Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu của Công ty MESCO.pdf

KILOBOOKS.COM
lượng phục vụ cho xuất khẩu. Thúc đẩy sự ra đời của ngành cơng nghiệp lắp ráp
điện tử, cơng nghiệp may mặc… tạo ra những sản phẩm có giá trị cao.
3. Các hình thức nhập khẩu
Nhập khẩu trực tiếp là hình thức nhập khẩu khá phổ biến đối với các
doanh nghiệp nhưng do trình độ phát triển ngày càng cao, do sự tác động của
điều kiện kinh doanh, điều kiện mơi trường nên các doanh nghiệp đã sáng tạo ra
nhiều hoạt động nhập khẩu sao cho phù hợp với khả năng của doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp tuỳ theo điều kiện của mình là lựa chọn hình thức phù hợp.
Sau đây là một số hình thức nhập khẩu mà doanh nghiệp Việt Nam thường áp
dụng.
3.1. Nhập khẩu trực tiếp
Nhập khẩu trực tiếp là hoạt động độc lập của cơng ty, khi tiến hành nhập
khẩu theo phương thức này doanh nghiệp phải tự mình nghiên cứu thị trường
trong và ngồi nước, tính tốn chi phí, đảm bảo kinh doanh nhập khẩu có lợi
nhuận. Tn thủ theo chính sách pháp luật quốc gia và quốc tế. Hình thức nhập
khẩu trực tiếp hai bên (bên nhập khẩu và bên xuất khẩu) trục tiếp giao dịch với
nhau, việc mua bán khơng ràng buộc lẫn nhau. Trong đó bên nhập khẩu phải:
- Phải chịu trách nhiệm pháp lý về mọi hoạt động, phải tự nghiên cứu thị
trường, chịu mọi chi phí giao dịch, giao nhận, lưu kho, chi phí quảng cáo, chi
phí tiêu thụ hàng hố và thuế giá trị gia tăng.
- Doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp được tính hạn ngạch nhập khẩu và khi
tiêu thụ hàng hố nhập khẩu sẽ được tính vào doanh số và phải chịu thuế giá trị
gia tăng.
- Để tiến tới ký kết hợp đồng hai bên thường phải qua một q trình giao
dịch, thương lượng với nhau về điều kiện giao dịch.
- Độ rủi ro của hoạt động nhập khẩu này thường cao hơn các hoạt động
nhập khẩu khác nhưng lợi nhuận lại cao hơn.
3.2. Nhập khẩu uỷ thác
Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu phải thơng qua trung gian. Bên
trung gian nhận sự uỷ thác của doanh nghiệp tiến hành giao dịch, đàm phán với
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
đối tác nhập khẩu để làm thủ tục nhập khẩu theo u cầu của bên uỷ thác. Nhập
khẩu uỷ thác có những đặc điểm chủ yếu sau:
Bên nhận uỷ thác khơng phải bỏ vốn, khơng phải xin hạn ngạch, khơng
phải nghiên cứu thị trường cơng việc này thuộc bên uỷ thác. Bên nhận sự uỷ
thác chỉ đứng ra đại diện cho bên uỷ thác để tìm và giao dịch với bên đối tác
nước ngồi, ký kết hợp đồng và làm thủ tục nhập hàng, thay mặt bên uỷ thác
khiếu kiện, đòi bồi thường với đối tác nước ngồi khi có sự vi phạm hợp đồng
gây thiệt hại.
Quyền lợi mà bên nhận uỷ thác có được từ bên uỷ thác là phí uỷ thác.
Thơng thường doanh nghiệp nhận uỷ thác được hưởng một khoản thù lao trị giá
0,5% đến 1,5% tổng giá trị hợp đồng và phải nộp thuế thu nhập trên nguồn thu
này, khi tiến hành nhập khẩu doanh nghiệp nhận uỷ thác chỉ tính kim ngạch xuất
nhập khẩu chứ khơng tính vào doanh số và nộp thuế giá trị gia tăng.
Việc sử dụng trung gian giúp cho doanh nghiệp giảm được mức độ rủi ro
do những người trung gian thường hiểu biết về thị trường, pháp luật và tập qn
địa phương. Do đó họ có khả năng đẩy mạnh việc bn bán tránh bớt rủi ro cho
người uỷ thác. Mặt khác các nhà trung gian thwongf có cơ sở vật chất nhất định
nên khi sử dụng họ, người uỷ thác đó phải đầu tư trực tiếp ra nước ngồi. Tuy
nhiên khi sử dụng doanh nghiệp uỷ thác họ bị chia rẽ lợi nhuận, mất sự liên lạc
trực tiếp với thị trường
3.3. Nhập khẩu song song
Đề cập đến nhập khẩu song song là đề cập đến hoạt động thương mại gắn
liền với hàng hố chứa đựng đối tượng SHCN (Sở hữu cơng nghiệp) được bảo
hộ, nhập khẩu song song được hiểu là một nhà nhập khẩu khơng có mối liên hệ
nào với chủ đối tượng SHCN, tiến hành hành vi nhập khẩu một hàng hố nhất
định chứa đựng đối tượng SHCN nói trên đã được cung cấp bởi một nhà phân
phối được cấp licence hoặc chủ đối tượng SHCN. Như vậy, một loại hàng hố
chứa đựng đối tượng SHCN sẽ được ít nhất hia nhà khác nhau cung cấp trên một
thị trường và chỉ có một trong các nhà phân phối này được đồng ý chủ sở hữu
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
đối tượng SHCN về việc thực hiện hành vi thương mại đối với đối tượng SHCN
đó.
Đặc điểm của nhập khẩu song song:
- Chủ SHCN và nhà nhập khẩu khơng có mối liên hệ nào.
- ít nhất có hai nhà phân phối cung cấp trên một thị trường được chỉ định
bở CSHCN
- Liên quan trực tiếp đến hai mảng quan trọng của thương mại hiện đại đó
là: tự do thương mại và việc bảo hộ quyền SHCN.
Nhập khẩu song song làm xuất hiện xung đột lợi ích giữa các bên liên
quan. Do có hành vi nhập khẩu song song mà bên có quyền với đối tượng
SHCN khơng khai thác hết được quyền của mình đối với đối tượng SHCN.
Nhưng nhập khẩu song song mang lại lợi ích rất thiết thực đối với thị trường:
Khuyến khích tự do cạnh tranh, vì vậy việc cho phép nhập khẩu song song hay
khơng sẽ dẫn đến khả năng bắt buộc phải lực chọn giữa việc bảo hộ ngun tắc
tự do cạnh tranh và việc bảo hộ quyền SHCN. Đây là một mảng của thương mại
hiện đại, đối mặt với vấn đề này mỗi quốc gia đều đưa ra quan điểm của mình.
Nhìn chung vấn đề nhập khẩu song song được giải quyết linh hoạt ở các nước
khác nhau.
3.4. Nhập khẩu đối lưu
Nhập khẩu đối lưu là phương thức giao dịch trao đổi hàng hố, trong đó
nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu. Thanh tốn khơng bằng tiền mặt mà dùng
hàng hố có giá trị tương đương để trao đổi hay còn gọi nhập khẩu theo phương
thức hàng đổi hàng.
Loại hình nhập khẩu này có những đặc điểm sau:
- Trong mỗi hợp đồng có những điều kiện ràng buộc lẫn nhau khiến cho
người nhập khẩu cũng đồng thời là người xuất khẩu.
- Điều kiện cân bằng phải cân bằng về mặt hàng, về giá cả, cân bằng về
mặt tổng giá trị hàng giao cho nhau và cân bằng về điều kiện giao hàng.
- Người nhập khẩu cùng một lúc thu lãi từ hai hoạt động: nhập khẩu và
xuất khẩu điều này làm lợi cho cả hai bên.
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
- Trong q trình trao đổi hàng hố dịch vụ hai bên phải quy định thống
nhất lấy một đồng tiền làm vật ngang giá chung cho q trình trao đổi.
3.5. Nhập khẩu tái xuất
Nhập khẩu tái xuất là hoạt động mua hàng hố từ nước ngồi về nhưng
mục đích khơng phải để tiêu dùng trong nước mà xuất khẩu sang nước thứ ba
nhằm thu một khoản ngoại tệ lớn hơn. Mặt hàng này chưa qua chế biến ở nước
mình mà được xuất khẩu trực tiếp sang nước thứ ba. Như vậy, hoạt động nhập
khẩu tái xuất ln thu hút ba nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập
khẩu.
Đặc điểm của hoạt động tái xuất:
- Người kinh doanh tái xuất phải ký hai hợp đồng một hợp đồng nhập
khẩu và một hợp đồng xuất khẩu khơng chịu thuế XNK
- Hàng hố có thể chở thẳng từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu
nhưng nước tái xuất nhận tioền từ nước nhập khẩu và thanh tốn tiền cho nước
xuất khẩu.
- Về mặt thanh tốn, nhiều hợp đồng tái xuất quy định dùng phương thức
thư tín dụng giáp lưng. Kinh doanh theo hình thức này đòi hỏi sự nhạy bén tình
hình thị trường và giá cả, sự chính xác và chặt chẽ trong hợp đồng mua bán.
3.6. Nhập khẩu gia cơng
Nhập khẩu gia cơng là hình thức nhập khẩu trong đó bên nhập khẩu nhập
ngun liệu hoặc bán thành phẩm của bên đặt gia cơng để chế biến ra thành
phẩm, giao lại cho bên đặt gia cơng và nhận thù lao
Đặc điểm của hình thức này:
- Hoạt động nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất
- Cả hai bên cùng có lợi: bên đặt gia cơng giúp họ tận dụng được ngun
liệu và gia cơng rẻ của nước nhận gia cơng. Đối với bên nhận gia cơng giúp tạo
cơng ăn việc làm trong nước, tiếp nhận được thiết bị cơng nghệ mới.
- Bên nhận gia cơng chịu mọi chi phí và rủi ro của q tình sản xuất gia
cơng.
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
- Hoạt động này về phương thức thanh tốn người ta có thể áp dụng nhiều
phương thức thanh tốn như: nhờ thu, thành tốn bằng thư tín dụng
Trên đây ta xét một số hình thức nhập khẩu cơ bản. Trong đó nhập khẩu
trực tiếp là hoạt động phổ biến nhất và tồn tại lâu đời nhất. Trải qua nhiều biến
đổi của xã hội hoạt động nhập khẩu có nhiều hình thức được sáng tạo ra nhằm
đáp ứng nhu cầu thay đổi đó. Việc áp dụng hình thức nào là tuỳ thuộc và điều
kiện và trình độ cũng như năng lực của mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia. Đứng
trước thực trạng đó mỗi quốc gia mỗi tổ chức quốc tế đều đưa ra quan điểm của
mình. Bởi đây là một vấn đề nhạy cảm liên quan đến thương mại của mỗi quốc
gia, cho nên khơng phải quốc gia nào cũng có được quan điểm rõ ràng nhất
qn. Nhìn chung vấn đề nhập khẩu được giải quyết hết sức linh hoạt ở các
nước khác nhau.
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu
Hoạt động thương mại nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng đều
chịu ảnh hưởng đến nhiều yếu tố khác nhau như: kinh tế, chính trị, luật pháp văn
hố, xã hội… Các yếu tố này sẽ gây ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến hiệu
quả kinh doanh. Nhìn chung ta có thể chia nhóm ảnh hưởng đến hoạt động nhập
khẩu là nhóm chủ quan và nhóm khách quan.
4.1. Các yếu tố chủ quan
Các nhân tố chủ quan tự bản thân doanh nghiệp có thể điều chỉnh khắc
phục được, nó thuộc bản thân doanh nghiệp. Các nhân tó này có tác động tích
cực hay tiêu cực đến hoạt động kinh doanh, hoạt động nhập khẩu điều này phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như: vốn, nguồn nhân lực, về xây dựng thể chiế chính
sách phát triển thị trường, về kết cấu hạn tầng thương mại, về hình thành kênh
phân phối lưu thơng, hoạt động sản xuất kinh doanh và về tổ chức doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cần phải tự đánh giá đùng khả năng của mình để đề ra
những mục tiêu phù hợp cần đạt tới và cách thức để mục tiêu đó. Một kế hoạch
chiến lược được thiết lập và phát triển cho tồn bộ các hoạt động của doanh
nghiệp nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng.
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
Cơ cấu tổ chức bộ máy là cơ sở đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh
doanh có hiệu quả. Sự phối hợp giữa các bộ phận sẽ diễn ra nhịp nhàng thơng
suốt nếu bộ máy tổ chức có cơ cấu hợp lý. Trong đó yếu tố con người đóng vai
trò quan trọng đối với sự thành bại của một doanh nghiệp. Một đội ngũ cán bộ
có trình độ có kỷ luật nghiệp vụ thành thạo, có nhiều kinh nghiệm trong hoạt
động xuất nhập khẩu giúp cho doanh nghiệp tránh được nhiều thiếu sót trong
q trình tiến hành thủ tục nhập khẩu, dự kiến trước được tình hình biến đổi trên
thị trường xuất nhập khẩu để đề ra biên pháp, chính sách xuất nhập khẩu phù
hợp.
Một hệ thống kênh phân phối tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được
chi phí, hàng hố tiệu thụ nhanh và kịp thời đến khách hàng. Điều này ảnh
hưởng tới tình hình nhập khẩu của doanh nghiệp. Vì khi hàng hố tiêu thụ mạnh
có nghĩa là sản xuất sẽ được mở rộng doanh nghiệp vì vậy mà nhu cầu nhập
khẩu phục vụ cho sản xuất tiêu dùng tốt hơn.
Đối với bất kỳ doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh đều cần đến vốn.
Nguồn vốn mà doanh nghiệp có được bằng nhiều cách: vốn tự có, vốn góp và
vốn vay hoặc lợi nhuận tái đầu tư. Quy mơ sản xuất kinh doanh ít nhiều phụ
thuộc vào nguồn vốn mà doanh nghiệp có được nó là cơ sở để đảm bảo khả năng
thanh tốn đối với lượng hàng hố nhập khẩu.
Kết cấu hạ tầng thương mại đảm bảo cho hàng hố giữ được phẩm chất.
Nếu doanh nghiệp có kết cấu hạ tầng thương mại tố sẽ giúp cho doanh nghiệp
tránh được những thiệt hại, rủi ro sẽ diễn ra đối với hàng hố như: đổ vỡ, sự tác
động của mơi trường tự nhiên…
4.2. Các yếu tố khách quan
Các yếu tố khách quan ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Nó khơng phụ thuộc vào ý chí chủ quan của doanh nghiệp điều
này buộc doanh nghiệp phải tìm cách thích nghi hoặc tn thủ các ngun tắc và
quy luật. Các yếu tố khách quan cơ bản gồm có những yếu tố sau:
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
* Yếu tố thuộc về mơi trường chính trị như: Tác động của hệ thống luật
pháp, hệ thống các cơng cụ chính sách của nhà nước, cơ chế điều hành của chính
phủ.
Một doanh nghiệp tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế phải chịu
sự điều chỉnh của hệ thống luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế nhằm điều
chỉnh hành vi kinh doanh của doanh nghiệp. Tất cả các văn bản luật chỉ rõ
doanh nghiệp được kinh doanh hàng hố gì? Cấm kinh doanh hàng hố gì? Chất
lượng hàng hố phải đảm bảo gì? Có bị kiểm sốt hay khơng?
Hệ thống cơng cụ chính sách của nhà nước tác động khơng nhỏ tới hoạt
động XNK của doanh nghiệp. Cơng cụ chính sách rất nhiều bao gồm những
cơng cụ chính sách chung cho tồn bộ nền kinh tế quốc dân và các chính sách
đặc thù về từng lĩnh vực. Các chính sách điển hình có: chính sách tài chính,
chính sách thu nhập, chính sách tiền tệ, chính sách XNK, chính sách phát triển
thị trường. Tất cả các chính sách đó đều liên quan đến khuyến khích hay hạn chế
hoạt động XNK của doanh nghiệp do đó chúng buộc các doanh nghiệp phải tính
đến khi ra các quyết định XNK.
Cơ chế điều hành của nhà nước cũng tác động lớn đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Cơ chế điều hành của chính phủ sẽ liên quan trực tiếp
tới tính hiệu lực của luật pháp và chính sách kinh tế. Nếu một chính phủ mạnh,
điều hành chuẩn mực và tốt sẽ khuyến khích kinh doanh chính đáng. Nếu khơng
điều hành tốt hoạt động XNK sẽ mất phương hướng thí dụ như số lượng, thời
điểm, giá cả… Hàng hố nhập khẩu khơng được điều hành tốt có thể làm cho thị
trường trong nước biến động và gây khó dễ cho kinh doanh.
* Đối thủ canh tranh
Doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh phải đối mặt với nhiều đói thủ
cạnh tranh trong và ngồi nước. Cùng với sự lớn mạnh của nền sản xuất trong
nước khoảng cách giữa các doanh nghiệp ngày càng thu hẹp, nhiều sản phẩm,
ngành lĩnh vực có chất lượng cao có khả năng đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng
trong nước, hàng hố trong nước có khả năng thay thế hàng ngoại nhập. Trước
thực trạng đó doanh nghiệp phải tính đến đến sự lớn mạnh của sản xuất trong
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
nước để xem xét khả năng nhập khẩu chủng loại hàng hố đó có thực sự cạnh
tranh với hàng hố trong nước hay khơng. Khơng phải mặt hàng nào nhập khẩu
đều có thể chiếm ưu thế cạnh tranh với hàng nội. ở Việt Nam tính từ năm 2000
đến nay tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu thấp hơn tốc độ tăng trưởng của xuất
khẩu, nếu so sánh trên cùng một mặt hàng của một số mặt chủ yếu thì tốc độ
xuất khẩu thành phẩm cao hơn tốc độ xuất khẩu ngun liệu bán thành phẩm,
nếu loại trừ mặt hàng tạo nên tăng đột biến kim ngạch nhập khẩu thì nhập khẩu
tăng 18,6% thấp hơn so với tăng xuất khẩu là 27,3% còn nếu lại bỏ yếu tố biến
động giá cả bất thường thì kim ngạch nhập khẩu tăng 11,9% thấp 2 lần so với
tốc độ tăng nhập khẩu. Tất cả các yếu tố trên đây phản ánh nội lực kinh tế đất
nước ngày càng phát triển.
* Mơi trường kinh tế
Mơi trường kinh tế trước hế phản ánh qua tốc độ tăng trưởng kinh tế
chung về cơ cấu ngành kinh tế, cơ cầu vùng. Tình hình đó tạo nên sự hấp dẫn
về thị trường đối với các thị trường khác nhau. Nhập khẩu thực tế của doanh
nghiệp có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố trong nước và quốc tế. Khi nền kinh
tế ở vào giai đoạn khủng hoảng, tỷ lệ lạm phát cũng như thuế kháo tăng buộc
các doanh nghiệp phải đắn đo khi đưa ra các quyết định nhập khẩu hay khơng vì
nó sẽ ảnh hưởng đến yếu tố đầu ra, có thể sẽ làm tăng giá thành sản phẩm tác
động tiêu cực đến khả năng cạnh tranh. Tình hình sẽ trái ngược lại khi mà nền
kinh tế trở lại thời kỳ phục hồi và tăng trưởng.
* Mơi trường tự nhiên
Mơi trường tự nhiên bao gồm hệ thống các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng
nhiều mặt tới nguồn lực đầu vào cần thiết cho các nhà hoạt động sản xuất kinh
doanh. Sự thiếu hụt nguồn ngun vật liệu thơ, sự gia tăng chi phí năng lượng
ngày càng trở nên nghiêm trọng, đòi hỏi các nhà sản xuất phải tập trung sử dụng
nguồn ngun liệu thay thế. Chất thải cơng nghiệp, chất thải rắn, chất thải khơng
được tái chế đang là vấn đề nan giải cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Cùng
với quy định chặt chẽ về bảo vệ mơi trường đòi hỏi các doanh nghiệp tìm kiếm
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
đầu vào từ các nước khác làm ảnh hưởng tới hoạt động nhập khẩu của các doanh
nghiệp.
* Mơi trường cơng nghệ kỹ thuật
Mơi trường cơng nghệ kỹ thuật bao gồm các nhân tố gây tác động ảnh
hưởng đến cơng nghệ mới, sáng tạo sản phẩm và cơ hội thị trường, nó là nhân tố
quan trọng nhất tạo ra thời cơ và đe doạ các doanh nghiệp. Cơng cuộc cạnh
tranh về kỹ thuật cơng nghệ mới khơng chỉ cho phép các cơng ty chiến thắng
trên phạm vi tồn cầu mà làm thay đổi bản chất của sự cạnh tranh. Bởi vì nó tác
động mạnh mẽ đến chi phí sản xuất, năng suất lao động, ảnh hưởng đến các biện
pháp cụ thể của hoạt động thương mại nói chung và nhập khẩu nói riêng. Các
nhà hoạt động kinh doanh phải nắm bắt và hiểu rõ được bản chất của những thay
đổi trong mơi trường cơng nghệ kỹ thuật cùng nhiều phương thức khác nhau mà
mỗi cơng nghệ mới có thể phục vụ cho đòi hỏi sản xuất của cơng ty đồng thời
cảnh giác các khả năng xấu có thể xảy ra.
* Hệ thống tài chính ngân hàng
Hệ thống tài chính ngân hàng ngày càng phát triển mạnh mẽ trên phạm vi
tồn cầu nó can thiệp sâu vào hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp chi phối
tới hoạt động này. Nó là cơ sở là chỗ dựa cho doanh nghiệp tiến hành sản xuất
kinh doanh; cung cấp vốn cho doanh nghiệp, đảm bảo khả năng thanh tốn cho
doanh nghiệp diễn ra thuận lợi và nhanh chóng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp
nắm bắt được cơ hội kinh doanh ngồi ra với hệ thống ngân hàng tài chính đủ
mạnh sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp đối với các bạn hàng
II. NỘI DUNG CỦA NHẬP KHẨU
1. Nghiên cứu thị trường
Khái niệm thị trường có thể xét nhiều góc độ khác nhau, từ có có định
nghĩa khác nhau. Theo quan điểm của kinh tế học thì thị trường là tổng thể cung
và cầu đối với 1 lại hàng hố nhất định trong một thời gian và khơng gian cụ thể.
Theo định nghĩa này giả thiết cơ sở là tổng cung và cầu về 1 loại hàng hố trên
thị trường vận động theo những quy luạt riêng và điều tiết thị trường thơng qua
quy luật cung cầu. Nếu đứng trên giác độ quản lý 1 doanh nghiệp, khái niệm thị
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
trường phải được gần với các tác nhân kinh tế tham gia vào thị trường như
người mua, người bán, người phân phối… Với những hành vi cụ thể của họ.
Vậy so sánh hai khái niệm trên đây thì khái niệm trên mang nặng tính lý thuyết
còn khái niệm dưới giác độ doanh nghiệp khơng phải bao giời cũng tn theo
quy luật cứng nhắc dựa trên lý thuyết vì hành vi của người mua và người bán
chịu tác động của yếu tố tâm lý và điều kiện giao dịch. Vậy đứng trên giác độ
doanh nghiệp thì "thị trường là tập hợp những khách hàng tiềm năng của doanh
nghiệp".
Từ khái niệm trên ta có thể đưa ra khái niệm thị trường quốc tế của doanh
nghiệp "thị trường quốc tế của doanh nghiệp là tập hợp những khách hàng nước
ngồi tiềm năng của doanh nghiệp đó". Theo khái niệm này thì số lượng và cơ
cấu nhu cầu của khách hàng nước ngồi đối với sản phẩm của doanh nghiệp
cũng nhưng sự biến động của các yếu tố đó theo khơng gian và thời gian là đặc
trưng cơ bản của thị trường quốc tế của doanh nghiệp. Số lượng và cơ cấu nhu
cầu chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, vĩ mơ và vi mơ
đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải nghiên cứu một cách tỷ mỉ. Thị trường quốc tế
nó phức tạp hơn nhiều so với thị trường nội địa do có sự khác biệt về hệ thống
chính trị - văn hố- luật pháp và các yếu tố do mơi trường địa lý quy định do đó
nó chứa định rủi ro cao hơn đối với hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt
động nhập khẩu nói riêng, vì vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải am hiểu luật pháp,
văn hố và hệ thống chính trị nhằm hạn chế những thiệt hại có thể gặp phải.
Doanh nghiệp tiến hành kinh doanh hàng hố XNK ngồi phải nghiên
cứu thị trường nội địa cần phải nghiên cứu thị trường nước ngồi. Vì vậy nội
dung nghiên cứu thị trường gồm có thị trường trong nước và thị trường quốc tế.
1.1. Nghiên cứu thị trường nội địa
Khi tiến hành nghiên cứu thị trường nội địa các doanh nghiệp phải tiến
hành nghiên cứu các khía cạnh sau:
* Nghiên cứu nhu cầu của thị trường
Doanh nghiệp phải xác định được nhu cầu tiêu dùng hàng hố trong nước,
dự kiến mua hàng của khách hàng, nghiên cứu xem khách hàng cần những đặc
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét