Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014

tình hình hoạt động của nhct –bht và những vấn đề đặt ra cho sự phát triển của nhct-hbt trong thời gian tới

2.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban tại NHCT- HBT
Phòng Khách hàng doanh nghiệp lớn ( KH số1)
Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các doanh
nghiệp lớn về khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ ; Thực hiện các nghiệp vụ
liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể
lệ hiện hành và hướng dẫn của NHCT VN. Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới
thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng cho các doanh nghiệp lớn.
Phòng Khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ ( KH số 2)
Ban giám đốc
Phòng KH cá nhân
Phòng KHDN vừa
&nhỏ
Phòng KH DN lớn
Phòng Tiền tệ kho
quỹ
C
á
c

p
h
ò
n
g

g
i
a
o

d

c
h
Phòng Kế toán giao
dịch
Phòng Tổng hợp
Phòng quản lý rủi
ro
Phòng Tổ chức
Hành Chính
Phòng Thanh toán
XNK
Phòng Thông tin
điện toán
5
Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các Doanh
nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N), để khai thácvốn bằng VND và ngoại tệ ; Thực
hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù
hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHCTVN. Trực tiếp
quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng cho các
DNV&N.
Phòng Khách hàng cá nhân
Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các cá nhân, để
khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ ; Thực hiện các nghiệp vụ với khách
hàng là các cá nhân, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể lệ
hiện hành và hướng dẫn của NHCTVN. Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới
thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng cho khách hàng cá nhân.
Phòng quản lý rủi ro (Bao gồm cả quản lý nợ có vấn đề)
Phòng quản lý rủi ro có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc Chi nhánh về
công tác quản lý rủi ro của Chi nhánh ; Quản lý giám sát thực hiện danh mục
cho vay, đầu tư đảm bảo tuân thủ các giới hạn tín dụng cho từng khách hàng.
Thẩm định hoặc tái thẩm định khách hàng, dự án, phương án đề nghị cấp tín
dụng. Thu cj hiện các chức năng đánh giá, quản lý rủi ro trong toàn bộ các
hoạt động ngân hàng theo chỉ đạo của NHCTVN. Chịu trách nhiệm về quản
lý và đề xuất xử lý các khoản nợ có vấn đề (bao gồm các khoản nợ : cơ cấu lại
thời hạn trả nợ, nợ quá hạn, nợ xấu tại các phòng có cho vay) quản lý, khai
thác và xử lý tài sản đảm bảo nợ vay theo quy định của Nhà nước nhằm thu
hồi các khoản nợ gốc và lãi tiền vay đối với các khoản nợ xấu theo chỉ đạo
của Giám đốc Chi nhánh.Quản lý, theo dõi, đề xuất các biện pháp và phối hợp
với các Phòng có liên quan thu hồi các khoản nợ đã được xử lý rủi ro.
Phòng kế toán giao dịch
6
Là phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng :
Các nghiệp vụ và công việc liên quan đến công tác quản lý tài chính, chi tiêu
nội bộ tại Chi nhánh ; Cung cấp các dịch vụ Ngân hàng liên quan đến nghiệp
vụ thanh toán, xử lý hạch toán các giao dịch. Quản lý và chịu trách nhiệm đối
với giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên theo
đúng quy định của Nhà nước và NHCTVN. Thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho
khách hàng về sử dụng các sản phẩm Ngân hàng.
Phòng thanh toán xuất nhập khẩu
Là phòng nghiệp vụ tổ chức thực hiện nghiệp vụ về thanh toán xuất nhập
khẩu và kinh doanh ngoại tệ tại Chi nhánh theo quy định của NHCTVN
Phòng tiền tệ kho quỹ
Phòng tiền tệ kho quỹ là phòng nghiệp vụ quản lý an toàn kho quỹ, quản
lý quỹ tiền mặt theo qui định của Ngân hàng Nhà nước và NHCTVN. Ứng và
thu tiền cho các quỹ tiết kiệm, các điểm giao dịch trong và ngoài quầy, thu chi
tiền mặt cho các doanh nghiệp có thu, chi tiền mặt lớn.
Phòng tổ chức hành chính
Phòng Tổ chức Hành chính là phòng nghiệp vụ thực hiện công tác tổ
chức cán bộ và đào tạo tại Chi nhánh theo đúng chủ trương chính sách của
Nhà nước và quy định của NHCTVN, thực hiện công tác bảo vệ, an ninh an
toàn Chi nhánh.
Phòng thông tin điện toán
Thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống thông tin điện toán tại Chi
nhánh, bảo trì bảo dưỡng máy tính đảm bảo thông suốt hoạt động của hệ
thống mạng, máy tính của Chi nhánh.
7
Phòng Tổng hợp
Phòng tổng hợp là phòng nghiệp vụ tham mưu cho Giám đốc Chi nhánh
dự kiến kế hoạch kinh doanh, tổng hợp, phân tích đánh giá tình hình hoạt
động kinh doanh, thực hiện báo cao hoạt động hàng năm của Chi nhánh.
Các Phòng giao dịch
Huy động tiền gửi của dân cư và các tổ chức kinh tế trên địa bàn, cho
vay đối với các thành phần kinh tế theo đúng chế độ.
II. Tình hình hoạt động của NHCT –BHT và những vấn đề đặt ra cho sự
phát triển của NHCT-HBT trong thời gian tới
1. Kết quả hoạt động kinh doanh
1.1 Công tác huy động vốn
Trong những năm gần đây hoạt động kinh tế chung của cả nước có ảnh
hưởng không nhỏ đến hoạt động Ngân hàng nói chung và công tác huy động
vốn nói riêng. Vốn kinh doanh chủ yếu dựa vào các Ngân hàng nên cũng làm
cho việc huy động vốn gặp rất nhiều khó khăn.Nhìn chung Công tác huy động
vốn của NHCT- HBT đạt chỉ tiêu được được giao, tính cho đến năm 2006
tổng nguồn vốn huy động vốn đạt 103,9% kế hoạch của NHCTVN giao.
Về tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của Chi nhánhssssss
Năm 2005 so với năm trước đạt thấp đặc biệt so với các Ngân hàng trên
địa bàn Hà Nội nói chung và các Chi nhánh NHCT nói riêng thì càng thấp
hơn(Tổng nguồn vốn các NH trên địa bàn Hà Nội tăng 19,2%, trong đó tiền
gửi dân cư tăng 23,8%, tiền gửi TCKT tăng 15,9%, 8 Chi nhánh NHCT trên
địa bàn Hà Nội tăng11,4% )
8
Năm 2006 là 11,7% (năm 2005 tăng 5,5%), so với tốc độ tăng trưởng
của các Ngân hàng trên địa bàn Hà Nội nói chung thì Chi nhánh tăng trưởng
vẫn ở mức rất thấp (Tổng nguồn vốn các NH trên địa bàn Hà Nội đạt 232.000
tỷ tăng 32,3%, trong đó tiền gửi dân cư tăng 31,6% ; Tiền gửi của các tổ chức
kinh tế tăng 32,8% ). Nếu so với các Chi nhánh NHCT trên địa bàn Hà Nội
thì Chi nhánh có mức tăng trưởng tương đối ( các chi nhánh NHCT tăng
13.5%). Năm 2006 xét về thị phần huy động vốn trên địa bàn Hà Nội thì các
NHTM nhà nước vẫn thể hiện được ưu thế chủ đạo (chiếm 72,7% tuy nhiên
thị phần chỉ còn 72,7% giảm 3,4%) Về lãi suất huy động vốn NHCTVN chỉ
đạo đã ổn định hơn so với năm 2005 (L/S VND ổn định, chỉ có L/s huy động
ngoại tệ có thay đổi tăng tích cực theo thị trường), tuy nhiên mặt bằng chung
thì lái suất hệ thống NHCT là thấp nhất.
Năm 2007 là 16%, so với tốc độ tăng trưởng của các Chi nhánh NHCT
trên địa bàn Hà Nội nói chung thì Chi nhánh có tốc độ tăng trưởng cao hơn
(các chi nhánh NHCT tăng 8,4%) tuy nhiên so với các Chi nhánh : Ba Đình,
Đống Đa, Cầu Giấy, Cầu Diễn, Đông Anh, Yên Viên, Bắc Hà Nội, Hoàng
Mai thì tỷ lệ tăng trưởng nguồn vốn của Chi nhánh còn rất thấp, nhất là tiền
gửi dân cư chúng ta có tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn mức bình quân và xếp thứ
10 trong 12 đơn vị.
Cơ cấu nguồn vốn
Nếu phân theo loại tiền
Trong hai năm trở lại đây do tỷ giá ngoại tệ luôn có sự thay đổi nên làm
ảnh hưởng lớn đến sự cơ cấu nguồn vốn.Nguồn vốn huy động bằng VND năm
2006 chiếm tỷ trọng 79,8%, năm 2007 chiếm tỷ trọng 84,3% trong tổng
nguồn vốn huy động. Trong năm 2006 nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ tốc
độ tăng trưởng lớn hơn so với nguồn vốn huy động VND do trong năm lãi
suất huy động ngoại tệ tăng (chiếm 20,2%) và năm 2007 là 15,7%.
9
Nếu phân theo tính chất tiền gửi
Năm 2006 tiền gửi dân cư chiếm tỷ trọng 61,6% trong tổng nguồn vốn
huy động. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng 11,3% so với năm 2005 và
thường xuyên biến động do nguồn vốn này là tiền gửi thanh toán.
Năm 2007, tiền gửi dân cư chiếm tỷ trọng 51,1% trong tổng nguồn vốn huy
động, tỷ trọng giảm 7% so với năm 2006. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế
chiếm tỷ trọng 38,7% trong tổng nguồn vốn, trong năm xu hướng nguồn vốn
này giảm lớn thời gian đầu năm và tăng trưởng nhanh vào tháng cuối năm.
Bảng 1 : Số liệu về tình hình huy động vốn của NHCT-HBT từ năm 2004-2007
Chỉ tiêu TH
31/12/2004
( Tr. đ)
TH
31/12/2005
(Tr. đ)
%So
sánh
TH
31/12/2006
(Tr. đ)
%So
sánh
TH
31/12/2007
(Tr. đ)
%So Sánh
Tổng Nguồn Vốn
huy động
2.290.310 2.416.93
9
105,5 2.700.81
5
111,7 3.132.94
5
116
Theo t/c tiền gửi
- Tiền gửi TCKT 850.832 931.621 109,4 1.036.90
2
111,3 1.405.00
2
135,5
- Tiền gửi dân cư 1.439.478 1.485.31
8
103,1 1.663.91
3
112 1.727.94
3
103,8
Theo loại tiền
- Tiền gửi bằng
VND
1.863.166 1983.642 106,4 2.156.71
9
108,7 2.652.76
4
123
- Tiền gửi bằng
ngoại tệ (quy
VND)
427.144 433.297 101,4 544.096 125,5 480.181 88,3
1.2 Công tác tín dụng
Hoạt động tín dụng của NHCT- HBT gần đây có đạt được những kết
quả khả quan đáng ghi nhận, do đã quan tâm hơn nhiều đến công tác tiếp thị
10
và chăm sóc khách hàng, giải quyết những khó khăn vướng mắc để phát triển
công tác tín dụng đặc biệt là chất lượng tín dụng được đảm bảo.
Bảng 2: Số liệu về công tác Tín dụng của NHCT-HBT từ năm 2004-2007
Chỉ tiêu TH
31/12/2004
(Tr. đ)
TH
31/12/2005
(Tr. đ)
%
So
sánh
TH
31/12/2006
(Tr. đ)
% So
sánh
TH
31/12/2007
(Tr. đ)
% So
sánh
Tổng dư nợ cho
vay
Phân theo kỳ hạn
nợ
943.788 740.111 78,4 686.481 92,75 102,5
- Dư nợ CVNH 599.168 512.635 85,5 474.570 92,57 100,8
- Dư nợ CVTH 108.336 61.486 56,7 70.151 114,1 117,8
- Dư nợ CVDH 217.677 147.222 67,6 122.738 83,3 102,4
Phân theo loại tiền
- Dư nợ bằng VND 735.574 547.016 74,3 405.508 74,1 103,6
- Dư nợ ngoại
tệ(quy VND)
208.214 193.095 92,7 280.973 145,5 101
Về tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của Chi nhánh NHCT- HBT :
Đến 31/12/2004 tổng dư nợ cho vay đạt 98.2% kế hoạch so với năm
2003 tăng 13 tỷ đồng.Năm 2005 dư nợ cho vay của nền kinh tế chỉ đạt 78,4%
so với năm 2004 (dư nợ cho vay của khối NHTM trên địa bàn Hà Nội tăng
20,6% so với năm 2004). Kết quả trên do một số nguyên nhân chủ yếu như :
thứ nhất, xử lý khoản nợ phân theo nhóm 5 theo quyết định 234/QĐ-
NHCT37.Thứ hai, do quán triệt chỉ đạo của NHCTVN trong công tác Tín
dụng, về đẩy mạnh các biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng gắn liền với
tăng trưởng tín dụng hợp lý đi đôi với năng lực quản lý và kiểm soát chặt chẽ
vốn vay. Trên cơ sở chọn lọc khách hàng, Chi nhánh đã giảm dần dư nợ và
ngừng quan hệ cho vay đối với những doanh nghiệp có tình hình tài chính yếu
kém, vốn chủ sở hữu thấp hơn so với quy định, không có khả năng trả nợ
11
Ngân hàng. Thứ ba, do NHCT-HBT chưa phát triển cho vay được các dự án
mới và các đơn vị vay vốn mới.
Năm 2006 tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế chỉ đạt 85,8% so với kế
hoạch NHCTVN giao, so với năm 2005 giảm 7,25% trong khi dư nợ cho vay
của NHTM trên địa bàn Hà Nội tăng 26,4%(trong đó NHTM nhà nước tăng
9,8% thị phần còn59.2% giảm 5,1%), khối NHCP tăng 43.4%, NH liên doanh
tăng 26,4% thì khối NHCT trên địa bàn giảm 10% tỷ lệ sử dụng vốn huy động
để cho vay trực tiếp thấp chiếm chưa đầy 30% điều này làm giảm hiệu quả
kinh doanh rất lớn của NH.
Trong năm 2007 dư nợ cho vay có khả quan hơn nhiều khi đạt được 91,3% so
kế hoạch NHCTVN giao cho, tăng so với năm 2006 là 2,5% và còn thấp hơn
so với NHCT trên địa bàn Hà Nội(dư nợ của các NHCT tăng 14,8%). Tuy tỷ
lệ tăng trưởng còn thấp nhưng hoạt động tín dụng của Chi nhánh được coi là
an toàn và ít rủi ro có chất lượng.
Kể từ năm 2006, khi bắt đầu thực hiện các QĐ 070; 071 ;072/QĐ-
HĐQT ngày 3/4/2006 của HĐQT- NHCTVN ban hành nhằm tăng cường hoạt
động tín dụng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của NH nhằm sàng lọc
khách hàng. Do vậy khi áp dụng các doanh nghiệp đã gặp nhiều khó khăn
vướng mắc vì trên thực tế nhiều khách hàng có vốn chủ sở hữu thấp, tình hình
tài chính không lành mạnh, tài sản bảo đảm tiền vay không đủ điều kiện chặt
chẽ mà NH đưa ra đối với khách hàng vay. Trong hoàn cảnh hiện nay khi nền
kinh tế đã chịu tác động lớn của nền kinh tế thế giới, việc kinh doanh ngày
càng trở nên khắt khe hơn nhưng nguồn vốn kinh doanh của các doanh nghiệp
chủ yếu vẫn dựa vào các tổ chức tín dụng như NH thì điều kiện vay vốn tại
các NH đã trở nên chặt chez hơn rất nhiều. Điều này đối với các NH cũng là
điểm khó khăn chung và điều này đã tác động trực tiếp tới nguồn vốn huy
động cũng như tới tổng dư nợ cho vay.
12
Đối với các khoản vay có cầm cố tài sản, hay khoản vay được bảo đảm
bằng đất đai, bất động sản cũng đang gặp rất nhiều khó khăn không chỉ đối
với Chi nhánh mà là khó khăn chung đối với khách hàng vay vốn. Bởi lẽ có
rất nhiều đất đai bất động sản của các doanh nghiệp, và khách hàng khác gặp
rắc rối về giấy tờ quyền sử dụng đất. Việc tiến hành cho vay đối với những
khách hàng có cầm cố tài sản đặt ra rất nhiều vấn đề đối với công tác tín dụng
và tăng trưởng tín dụng tại Chi nhánh. Chẳng hạn như căn cứ định giá tài sản
thế chấp chưa đầy đủ và việc thẩm định giá tài sản chưa thực sự mềm dẻo các
Ngân hàng trên địa bàn định giá nhà đất còn chênh lệch nhau nhiều điều này
làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tín dụng.
Cùng với xu thế phát triển chung, trong những năm tới thị trường bất
động sản sẽ ngày càng phát triển hơn vì thế Chi nhánh sẽ đẩy mạnh công tác
huy động vốn từ nguồn thị trường này và có sự quan tâm hơn tới công tác tín
dụng với những khoản vay có cầm cố bằng tài sản và bất động sản. Những
chính sách, quy định về cho vay có thế chấp bằng đất đai, bất động sản đang
được quan tâm và hoàn thiện hơn nhằm thực hiện tốt công tác tín dụng cũng
như góp phần phát triển thị trường bất động sản trong những năm tới. Đó là
bước chuyển hướng chiến lược quan trọng thúc đẩy phát triển công tác tín
dụng cũng như trong sự phát triển của Chi nhánh.
13
1.3 Công tác tài trợ Thương mại
Tổng doanh số bảo lãnh năm 2005 đạt 79,2% năm 2004. Riêng boả lãnh
ký quỹ đạt 100% tại phòng Tài trợ Thương mại đạt 14 tỷ bằng 117% so với
năm 2004.
Trong năm 2006 công tác thanh toán xuất nhập khẩu và tài trợ thương
mại đã có mức tăng trưởng cao so với năm 2005, tuy nhiên nếu xét về doanh
số hoạt động cũng chưa phải là lớn, nguyên nhân chính đó là Chi nhánh chưa
tăng trưởng được tín dụng đối với các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập
khẩu. Đến năm 2007 công tác thanh toán xuất nhập khẩu của Chi nhánh có
nhiều thuận lợi hơn so với các năm trước do hoạt động thanh toán xuất nhập
khẩu của cá khách hàng truyền thống có mức tăng trưởng khá và Chi nhánh
đã chủ động tích cực có những chính sách ưu đãi vì thế các chỉ tiêu đều tăng
trưởng cao so với năm 2006, góp phần vào hiệu quả kinh doanh của Chi
nhánh.
1.4 Hoạt động dịch vụ
Dich vụ hệ thống Ngân hàng cung cấp cho khách hàng vẫn chủ yếu là
các dịch vụ truyền thống ( Tiền gửi, tiền vay, thanh toán và ngân quỹ ), việc
ứng dụng công nghệ hiện đại, dịch vụ Ngân hàng hiện đại còn hạn chế, thiếu
sản phẩm phục vụ nhu cầu đa dạng của các tổ chức và cá nhân. Do đó ảnh
hưởng lớn đến tốc độ tăng trưởng thu phí dịch vụ và tỷ lệ chiếm trong tổng
thu nhập còn thấp.
Về hoạt động thanh toán
Công tác kế toán thanh toán là một trong những hoạt động quan trọng
của Ngân hàng Thương mại. Chi nhánh đã không ngừng hoàn thiện phong
cách lề lối làm việc, triển khai kịp thời các chương trình ứng dụng công nghệ
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét