng, một cam kết
chứ không hề có một sản phẩm cụ thể. Vì vậy, chất lượng sản phẩm có được đảm
bảo hay không, quyền lợi của người mua có được đầy đủ công bằng hay không…
đều chủ yếu dựa vào sự trung thực từ phía các DNBH. Ngược lại, nguyên tắc này
cũng đòi hỏi người tham gia BH phải trung thực khi kê khai về những đối tượng
trước khi tham gia BH, để xác định mức phí phù hợp, cũng như phải trung thực
khi khai báo rủi ro trong khi đòi bồi thường. Mọi hành vi gian lận, không trung
thực, nhằm trục lợi BH sẽ bị pháp luật xử lý.
*) Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm: Nguyên tắc này yêu cầu người
tham gia BH phải có một số quan hệ với đối tượng tham gia BH và được pháp luật
công nhận. Mối quan hệ có thể biểu hiện qua quyền sở hữu, quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng, quyền tài sản và quyền nghĩa vụ nuôi,cấp dưỡng đối với đối tượng
được BH. Nguyên tắc này nhằm loại bỏ khả năng BH cho tài sản của người khác,
hoặc cố tình gây thiệt hại nhằm thu lợi từ một hợp đồng BH.
Ngoài các nguyên tắc cơ bản trên, còn có một số nguyên tắc đó là nguyên
tắc bồi thường, nguyên tắc khoán…áp dụng cho từng trường hợp cụ thể.
1.1.1.2 Bảo hiểm phi nhân thọ và phân loại bảo hiểm phi nhân thọ
a) Bảo hiểm phi nhân thọ: Cho đến nay, chưa có một tài liệu nào đưa ra một
khái niệm riêng cho BH phi nhân thọ. Song có thể hiểu khái niệm về BH phi nhân
thọ chính là khái niệm BH thương mại, bởi lẽ:
Nguyên tắc hoạt động, đối tượng và lĩnh vực hoạt động của BHTM cũng
chính là những nguyên tắc, đối tượng và lĩnh vực hoạt động của BH PNT . Đối
tượng bao gồm các loại tài sản (hữu hình và vô hình), con người và một số trách
nhiệm phát sinh do mối quan hệ giữa con người với con người. Vì vậy, theo tiêu
thức đối tượng, BHTM gồm có: BH tài sản, BH trách nhiệm dân sự và BH con
người (bao gồm con người PNT và BH nhân thọ). Như vậy, có thể hiểu BHTM
7
hoạt động trên hai lĩnh vực PNT và nhân thọ - trong đó BH nhân thọ chỉ là một
hình thức của BH con người.( BH nhân thọ là sự cam kết trong đó người BH sẽ trả
cho người tham gia BH một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước
xảy ra, còn người tham gia BH phải nộp phí BH theo qui định của hợp đồng. BH
nhân thọ là quá trình BH các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi
thọ con người, đồng thời nó còn có tính chất tiết kiệm). BH PNT không có tính
tiết kiệm và chỉ BH rủi ro khách quan, bất ngờ.
Chúng ta có thể thấy rõ điều muốn nói ở trên qua sơ đồ sau:
b) Phân loại bảo hiểm phi nhân thọ: Tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm ý nghĩa
mà các sản phẩm BH được phân chia thành các nhóm như sau:
*) Nếu căn cứ theo hình thức tham gia, BH phi nhân thọ có hai loại: Bảo hiểm
bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện. Phần lớn các sản phẩm BH PNT là BH tự
nguyện. Việc tham gia BH hay không phụ thuộc vào nhận thức và nhu cầu của
người tham gia BH. Các DNBH đáp ứng được hay không cũng tùy thuộc vào khả
năng tài chính, trình độ kỹ thuật nghiệp vụ của DN đó. Trong khi đó, BH bắt buộc
bao gồm các sản phẩm BH mà pháp luật qui định các tổ chức cá nhân phải tham
gia BH và các DNBH phải phục vụ theo một số điều khoản, mức phí và mức trách
nhiệm BH theo qui định của nhà nước. Hiện nay ở Việt Nam có một số loại BH
bắt buộc như: BH bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba và hành
khách trên xe, BH trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật,
BH trách nhiệm nghề nghiệp của DN môi giới BH, một số loại BH cháy nổ.
BẢO
HIỂM
THƯƠNG
MẠI
BẢO
HIỂM
THƯƠNG
MẠI
BHIỂM
TÀI SẢN
BHIỂM
TNDSỰ
BHIỂM
CON
NGƯƠÌ
BH CON
NGƯỜI PNT
BHIỂM
NHÂN THỌ
BHIỂM
PHI
NHÂN
THỌ
8
*) Nếu căn cứ theo đối tượng bảo hiểm phi nhân thọ có ba loại: BH tài sản, BH
trách nhiệm dân sự và BH con người phi nhân thọ.
- Bảo hiểm tài sản: Là loại BH có đối tượng là tài sản ( có thể là hữu hình hoặc
vô hình). Những tài sản hữu hình tồn tại dưới hình thể vật chất ( nhà cửa, phương
tiện vận chuyển, đường xá, cầu cống bến cảng, cây trồng vật nuôi…) và tài sản vô
hình là phát minh, sáng chế, bản quyền, nhãn hiệu hàng hóa…Với sự đa dạng đó,
cho đến nay không phải tất cả các loại tài sản đều đã có thể được BH, song cũng
đã hình thành nhiều loại BH tài sản khác nhau.
Hiện nay, ở Việt nam có những nghiệp vụ BH tài sản cơ bản sau:
+ Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu; BH hàng hóa vận chuyển nội địa.
+ BH thân tàu ( tàu biển, tàu hoạt động nội thủy, sông hồ,thuyền đánh cá)
+ Bảo hiểm thiệt hại vật chất xe cơ giới.
+ Bảo hiểm thân máy bay.
+ Bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng; Bảo hiểm lắp đặt.
+ Bảo hiểm tài sản trong vận chuyển dầu, thăm dò khai thác dầu khí.
+ Bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt.
+ Bảo hiểm nông nghiệp ( cây trồng vật nuôi).
+ Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh.
+ Một số nghiệp vụ khác: BH tiền trong két, nhà tư nhân,trộm cắp,tín dụng …
Đặc trưng cơ bản của BH tài sản: Người được BH có thể do chủ sở hữu
hoặc người được giao quyền chiếm hữu sử dụng, người thừa kế. BH tài sản có thể
nhận BH một phần hoặc toàn bộ giá trị tài sản , không BH lớn hơn giá trị tài sản
đó. Trong mọi trường hợp, số tiền bồi thường không thể lớn hơn thiệt hại của tài
sản đó trong một sự cố BH.
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự (TNDS): TNDS là một loại trách nhiệm
pháp lý, nó phát sinh do vi phạm nghĩa vụ dân sự. TNDS được coi là biện pháp
cưỡng chế, nó được áp dụng đối với người thực hiện hành vi trái pháp luật. Nhìn
chung TNDS là trách nhiệm bồi thường thiệt hại .Tại điều 3.10 Bộ Luật dân sự
nước ta đã chỉ rõ: “ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù
9
đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm nghĩa vụ gây ra.
Người gây thiệt hại… phải bồi thường một khoản tiền cho người bị hại”.TNDS có
hai loại TNDS theo hợp đồng và TNDS ngoài hợp đồng. Một số nghiệp vụ BH
TNDS cơ bản:
+ BH TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 và hành khách trên xe.
+ Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với hàng hóa vận chuyển trên xe.
+ Bảo hiểm TNDS của chủ tàu biển.
+ Bảo hiểm TNDS của chủ hãng hàng không
+ Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm.
+ Bảo hiểm TNDS của chủ thầu đối với người thứ ba trong xây lắp.
Đặc trưng cơ bản của bảo hiểm TNDS: Đối tượng BH trong BH TNDS
mang tính trìu tượng: Khi thiết lập hợp đồng thì đối tượng BH chưa xuất hiện. Nó
chỉ biểu hiện cụ thể khi có sự cố xảy ra làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường.
Phương thức BH có thể là có giới hạn (được ấn định trong hợp đồng), hoặc không
giới hạn (không ấn định trước mà bồi thường theo phát sinh trách nhiệm)
- Bảo hiểm con người phi nhân thọ: Là loại BH có mục đích thanh toán
những khoản trợ cấp hoặc số tiền ấn định cho người được BH hoặc người được
thụ hưởng BH, trong trường hợp xảy ra những sự kiện tác động đến chính bản
thân người được BH. Những rủi ro trong BH con người PNT là tai nạn, bệnh tật,
ốm đau, tử vong. Vì lý do giá trị con người là không thể xác định bằng tiền, nên
trong BH con người không có khái niệm BH trùng, và thuật ngữ “chi trả BH”
hoặc “thanh toán tiền BH” được thay thế cho “bồi thường bảo hiểm”.
- Một số loại BH con người ở Việt Nam hiện nay: BH tai nạn con người,
BH trợ cấp nằm viện và phẫu thuật, BH sinh mạng cá nhân, BH toàn diện học
sinh, BH tai nạn hành khách, BH tai nạn thuyền viên, BH khách du lịch…
- Đặc trưng của BH con người PNT: Đối tượng của BH con người PNT là
tính mạng, sức khỏe: Đây là một phạm trù phi giá trị hóa.Số tiền BH, được ấn
định trước trên hợp đồng BH. Khi có sự kiện BH, các khoản tiền BH được thanh
toán mang tính chất khoán chứ không phải là bồi thường thiệt hại.
10
Việc phân loại như trên sẽ thuận lợi hơn cho công tác nghiên cứu và phát
triển các sản phẩm BH khác nhau. Mặt khác, nó giúp các DNBH quản lý tốt
nghiệp vụ và tiến hành tổ chức kinh doanh khoa học và có hiệu quả cao hơn.
1.1.1.3. Đặc điểm và vai trò của bảo hiểm phi nhân thọ
a) Đặc điểm của bảo hiểm phi nhân thọ
- Quá trình hoạt động KDBH phi nhân thọ, là quá trình tạo lập, quản lý và
sử dụng quỹ tiền tệ của các DNBH.
- Trên phương diện xử lý rủi ro, BH là loại biện pháp rất có hiệu quả. Cơ
chế hoạt động là chuyển giao, phân tán rủi ro trên cơ sở hợp đồng. Cơ chế đó
khiến cho việc gánh chịu rủi ro, đặc biệt là những rủi ro trầm trọng vượt quá khả
năng chống đỡ của mỗi cá nhân, gia đình, tổ chức trở nên dễ dàng hơn.
- Đã có ý kiến cho rằng, ở một góc độ nào đó BH PNT là “kinh doanh rủi
ro”điều này đúng nhưng chưa đủ. Một trong những đặc điểm của BH PNT là chỉ
nhận BH cho những rủi ro có thể xảy ra và gây thiệt hại đến tài sản, tính mạng,sức
khỏe mà không có tính chất tiết kiệm như BH nhân thọ.Điều đó cũng có nghĩa chỉ
khi các rủi ro được BH gây thiệt hại cho người được BH thì mới được bồi thường.
Khi hết thời hạn BH mà không có rủi ro xảy ra thì người được BH hết quyền lợi
và đương nhiên sẽ không được trả lại số phí BH đã đóng.
- Thời hạn của hợp đồng BH phi nhân thọ thường là 01 năm hoặc ngắn hơn
( ngoại trừ một số hợp đồng trong BH xây dựng lắp đặt có thời hạn theo thời gian
xây dựng công trình). Thậm chí có những hợp đồng BH chỉ có hiệu lực vài tháng (
ví dụ BH hàng hoá xuất nhập khẩu), vài ngày ( BH vận chuyển hàng hóa, BH du
lịch), hoặc chỉ và giờ ( BH tai nạn hành khách, BH du lịch).
- Nếu BH nhân thọ áp dụng kỹ thuật tồn tích, thì bảo hiểm con người phi
nhân thọ lại áp dụng kỹ thuật phân chia trong quản lý quỹ tài chính BH.
b) Vai trò của bảo hiểm phi nhân thọ
- BH PNT góp phần đảm bảo ổn định đời sống, ổn định tài chính, từ đó ổn
định về tinh thần cho người tham gia BH và mang lại sự an toàn cho xã hội. Khi
gặp rủi ro thiên tai hay tai nạn bất ngờ, các cá nhân, DN sẽ bị tổn thất về kinh tế
11
hoặc thiệt hại về người.Tổn thất đó sẽ được BH bồi thường hoặc trợ cấp về tài
chính, để người tham gia BH nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định đời sống,
khôi phục và phát triển sản xuất kinh doanh. Từ việc hỗ trợ tài chính, BH còn đáp
ứng các nhu cầu về đảm bảo an toàn cho người tham gia BH, đưa đến cho họ sự
tin cậy về sự an toàn và một chỗ dựa tinh thần.
- Do tính chất nghề nghiệp và xuất phát từ chính lợi ích của các DNBH phi
nhân thọ, đòi hỏi họ phải có trách nhiệm nghiên cứu, đánh giá rủi ro, thống kê tai
nạn, xác định các nguyên nhân và đề ra các biện pháp kiểm soát , ngăn ngừa giảm
thiểu rủi ro cho toàn xã hội. Để thực hiện điều đó, các DNBH PNT thường xuyên
tiến hành các hoạt động đề phòng hạn chế tổn thất giúp cho cuộc sống con người
an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm bớt nỗi lo của mỗi cá nhân mỗi DN. Điều
này có ý nghĩa rất lớn đối mỗi con người và toàn xã hội.
- Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động KDBH PNT là tạo
lập, quản lý quỹ tài chính đủ lớn, nhằm chủ động đối phó với rủi ro và góp phần
làm giảm “tổng rủi ro” của xã hội. Trong cuộc sống cũng như trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, mỗi cá nhân hay tổ chức, DN khó mà xác định được có những
rủi ro gì mà họ sẽ gặp phải và mức độ thiệt hại là như thế nào, bởi lẽ rủi ro luôn là
ngẫu nhiên và bất ngờ. Vì vậy, họ khó có thể định trước được kế hoạch tài chính
để đối phó với những thiệt hại đó. Tuy nhiên, các DNBH có thể tính toán xác suất
rủi ro trên cơ sở quy luật số lớn, từ đó có kế hoạch tài chính tương đối phù hợp với
những hậu quả của các rủi ro có thể gây nên.
- BH PNT là “ tấm lá chắn” hữu hiệu cho các DN, thông qua việc ổn định
giá thành sản phẩm. Thật vậy, khi không may gặp rủi ro bất ngờ, DN sẽ bị thiệt
hại về tài chính và chắc chắn sẽ đẩy chi phí của DN tăng lên. Khi đó nếu giữ
nguyên giá để cạnh tranh, thì sẽ bị giảm lợi nhuận thậm chí bị lỗ. Ngược lại nếu
tăng giá thì sẽ mất cạnh tranh về giá. Tác động này là rất lớn nếu DN gặp những
thiệt hại lớn do rủi ro. Đây là bài toán rất khó hóa giải,nhất là đối với các DN vừa
và nhỏ có số vốn hạn chế dễ bị “ chèn ép” về giá. Bài toán đó sẽ được các DNBH
PNT hóa giải một cách đơn giản nếu các DN tham gia BH.
12
- BH PNT góp phần ổn định chi tiêu ngân sách Nhà nước. Các tổ chức, đơn
vị hoạt động bằng nguồn ngân sách Nhà nước có thể tham gia BH. Thay vì bỏ ra
số phí BH “ tương đối nhỏ”, mà ngân sách Nhà nước không phải chi ra số tiền có
thể rất lớn để trợ cấp cho các thành viên khi gặp rủi ro. Mặt khác, BH PNT cũng
còn đóng góp vào ngân sách Nhà nước thông qua các loại thuế.
- BH PNT có thể cung cấp một số vốn không nhỏ để đầu tư, phát triển kinh
tế - xã hội. Với đặc điểm trong KDBH : phí nộp trước, việc bồi thường, trả tiền
BH chỉ phải thực hiện sau đó một thời gian. Vì vậy, lượng vốn phần lớn có thời
gian tạm thời nhàn rỗi sẽ được đem đầu tư vào nền kinh tế. Thực tế ở nhiều quốc
gia phát triển, các tổ chức BH hoạt động rất mạnh trên thị trường bất động sản, thị
trường chứng khoán, đặc biệt là thị trường vốn. Đóng vai trò là một rung gian tài
chính, các tổ chức BH thu hút vốn, cung ứng vốn, thúc đẩy nhanh sự luân chuyển
về vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế.
- Bảo hiểm phi nhân thọ cũng góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế
giữa các nước thông qua hoạt động tái BH.
- Cuối cùng BH PNT là chỗ dựa tinh thần cho mọi cấ nhân,tổ chức xã
hội;giúp họ yên tâm trong cuộc sống sinh hoạt và trong sản xuất kinh doanh. Bởi
vì với một giá khiêm tốn ( phí BH), BH PNT có thể giúp đỡ các gia đình các tổ
chức, DN khắc phục những hậu quả khôn lường mà rủi ro gây ra.
- BH PNT- một trung gian tài chính trong thị trường tài chính: Cũng như
các thị trường tài chính, các tổ chức tài chính trung gian thực hiện chức năng dẫn
vốn từ người có vốn tới người cần vốn. Không có trung gian tài chính, thị trường
tài chính không thể có lợi ích trọn vẹn, bởi lẽ nó thực hiện việc “ kết nối” những
món tiền nhàn rỗi với những người đi vay một cách nhanh chóng, hiệu quả và an
toàn nhất.
Các doanh nghiệp BHTM, trong đó có DNBH phi nhân thọ là một trong
những trung gian tài chính quan trọng trong thị trường tài chính. Các DNBH phi
nhân thọ thực hiện trung gian tài chính bằng tích tụ, tập trung một quỹ tiền tệ từ
nguồn thu phí BH của khách hàng. Nguồn vốn này phần lớn là có thời gian tạm
13
thời nhàn rỗi và dùng để đầu tư vào nền kinh tế dưới các hình thức: Mua công trái,
trái phiếu, cổ phiếu, đầu tư bất động sản, cho vay ủy thác…. Như vậy, các DNBH
PNT đã góp phần đáp ứng các nhu cầu về vốn, thúc đẩy nhanh sự luân chuyển của
vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế.
1.1.2. Sự hình thành và phát triển của bảo hiểm phi nhân thọ
1.1.2.1. Bảo hiểm phi nhân thọ trên thế giới:
Trên thế giới, BH đã có lịch sử hơn nửa thiên niên kỷ phát triển. Sự ra đời và
quá trình phát triển của nó được ghi nhận bởi những dấu ấn đáng chú ý sau:
- Ai Cập (khoảng 2.500 năm trước công nguyên) những người thợ đẽo đá đã
biết lập quỹ tương trợ để giúp đỡ những người gặp hoạn nạn.
- Babylone (khoảng 1700 năm trước công nguyên) và Athènes (khoảng 500
năm trước công nguyên) xuất hiện hệ thống vay mượn với lãi suất rất cao, có khi
lên đến 400% nhằm phục vụ cho việc buôn bán và vận chuyển hàng hóa. Hình
thức cho vay với “mạo hiểm lớn”. Điểm đáng chú ý ở quan hệ cho vay mượn là
nếu hàng hoá có rủi ro, tổn thất thì người vay không phải trả khoản tiền đã vay.
Thực chất đó là một sự kết hợp giữa hoạt động vay mượn và ý đồ BH.
- Rôme: Hệ thống cho vay dựa trên những điều kiện tương tự đã được thiết
lập, lãi suất tối đa lên đến 50%.
- Tuy nhiên quan hệ vay mượn đó đã bị lạm dụng và sau này bị cấm như một
hình thức cho vay nặng lãi. Từ đó đã dần dần hình thành nên một hệ thống mới:
các nhóm nhà buôn chấp nhận trả một khoản tiến nhất định để được đảm bảo giá
trị tàu thuyền và hàng hoá chuyên chở.
- Thế kỷ 14, những thỏa thuận BH đầu tiên xuất hiện gắn liền với hoạt động
giao lưu, buôn bán hàng hoá bằng đường biển đã rất phát triển vào thời kỳ đó. Bản
hợp đồng cổ nhất còn được lưu giữ đến ngày nay được phát hành tại Gênes - Italia
vào năm 1347.
- Những thoả thuận BH trong lĩnh vực hàng hải đó có nội dung cơ bản là:
một bên là nhà buôn, chủ tàu chấp nhận trả một khoản tiền nhất định, nếu hàng
hoá, tàu thuyền không đến được nơi giao hàng thì bên kia (nhà bảo hiểm) sẽ trả
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét