Trong đó có 1265 m nhà kiên cố, 80 m nhà cấp1, 1400 m sân bãi và các thiết
bị máy móc và các tài sản có gía trị khác.
b. Thực trạng lao động.
Phần đông cán bộ công nhân viên phải kiêm nhiệm nhiều việc thực hiện
nhiều chức năng. Một số cán bộ khoa học vừa nghiên cứu thiết kế chế tạo vừa
lao động sản xuất thực hiện chức năng giảm bớt số lợng cán bộ trung cấp,
công nhân kĩ thuật
Công ty hiện nay có 63 cán bộ trong đó:
- Trên đại học 3
- Đại học cao đẳng 29
- Trung cấp 3
- Công nhân kĩ thuật 10
- Lao động trực tiếp 18
Về số lợng cán bộ khoa học quản lý nghiệp vụ tuy ít nhng có chất lợng
đúng ngành nghề, đợc tuyển chọn và sử dụng hợp lý phát huy tối đa năng lực
làm việc của mỗi ngời . Ngoài số cán bộ trong biên chế, công ty còn mạng lới
cộng tác viên là những cán bộ khoa học kĩ thuật chuyên ngành có trình độ cao
của Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia và một số trơng đại
học.
c. Tình hình về mặt hàng sản xuất kinh doanh.
Công ty tinh dầu đợc Liên hiệp quốc (UNDP) tài trợ các trang thiết bị nhập
từ các nớc Đức, Pháp, Nhật. Các chuyên viên kĩ thuật đợc đào tạo từ các nớc
và đợc chuyên gia Liên hiệp quốc hớng dẫn trực tiếp nên vận hành thành thạo
các trang thiết bị chng cất, chế biến, nâng cao chất lợng các loại tinh dầu, đơn
hơng và các dẫn xuất đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Công ty có phòng kiểm tra chất lợng đợc Nhà nớc cho phép cấp chứng chỉ chất
lợng tinh dầu xuất khẩu. Các mặt hàng kinh doanh chủ yếu của công ty bao
gồm.
1) Tinh dầu quế
2) Tinh dầu sả
3) Tinh dầu hơng nhu
4) Tinh dầu húng quế
5) Tinh dầu bạc hà
6) Tinh dầu hồi
7) Tinh dầu tràm
8) Tinh dầu màng tang
9) Tinh dầu pơ mu
10) Tinh dầu sả hoa hồng
11) Các đơn hơng
12) Tinh dầu xá xị
13) Dầu thực vật( dầu dừa, dầu đào lộn hột )
5
14) Hoa hồi
15) Cánh kiến
Hiện nay công ty nghiên cứu đa vào sản xuất thử một số mặt hàng tinh
dầu mới có gía trị nh: dầu hoa hồi, tinh dầu xá xị ấn Độ, nớc gội đầu, chất tẩy
rửa pha chế và tạo ra một số đơn chất hơng thơm nh hơng chanh táo. Năm
1999 công ty đã sử dụng hơng táo cho sản phẩm nớc rửa bát đạt chất lợng cao,
giá thành hạ so với mua hơng liệu táo từ nguồn nhập khẩu.
Để nâng cao chất lợng của sản phẩm tinh dầu xuất khẩu công ty tiến
hành nghiên cứu triển khai và tiến hành áp dụng vào sản xuất một số công
nghệ chiết suất bằng chng cất phân đoạn trong chân không và kết tinh có điều
khiển. Ngoài ra công ty còn tiến hành xây dựng phòng thí nghiệm kiểm tra
chất lợng áp dụng các phơng pháp phân tích hoá học , hoá lý hiện đại để đảm
bảo chất lợng các loại tinh dầu đang sản xuất và kinh doanh.
III. Môi trờng kinh doanh của công ty
1.Môi trờng bên ngoài
Các nhà cung cấp: Nguồn cung cấp hàng hoá cho công ty rất rộng có
thể nói là trên toàn quốc. Các nhà kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế từ
doanh nghiệp nhà nớc đến doanh nghiệp t nhân, các hợp tác xã và cả các hộ
sản xuất nhỏ. Trong nền kinh tế thị trờng ổn định thị trờng đầu vào là vấn đề
rất quan trọng. Công ty đã thiết lập đợc mối quan hệ tốt với các nhà cung cấp.
Do vậy, công ty đã ổn định đợc nguồn hàng ngay cả trong những thời điểm thị
trờng có nhu cầu đột biến, giá cả bấp bênh. Để có đợc điều đó phải nói đến
một số biện pháp hữu hiệu mà công ty đã áp dụng với các nhà cung cấp nh: Cử
các cán bộ kĩ thuật xuống các địa phơng hớng dẫn kĩ thuật sản xuất, trng cất
cho họ, chế tạo thiết bị sản xuất bán cho họ với giá u đãi, cấp giấy phép cho
các nhà cung cấp
Đối thủ cạnh tranh của công ty:Trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh, công ty đã vấp phải sự cạnh tranh mua, cạnh tranh bán và đơng
nhiên có cả cạnh tranh không lành mạnh làm cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty gặp phải những trở ngại đáng kể.Tuy nhiên, với u thế là
doanh nghiệp ra đời sớm trong lĩnh vực ngành nghề sản xuất kinh doanh cùng
với sự nỗ lực không ngừng nâng cao chất lợng sản phẩm, tạo uy tín trên thơng
trờng đồng thời quan hệ tốt với bạn hàng nên công ty vẫn giữ đợc tốc độ phát
triển. Hiện nay, có thể điểm qua một số đối thủ cạnh tranh trong nớc nh: Xí
nghiệp xuất nhập khẩu dợc Trung ơng, công ty dợc liệu - Viện dợc liệu Trung
ơng, công ty xuất khẩu tinh dầu Hà Nội, viện hoá công nghiệp Cầu Diễn
Môi trờng pháp luật : Là một doanh nghiệp doanh thu chủ yếu là
nguồn thu từ hàng hoá xuất khẩu nên sự thay đổi của tỷ giá hối đoái đồng
6
ngoại tệ, sự khủng hoảng kinh tế của các nớc trong khu vực phần nào ảnh h-
ởng đến hoạt động kinh doanh cuả xí nghiệp. Sự thay đổi chính sách của chính
phủ là một trong những nguyên nhân làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Trớc đây công ty đợc tham gia trả nợ Nga theo nghị định th nhng từ khi có chủ
trơng đấu thâù mà qui chế đấu thầu lại không chặt chẽ nên công ty không
trúng thầu. Đây là một trong những nguyên nhân khách quan làm ảnh hởng
không nhỏ đến đầu ra và lợi nhuận cuả công ty.
Trong thời gian gần đây hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đã
gặp phải một số những trở ngại có lúc làm chững lại hoạt động sản xuất kinh
doanh, do một số cơ chế chính sách thay đổi. Ví dụ nh chính sách về thuế, luật
bảo vệ rừng cấm khai thác tài nguyên.
Nguồn nguyên liệu đầu vào chủ yếu của công ty là các loại tinh dầu thô
đợc chế biến từ các loậi gốc dễ của một số cây gỗ: dẻ, bạch đàn , quế. Nhng
gần đây do tình hình khai thác tài nguyên rừng bừa bãi, đặc biệt ở một số tỉnh
có gốc dẻ nhiều nh Thái Nguyên, Khánh Hoà. Nhà nớc đã có lệnh cấm khai
thác.
Năm 1999 chính phủ đã quyết định cấm xuất khẩu mặt hàng tinh dầu xá
xỉ. Xá xỉ là sản phẩm xuất khẩu chính của công ty chiếm tỷ trọng lớn trong
kim ngạch xuất khẩu. Vì thế việc cấm này gây ảnh hởng trực tiếp đến hoạt
động kinh doanh xuất khẩu của công ty và làm giảm hẳn tổng kim ngạch xuất
khẩu năm 1999.
Thị trờng của công ty : Thị trờng của công ty là châu Âu, châu á và
châu Mĩ. Công ty đang cố gắng thâm nhập thu trờng các nớc Đông Âu và thị
trờng Mĩ. Đây là hai thị trờng rất khó khăn trong quá trình thâm nhập song
cuãng rất hấp dẫn đối với ngành hàng tinh dầu Việt Nam
2.Môi trờng bên trong của công ty
Xuất phát từ đặc điểm của công ty là một đơn vị thuộc trung tâm khoa
học tự nhiên và công nghệ quốc gia với đội ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật và
chuyên gia thơng mại có trình độ cao. Từ khi ra đời đến nay công ty đã đặt
trọng tâm hoạt động của mình vào công tác nghiên cứu triẻn khai công nghệ
trên các hớng.
-Cải tiến công nghệ đang lu hành bao gồm khâu kĩ thuật giống, canh
tác, thu hái, chế biến thiết kế và chế tạo thiết bị cũng nh tối u hoá công nghệ
chiết suất tinh dầu đối với các cây sả, bạc hà, húng quế, quế các kết quả này
đã đợc chuyển giao và triển khai tại nhiều cơ sở sản xuất tinh dầu ở địa phơng
trong cả nớc góp phần ổn định và nâng cao hiệu quả sản xuất , nâng cao năng
suất và chất và chất lợng sản phẩm.
7
-Nghiên cứu triển khai và tiến hành áp dụng vào sản xuất một số công
nghệ chế biến tinh dầu nhằm nâng cao giá trị xuất khẩu của một số mặt hàng
tinh dầu truyền thống. Đặc biệt là công nghệ chiết tách bằng chng cất phân
đoạn trong chân không và kết tinh có điều kiện.
-Xây dựng phòng thí nghiệm kiểm tra chất lợng, áp dụng phơng pháp
phan tích hoá học, hoá lý hiện đại để đảm bảo chất lợng các loại tinh dầu đang
sản xuất và kinhdoanh.Phòng kiểm tra chất lợng của công ty đợc đầu t trang
thiết bị tốt và hoạt động đều đặn nên đã đợc Uỷ ban khoa học kĩ thuật Nhà nớc
công nhận và cho phép cấp chứng chỉ chất lợng xuất khẩu đoói với các mặt
hàng tinh dầu và hơng liệu. Hàng năm, công ty thực hiện phân tích hàng ngàn
mẫu sản phẩm bao gồm cả hoạt động dịch vụ phân tích, cấp chứng chỉ chất l-
ợng cho các cơ sở nghiên cứu sản xuất tinh dầu hơng liệu cả nớc.
Nghiên cứu đa vào sản xuất một số tinh dầu có giá trị cao nh tinh dầu
hoa hồi ,bạc hà cao sản ấn Độ, tinh dầu lá quế, tinh dầu sả và đang tiến hành
nghiên cứu thử nghiệm chiết suất hơng liệu từ hoa nhài Việt Nam và khả năng
qngs dụng từnó, hoàn thiện các phơng pháp phân tích tổng hợp các chát chứa
nhóm carbolyl trong một số loại tinh dầu nh sả màng tang và tinh dầu quế.
Công ty thơng xuyên nghiên cứu thị trờng sản xuất và buôn bán tinh
dầu, hơng liệu trên thế giới nhằm đa ra sách lợc sản xuất và khai thác, mở rộng
thị trờng và sản phẩm mới.
Công ty tinh dầu và các sản phẩm tự nhiên là một doanh nghiệp Nhà n-
ớc có các đơn vịnghiên cứu khoa học và công nghệ, sản xuất kinh doanh trực
thuộc có t cách pháp nhân, hạch toán độc lập có tài khoản tiền và ngoại tệ tại
các ngân hàng Việt Nam, có con dấu riêng mang tên Công ty tinh dầu và các
sản phẩm tự nhiên - trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia để
hoạt động.
Công ty tinh dầu và các sản phẩm tự nhiên là đơn vị thuộc TTKHTN và
CNQGchịu sự quản lý toàn diện của trung tâm và chịu quản lý nhà nớc của Bộ
thơng mại về hoạt động xuất nhập khẩu.
Do hợp tác sản xuất, chế biến tinh dầu xuất khẩu với công ty nên một số
cơ sở sản cuất chế biến tinh dầu của các địa phơng đã tiêu thụ đợc sản phẩm
có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh , giải quyết việc làm cho hàng ngàn
lao động. Nông trờng số 5 (ở Tây Nguyên ) thuộc tổng đội thanh niên xung
phong thành phố HCM có hàng ngàn ngời lao động chuyên sản xuất các loại
tinh dầu. Xí nghiệp chế biến lâm sản bộ nội vụ tận dụng lao động tù nhân sản
xuất tinh dầu cho công ty. Một số công ty ngoại thơng của các tỉnh Yên Bái,
Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Thừa Thiên Huế, các cơ sở sản xuất tập thể cá nhân
ở các tỉnh Hải Dơng, Nhgệ An, Hà Tĩnh đã tận dụng đất hoang đồi trọc,
trồng cây tinh dầu giải quyết việc làm cho nhiều ngời lao động. Một số hợp tác
8
xã nông nghiệp ở Yên Bái chuyên sản xuất tinh dầu nhập cho côg ty hoặc nhờ
công ty nâng cấp và uỷ thác xuất khẩu .
IV.vài nét về thị trờng tinh dầu trên thế giới.
1.Thị trờng tinh dầu trên thế giới:
Tinh dầu là một chất lỏng đợc chiết suất từ những cây thảo mộc có mùi
thơm hay mùi hắc đặc trng cho loài cây mà ta chiết suất từ nó. Những vị thuốc
có tinh dầu khi ép giữa hai tờ giấy để lại một vết trong mờ, nhng để lâu hay hơ
nóng thì bay mất( lu ý phân biệt với chất béo. Vì chất béo khi ép giữa hai tờ
giấy cũng để lại một vết mờ, nhng để lâu hay hơ nóng vết mờ vẫm để lại hình
dáng ban đầu.)
Hàng năm, trên toàn thế giới tiêu thụ hàng vạn tấn nguyên liệu chứa
tinh dầu. Theo tài liẹu của GATT, hàng năm sản lợng tinh dầu đợc sản xuất
trên thế giới thay đổi từ 25000- 35000 tấn
Các nớc châu á chiếm khoảng 28%
Các nớc châu âu chiếmkhoảng 20%
Các nớc Bắc Mỹ chiếm khoảng 26%
Các nớc Nam Mĩ chiếm khoảng 14%
Các khu vực khác chiếm khoảng 12%
9
Những nớc cung cấp tinh dầu chủ yếu trên thế giới.
Bình quân hàng năm, đơn vị nghìn tấn
Trung Quốc
ấn Độ
Mĩ
Đài Loan
Inđônexia
Braxin
Malagas
Srilanca
Maroc
Paragoay
Ai Cập
Pê Ru
Thái Lan
Việt Nam( 1990 đến nay)
Tổng Cộng
3.350
3.065
2.400
2.300
2.400
1.970
1.000
450
388
316
300
150
100
650
18839
Nh vậy, mức tiêu dùng và cung cấp tinh dầu các nớc trên thế giới là t-
ơng đối lớncó khả năng đem lại thu nhập cao cho nền kinh tế quốc dân
3.Thị trờng nhập khẩu tinh dầu trên thế giới.
Một số cây dợc liệu để chiết suất tinh dầu do không thích nghi đợc với
khí hậu một số nớc trên thế giới, nên những nớc này không sản xuất đợc tinh
dầu và phải nhập một số lợng lớn tinh dầu để phục vụ cho nhu cầu phát triển
kinh tế trong nớc hoặc nhập gia công để tái xuất các sản phẩm chiết từ tinh
dầu.
10
Những nớc nhập kkhẩu tinh dầu chủ yếu là Mĩ, Anh, Pháp, Hà Lan,
Nhật Bản và một số nớc châu Âu khác.Trên thế giới nhiều nớc nhập khẩu tinh
dầu nh Trung Quốc, Braxin,
Hàng năm, Mĩ nhập khoảng 20 mặt hàng tinh dầu các loại .Những nớc
công nghiệp phát triển nh Đức, Anh Pháp, Nhật Bản cũng đều nhập khẩu
tinh dầu hàng năm với số lợng và giá trị lớn. Tuỳ theo tình hình phát triển
công nghiệp và nhu cầu của mình mà mỗi nớc nhập khẩu các loại tinh dầu với
số lợng khác nhau để phục vụ cho nền kinh tế.
Ví dụ Mĩ: -Tiêu dùng sả từ 476 tấn /năm(1983) tăng lên 853 tấn
/năm(1992)
-Tiêu dùng hồi từ 28 tấn /năm (1983) tăng lên 54 tấn
/năm(1992)
-Tiêu dùng tràm từ 271 tấn /năm tăng lên 392 tấn / năm
- Tiêu dùng xá xị bình quân 200 tấn /năm
Pháp:-Tiêu dùng sả từ 250 tấn /năm (1983)giảm còn 240
tấn/năm(1992)
-Tiêu dùng bạc hà từ 677 tấn /năm tăng lên 985 tấn /năm
-Tiêu dùng tràm từ 444tấn /năm tăng lên 721 tấn / năm
3.Thị trờng tinh dầu nội địa
ở Việt Nam tinh dầu sản xuất ra chủ yếu dành cho xuất khẩu, tiêu
dùng trong nớc không đáng kể. Để thực hiện chủ trơng của nhà nớc:gắn sản
xuất với thị trờng thế giới nhằm giảm bớt khâu trung gian làm cho hàng hoá
Việt Nam thích ứng với thị trờng thế giới. Các doanh nghiệp Nhà nớc, doanh
nghiệp t nhân và các nhà sản xuất rất chú ý đến việc sản xuất thu mua và xuất
khẩu tinh dầu. Một số doanh nghiệp chuyên kinh doanh hàng tinh dầu cũng
cạnh tranh nhau rất gay gắt trong việc xuất khẩu mặt hàng này. Lợng tinh dầu
trong mớc tăng lên không đáng kể trong khi đó số ngời đợc phép xuất khẩu rất
lớn nên xảy ra tình trạng cạnh tranh nhau để thu mua đợc tinh dầu làm cho giá
tinh dầu trong nớc mất ổn định. Mặt khác, khi có tình trạng cạnh tranh nh vậy
dẫn đến tình trạng ngời sản xuất không chú ý tới chất lợng của sản phẩm mà
chỉ chú ý đến số lợng của sản phẩm.
Thời gian gần đây, đã có tình trạng khan hiếmtinh dầu xả nên cha đến
ngày thu hoạch họ đã cắt để chng cất tinh dâù, kết quả là hàm lợngtinh dầu chỉ
đạt 28 đến 30 % Citronella mà đáng ra tinh dầu xả xuất khẩu phaỉ đạt hàm l-
ợng 35%. Do vậy, sẽ dẫn đến hiện tợng lộn xộn về chất lợng và giá bán làm
giảm uy tín tinh dầu Việt Nam trên thị trờng thế giới gây thiệt hại cho ngời
kinh doanh và ngời sản xuất.
11
Cạnh tranh trong việc tạo nguồn hàng cung ứng hàng tinh dầu xuất khẩu
rất gay gắt, việc cạnh tranh mua bán dẫn đến cung cấp hàng kém chất lợng.
Hàng xuất khẩu cha đáp ứng đợc nhu cầu của khách hàng ngoài nớc.
Sở dĩ, việc tạo nguồn hàng xuất khẩu còn non yếu là do các yếu tố đảm
bảo cuộc sống cho ngời sản xuất tinh dầu còn thấp, chính sách giá cả cho hợp
lý. Cuộc sống du canh du c cũng là một nguyên nhân tàn phá những cây trồng
để chiết suất tinh dầu.
Việc cung ứng tinh dầu xuất khẩu do t thơng nắm giữ là chủ yếu thông
qua các doanh nghiệp nhà nớc mua lại sản phẩm hoặc xuất khẩu uỷ thác, sự
cạnh tranh giữa ngời mua với ngời mua, ngời bán với ngời bán diễn ra gay gắt.
Bên cạnh đó cũng xuất hiện sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các
nhà xuất khẩu trong nớc đã đẩy giá tinh dầu nội địa lên cao.Mặt khác, các nhà
doanh nghiệp xuất khẩu tinh dầu lại tranh nhau chào bán cho khách hàng nớc
ngoài dẫn đến thơng nhân nóc ngoài có điều kiện ép giá tinh dầu xuất khẩu
của ta.
Ngoài ra các công ty nớc ngoài còn sử dụng ngời Việt Nam làm môi
giới đại lý. Vì vậy sự xâm nhập thị trờng tinh dầu Việt Nam của khách nớc
ngoài ngày càng tinh vi hơn, cạnh tranh ngày càng trở nên khốc lieetj hơn. Sự
cạnh tranh của các nớc xuất khẩu tinh dầu cũng ảnh hởng lớn đến khả năng
xâm nhập thị trờng thế giới của tinh dầu nớc ta.
Chính những nguyên nhân trên dẫn đến kim ngạch xuất khẩu tinh dầu
hàng năm của Việt Nam cha cao.Tỷ trọng mặt hàng tinh dầu của Việt Nam so
với khối lợng tinh dầu của các nớc xuất khẩu chủ yếu trên thế giới nh sau:
Nh vậy, khối lợng tinh dầu đợc sản xuất và xuất khẩu ở Việt Nam
chiếm một tỉ trọng rất nhỏ so với lợng tinh dầu đợc sản xuất và xuất khẩu trên
thế giới.Vì vậy, tình hình thay đổi giá cả, khối lợng của tinh dầu Việt Nam
trên thị trờng tinh dầu thế giới không ảnh hởng đến tình hình chung của thị tr-
ờng này. Hay nói cách khác,Việt Nam là nớc chấp nhận giá trong xuất khẩu
tinh dầu ra nớc ngoài do đặc điểm là một nớc xuất khẩu với khối lợng nhỏ.
Điều này cũng mở ra hớng phát triển cho ngành tinh dầu Việt Nam.
Nếu chúng ta biết tận dụng và khai thác tốt lợi thế có sẵn ,tổ chức tất hoạt
điịng sản xuất kinh doanh tranh thủ đợc những diều kiện có lợi thì sẽ có khả
năng khai thác tốt thị trờng này, đem lại một nguồn thu nhập không nhỏ cho
nền kinh tế quốc dân.Cầu trên thế giới của mặt hàng này là rất lớn so với khả
năng cung của Việt Nam.
12
Cần thiết phải có một sự đầu t thích đáng để phát triển ngành hàng xuất
khẩu còn non trẻ này.
Công ty tinh dầu và các sản phẩm tự nhiên là một trong những đơn vị
tiên phong trong lĩnh vực tinh dầu .Những năm qua công ty đã đơng đầu với
không ít khó khăn .Nhng với nỗ lực rất lớn , công ty đã thu đợc những thành
công bớc đầu đáng khích lệ.
Trên cơ sở nền tảng sẵn có , vẫn cần phải có một hớng đi đúng đắn để
sản phẩm tinh dầu của công ty xuất khẩu trên thị trờng thế giới ngày một
nhiều hơn và có chất lợng cao hơn, góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu
của toàn ngành kinh tế .
V.tình hình hoạt dộng kinh doanh của công ty
trong giai đoạn 95-99
1.Tổ chức hoạt động xuất khẩu tinh dầu tại công ty
Tinh dầu là mặt hàng kinh doanh chủ yếu của công ty đồng thời là mặt
hàng mới ở Việt Nam.Do đó thị trờng nội địa nhỏ hẹp.Hoạt động kinh doanh
chủ yếu của doanh nghiệp là xuất khẩu tinh dầu .Thi trờng xuất khẩu của
công ty hầu hết là thị trơng khó tínhnh Anh , Pháp , Hà Lan, Vì thế việc tổ
chức hoạt động kinh doanh xuất khẩu phải đợc thực hiện một cách cẩn thận và
đúng trình tự.
Trơc hêt là nghiên cứu thị trờng . Do đăc điểm của măt hàng tinh dầu là
mặt hàng đặc biệt ít đợc tiêu dùng rộng rãi so với các mặt hàng khác nên chính
sách về thị trờng có một sồ khác biệt . Công ty phải tìm kiếm thị trờng và
khách hàng chứ không thể lựa chọn thị trờng nh các mặt hàng khác
Công ty tién hành quảng cáo , giới thiệu về công ty ( về lợi thế cạnh
tranh , về mặt hàng công ty cần xuất khẩu ) qua Fax gửi đến bạn hàng đồng
thời gửi các quyển quảng cáo về công ty cho các bạn hàng .Nếu trong trờng
hộp khách hàng yêu cầu công ty có thể gửi cả mẫu chào hàng qua đờng
chuyển phát nhanh .Công ty tiến hành quảng cáo rông rãi qua các tạp chí ,sách
báo giới thịệu về ngành hàng ,măt hàng của Việt Nam ( nh quảng cáo trên
quyển " Việt Nam Directory 97 - 98 ","Giới thiệu Việt Nam với toàn thế giới
" ,"Nông nghiêp Viêt Nam trên đờng hiện đại hoá " ,"Các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu Việt Nam").
Tiếp theo là kí kết hợp đồng xuất khẩu .Sau khi đã chào hàng và nhận đ-
ợc đơn đặt hàng của bạn hàng ,công ty sẽ kí kết hợp đồng xuất khẩu . Thông
thờng bạn hàng của công ty là ngời nớc ngoài nên việc đàm phán trực tiếp trớc
khi kết hợp xuất khẩu là rất ít diễn ra . Công ty thờng phát hành các hợp đồng
xuất khẩu dới hình thức "Hợp đồnh mua bán hàng hoá "(sale contract ) hoặc
"Bản chào hàng kiêm hoá đơn" (offer Proforma invoi) qua Fax Có một số tr-
13
ờng hợp khách hàng tự phát hành hợp đồng Fax lại cho công ty qua đờng bu
điện hợp đồng gốc .
Một số hợp đồng và đơn chào hàng của công ty ( phần phụ lục )
Việc tạo nguồn hàng cũng hêt sức quan trọng .Đối với một số mật hàng
nhữại ,sả , có thể giữ đợc lâu và tích trữ trong kho . Còn một số loại khó bảo
quản và khó tìm đợc bạn hàng , công ty mới tiến hành thu mua .Công ty đặt
các trạm thu tại Vinh - Nghệ An ,các cơ sở chng cất chế biến tại các lò nấu ở
các huyện đợc vân chuyển và tập kết về trạm thu tại Vinh. Hàng tháng cán bộ
thu mua tại trạm tập hợp lại và hàng hoá đợc vận chuyển ra Hà Nội theo lệnh
điều đôngj của giám đốc công ty mà vấn đề chất lợng đợc đặt lên hàng đầu để
đảm bảo chất lợng xuất khẩu .Đối với tinh dầu xá xị, tinh dầu xả cán bộ thu
mua tại trạm tự kiểm tra chất lợng còn một số tinh dầu khcs nh tinh dầu quế
tinh dầu bạc hà đòi hỏi tính kĩ thuật cao nêm phải đa về công ty để kiểm tra
chất lợng bằng máy móc hiện đại . Ngoài ra công ty còn đặt các trạm thu mua
tinh dầu ở Phú Yên ở chi nhánh số 1 ở Khánh Hoà với hình thức thu mua tơng
tự.
2.Tình hình xuất khẩu tinh dầu tại công ty thời kì 95-99
Trớc năm 1991, khách hàng của công ty chủ yếu là Liên Xô và các nớc
Đông Âu.Xuất khẩu chủ yếu bằng nghị định th nên thị trờng giá cả, số lợng
của hàng hoá khá ổn định .Bớc sang năm 1991, khối các nớc xã hội chủ nghĩa
tan rã, bạn hàng lớn của công ty là Liên Xô cũng bị phá vỡ. Nền kinh tế nớc ta
chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nên kinh tế thụ trờng. Đối
mặt với tình hình mới công ty phải tự đi tìm bạn hàng tự hạch toán kinh doanh
để tồn tại và phát triển.
Năm 1999, Nhà nớc cấm xuất khẩu mặt hàng tinh dầu xá xị- mặt hàng
xuất khẩu chủ yếu của công ty. Công ty đứng trớc một khó khăn lớn. Ban lãnh
đạo cùng tập thể cán bộ công nhân viên phải cố gắng hết sức để duy trì nhịp
độ sản xuất kinh doanh nh bình thờng để có thể đứng vững trong tình hình
mới.Công ty đã quyết định đa dạng hoá kinh doanh .Nếu trớc đây công ty chủ
yếu là xuất khẩu tinh dầu thì từ năm 1999 ngoài xuất khẩu công ty còn nhập
khẩu và bán hàng nội địa . Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của công ty là hoá
chất và hơng liệu Những mặt hàng này vẫn thuộc lĩnh vực kinh doanh của
công ty. Đồng thời công ty cũng tiến hành nghiên cứu triển khai một số mặt
hàng mới da đi chào hàng (kể cả xuất khẩu và cho thị trờng nội địa) triển khai
kế hoạch pha hơng liệu.
Sau đây là số liệu về kim ngạch xuất khẩu của công ty trong giai đoạn
94-99 căn cứ từ báo cáo kết quả kinh doanh của công ty.
Bảng 3: kim ngạch xuất khẩu của công ty tinh dầu và các sản phẩm tự nhiên
giai đoạn 94-99
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét