LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "công đoàn xnvdtxk hà nội thuộc công ty vận tải hành khách đường sắt hà nội với việc tham gia tổ chức, sắp xếp lại lao động nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh": http://123doc.vn/document/1051045-cong-doan-xnvdtxk-ha-noi-thuoc-cong-ty-van-tai-hanh-khach-duong-sat-ha-noi-voi-viec-tham-gia-to-chuc-sap-xep-lai-lao-dong-nham-nang-cao-hieu-qua-san-x.htm
Trong quá trình nghiên cứu, Khoá luận cũng luôn dựa vào lập trờng t tởng
Hồ Chí Minh, đặt con ngời vào vị trí trung tâm, coi giá trị con ngời là cao
nhất.
Để tiến hành nghiên cứu đề tài một cách khách quan, khoa học và mang
tính đặc thù của ngành Xã hội học, Khoá luận còn sử dụng một số phơng
pháp xã hội học cụ thể sau đây để làm rõ vấn đề nghiên cứu:
5.1 Phơng pháp phân tích tài liệu
Căn cứ vào các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, các Nghị quyết của
Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Công đoàn ngành Đờng sắt.
Đồng thời, khoá luận còn căn cứ vào các báo cáo tổng kết hàng năm của
XNVDTXK Hà Nội, các số liệu thống kê về đội ngũ CNVC và lao động của
Xí nghiệp và một số thống kê khác có liên quan để tìm ra các mối liên hệ và
các mối tơng quan xã hội.
Kế thừa có chọn lọc các thông tin của những công trình, những đề tài
nghiên cứu khoa học của một số tác giả đi trớc. Qua những thông tin thu thập
đợc, tiến hành phân tích đánh giá vấn đề phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
5.2 Phơng pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn trực tiếp đối với một số đối tợng là cán bộ công đoàn, cán bộ
quản lý, công nhân, viên chức và lao động của Xí nghiệp nhằm khai thác
những thông tin chi tiết cần thiết góp phần phản ánh đúng bản chất của vấn
đề nghiên cứu. (Xem phụ lục)
Ngoài các phơng pháp cụ thể nêu trên, khoá luận còn sử dụng một số ph-
ơng pháp nghiên cứu khác nh: Phơng pháp quan sát, thống kê, so sánh
6- Giả thuyết nghiên cứu
Công đoàn XNVDTXK Hà Nội đã phát huy tác dụng tích cực trong việc
tham gia tổ chức, sắp xếp lại lao động nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất,
kinh doanh.
Giả thuyết nghiên cứu của đề tài đợc trình bày ở mô hình sau đây:
5
Công đoàn tham gia tổ chức , sắp xếp lại lao động
Tham
gia xây
dựng và
thực
hiện kế
hoạch
sản
xuất,
kinh
doanh
Tham
gia xây
dựng
tiêu
chuẩn
lao động
và phân
loại lao
động
Tham
gia xây
dựng
định
mức lao
động
Tham
gia xây
dựng tổ
chức sử
dụng lao
động hợp
lý
Tham gia
tổ chức
đào tạo,
đào tạo
lại, nâng
cao trình
độ chuyên
môn cho
ngời lao
động
Tham gia
làm tốt
công tác t t-
ởng, tuyên
truyền
nhằm nâng
cao ý thức
trách nhiệm
của ngời lao
động
Tham
gia
công
tác an
toàn lao
động,
vệ sinh
lao
động
Tổ chức
thi đua
góp
phần
hoang
thiện tổ
chức
lao
động
Nguyễn Thị Thu Hiền- XH3A Khoá luận tốt nghiệp
7- Các lý thuyết liên quan
Để giải quyết các yêu cầu nội dung của đề tài một cách khoa học, đúng
đắn, tác giả đã vận dụng các lý thuyết xã hội học có liên quan sau đây.
7.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng
Lịch sử của lý thuyết này gắn liền với tên tuổi của các nhà xã hội học nh
August Comte, Herbert Spencer, Emile Durkheim, Tolcolt Parsons.
Về mặt thuật ngữ, thuyết chức năng còn đợc gọi là thuyết chức năng- cấu
trúc hay thuyết cấu trúc- chức năng. Dù với tên gọi nào, các tác giả của lý
thuyết này đều nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành
nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần
đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với t cách là một cấu trúc tơng đối ổn
định, bền vững.
Các luận điểm gốc của thuyết cấu trúc- chức năng đều nhấn mạnh tính cân
bằng, ổn định và khả năng thích nghi của nó hoạt động nhịp nhàng với nhau
để đảm bảo sự cân bằng chung của cả cấu trúc, bất kỳ sự thay đổi nào ở
thành phần nào cũng kéo theo sự thay đổi ở các thành phần khác. Đối với cấu
trúc xã hội hiện đại của chủ thuyết chức năng, đại diện là T. Parson- nhà Xã
hội học ngời Mỹ (1920- 1979), vừa nhấn mạnh tính hệ thống của nó, vừa đề
cao vai trò quan trọng của hệ giá trị, chuẩn mực xã hội trong việc tạo dựng sự
thống nhất, ổn định trật tự xã hội.
T.Parsons đã lý luận rằng: bất kỳ một hệ thống hành động nào đều có
những nét nổi bật chung và phải nằm trong một hệ thống nhất định. ông đã
trình bày phân tích chức năng- cấu trúc với t cách là một phơng pháp, ông
cho rằng: Phân tích cấu trúc điều tra chức năng tức là đóng góp từng phần
việc cho việc giữ gìn ổn định của một cấu trúc. Tuỳ theo điều kiện là đã hoàn
6
Nguyễn Thị Thu Hiền- XH3A Khoá luận tốt nghiệp
thành đóng góp hay cha mà cấu trúc đợc giữ ổn định hay thay đổi khi ta xem
xét nó vào một thời điểm nhất định.
Lập luận của ông đa ra rằng: Giữa cấu trúc và chức năng có mối quan hệ
biện chứng với nhau, trong đó cấu trúc giữ vai trò quyết định. Sự thay đổi về
mặt chức năng sẽ làm cấu trúc của nó. Cấu trúc xã hội đảm bảo tính cân
bằng cho xã hội về mặt chức năng.
Thuyết chức năng hớng vào giải quyết bản chất của cấu trúc xã hội và hệ
quả của cấu trúc xã hội. Đối với bất kỳ sự kiện, hiện tợng xã hội nào, những
ngời theo lý thuyết chức năng đều hớng vào việc phân tích các thành phần
cấu tạo nên cấu trúc của chúng, xem các thành phần đó có mối liên hệ với
nhau nh thế nào và đặc biệt xét quan hệ của chúng với nhu cầu chung của sự
tồn tại và phát triển sự kiện, hiện tợng đó.
Mặt khác, thuyết này đòi hỏi phải tìm hiểu cơ chế hoạt động của từng
thành phần để biết chúng có chức năng, tác dụng gì đối với sự tồn tại một
cách cân bằng, ổn định của cấu trúc xã hội.
Vận dụng lý thuyết này vào đề tài cho thấy hoạt động Công đoàn ngành
Đờng sắt cũng nh Công đoàn Việt Nam nói chung và Công đoàn XNVDTXK
Hà Nội nói riêng đều phải nằm trong một hệ thống nhất định. Trong mỗi thời
điểm nhất định, tuỳ theo những yêu cầu cụ thể mà tổ chức công đoàn phải có
những chức năng riêng nhằm đảm bảo hệ thống luôn đợc thống nhất, ổn định
và bền vững.
7.2 Lý thuyết vai trò
Đây là lý thuyết đợc dùng rất nhiều trong Xã hội học. Trong lịch sử Xã hội
học có nhiều quan niệm, định nghĩa về vai trò và ngời ta cho rằng: danh
sách các định nghĩa vai trò dờng nh muốn dài vô tận- Claessens. Tuy nhiên,
về cơ bản ngời ta có thể chia làm ba phơng diện của khái niệm vai trò: Thứ
nhất vai trò nh là phơng diện động lực của vị thế/ địa vị (gắn với địa vị); Thứ
hai vai trò nh là mẫu hành vi (gắn với hành vi); Thứ ba vai trò nh là tổ hợp kỳ
vọng hớng vào chủ nhân của địa vị (gắn với cá nhân).
Theo từ điển Xã hội học: Vai trò là tập hợp những kỳ vọng ở trong xã hội
gắn với hành vi của những ngời mang các địa vịở mức độ này thì mỗi vai
trò riêng là một tổ hợp hay nhóm các kỳ vọng hành vi- Dahrendorf.
Lý thuyết về vai trò thực ra là nói đến các nhóm khái niệm trực thuộc với
nhau và sau đó tạo thành lý thuyết vai trò nh là hệ thống khái niệm: Vai trò,
7
Nguyễn Thị Thu Hiền- XH3A Khoá luận tốt nghiệp
địa vị (thân thể), kỳ vọng (kỳ vọng- có thể- nên- phải), hình thức thởng phạt
(tích cực, tiêu cực), nhóm quy chiếu, hành vi (đợc kỳ vọng và thực tế).
Xét ở góc độ xã hội, vai trò xã hội là mô hình hành vi xã hội đợc xác lập
một cách khách quan căn cứ vào đòi hỏi của xã hội đối với từng vị trí, vị thế
nhất định, để thực hiện quyền hạn và trách nhiệm tơng ứng với các vị trí, vị
thế đóNh vậy, vai trò xã hội thể hiện những đòi hỏi của xã hội đối với các
vị thế xã hội. Những đòi hỏi này đợc xác định căn cứ vào các chuẩn mực giá
trị xã hội trong các xã hội khác nhau; các chuẩn mực và giá trị xã hội không
đồng nhất, vì vậy vai trò xã hội cũng không đồng nhất.
Trong thuyết hành động của Parsons xuất phát từ nhận định cho rằng
trong mọi hoàn cảnh đều có những đòi hỏi mong đợi đối với từng chủ thể
hành động, bản thân chủ thể biết và tự hớng theo những đòi hỏi này. Sự liên
kết những đòi hỏi về hành động chuẩn mực này đợc Parsons gắn cho khái
niệm là vai trò. Nh vậy, vai trò là những đòi hỏi đối với tính quy luật và bền
vững của hành động xã hội. Đó là khuôn mẫu định hớng chung đợc tạo ra
giữa xã hội và các cá thể hoặc nói một cách khác, những đòi hỏi của hệ
thống xã hội đợc chuyển tới hệ cá nhân thông qua vai trò. Mỗi vai trò đều
chứa đựng một khuôn mẫu chuẩn mực chủ chốt đối với một vị trí cụ thể
trong một xã hội cụ thể. Việc thực hiện vai trò đợc giám sát bởi những nhóm
chuẩn mực cơ bản.
Việc vận dụng lý thuyết này vào đề tài nghiên cứu cho thấy vai trò của
Công đoàn thực chất là những hoạt động của Công đoàn đợc xác lập căn cứ
vào sự lãnh đạo của Đảng và yêu cầu đòi hỏi của công nhân, viên chức, lao
động đối với tổ chức này. Thực tế, Công đoàn đã có một vị thế nhất định
trong xã hội nên Công đoàn phải thực hiện quyền hạn và trách nhiệm tơng
ứng với các vị thế đó. Để có thể đảm bảo và nâng cao vai trò của mình, Công
đoàn tổ chức và thực hiện tốt các hoạt động đồng thời cũng là các chức năng
của Công đoàn: tham gia quản lý, bảo vệ lợi ích và giáo dục CNVC và lao
động.
Khi xem xét vai trò của Công đoàn XNVDTXK Hà Nội ta cần phải căn cứ
vào các kỳ vọng mà CBCNV chức lao động của Xí nghiệp đối với Công đoàn
Xí nghiệp thông qua các hoạt động đã đợc Công đoàn thực hiện nh thế nào?
Công đoàn có đứng ra bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của ngời lao
động hay không? Công đoàn có tham gia với Ban giám đốc, các phòng, ban
8
Nguyễn Thị Thu Hiền- XH3A Khoá luận tốt nghiệp
chuyên môn để quản lý, trong đó có quản lý về mặt tổ chức lao động hay
không, từ đó đánh giá vai trò của Công đoàn Xí nghiệp.
7.3 Lý thuyết hệ thống
Thuyết cấu trúc chức năng của Parsons đã bao hàm cả thuyết hệ thống, tuy
nhiên cha có khái niệm đầy đủ về hệ thống xã hội. Trong khi đó, điểm xuất
phát quan trọng của việc nghiên cứu xã hội học chính là nghiên cứu ca nhân
con ngời trong tơng tác nhóm cộng đồng xã hội với tất cả tính hệ thống và
hoàn chỉnh của nó. Vì vậy, cấu trúc xã hội là vấn đề trọng tâm mà khoa học
Xã hội học quan tâm.
Lý thuyết hệ thống của T.Parsons cho rằng không có hệ thống xã hội nhất
định thành bất biến. Mọi hệ thống xã hội đều biến đổi và thực chất của quá
trình biến đổi đó là sự thay đổi hình thái ổn định cân bằng xã hội này bằng
hình thái ổn định cân bằng xã hội khác. Do đó, cấu trúc xã hội nói chung
cũng nh cơ cấu đội ngũ CNVC nói riêng bao giờ cũng chỉ mang tính ổn định
tơng đối.
Theo T. Parsons cho rằng tất cả các hệ thống bao gồm các hệ thống xã hội
phải thích nghi với nhau, về mặt nội bộ phải liên kết với nhau, có nghĩa là
nói đến các mối quan hệ giữa những hệ thống với nhau. Sự liên kết của hệ
thống là quan hệ, cấu kết của các hệ thống và các hệ thống con phải phối hợp
ăn ý với nhau nhng phải xác định đợc ranh giới giữa chúng.
Ranh giới giữa các hệ thống không những chỉ làm rõ sự khác nhau giữa
chúng, mà còn tạo ra khả năng biến đổi các hệ thống đó khi có điều kiện và
có thể thích nghi đợc, tuy nhiên giữa các hệ thống còn phải có sự cân bằng.
Đối với quan hệ bên trong hệ thống, thì trong một xã hội các hệ thống còn
cần phải duy trì một trạng thái cân bằng và phải cơ động để góp phần vào sự
tồn tại chung của hệ thống.
Vận dụng lý thuyết này vào đề tài cho thấy XNVDTXK Hà Nội đợc xem
nh là một hệ thống, trong đó hệ thống con của nó là các bộ phận cấu thành
nên Xí nghiệp. Giữa các hệ thống con này có sự liên kết hợp tác, thích ứng
với nhau. Điều đó cũng có nghĩa là giữa tổ chức Công đoàn và các phòng ban
chuyên môn của Xí nghiệp luôn có sự phối hợp với nhau nhằm tạo nên một
hệ thống cân bằng, phát triển vì mục tiêu chung của tổ chức trong quá trình
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Song giữa chúng cũng có ranh giới.
8. Kết cấu của khoá luận: Gồm 3 chơng
9
Nguyễn Thị Thu Hiền- XH3A Khoá luận tốt nghiệp
- Chơng 1: Một số vấn đề cơ bản về tổ chức, sắp xếp lại lao động trong
doanh nghiệp và vai trò của Công đoàn trong việc tham gia công tác này.
- Chơng 2: Hoạt động của Công đoàn XNVDTXK Hà Nội trong việc
tham gia tổ chức, sắp xếp lại lao động nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất,
kinh doanh, chăm lo bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của ngời lao
động.
- Chơng 3: Kết luận và khuyến nghị.
10
Nguyễn Thị Thu Hiền- XH3A Khoá luận tốt nghiệp
Chơng 1
Một số vấn đề cơ bản về tổ chức, sắp xếp lại
lao động và vai trò của công đoàn trong việc
tham gia công tác này.
1.1 Khái niệm, ý nghĩa của việc tổ chức, sắp xếp lại lao
động trong doanh nghiệp.
1.1.1 Khái niệm tổ chức, sắp xếp lao động.
11
Nguyễn Thị Thu Hiền- XH3A Khoá luận tốt nghiệp
- Tổ chức, theo từ điển Tiếng Việt, là những công việc sắp xếp bố trí cần
thiết đối với các bộ phận của cơ chế làm cho thành một chỉnh thể, có một
cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng chung nhất định
[3]
. Khái niệm tổ
chức dùng ở đây đợc xem xét nh một quá trình nhằm tác động một cách có
mục tiêu tới đối tợng.
- Sắp xếp là xếp theo một trật tự coi là hợp lý nhất
[4]
.
- Lao động là hoạt động có mục đích của con ngời, là một hành động diễn
ra giữa ngời với giới tự nhiên. Con ngời vận dụng sức lực tiềm tàng trong
thân thể, sử dụng công cụ lao động để tác động vào thế giới tự nhiên, chiếm
lấy những vật chất của tự nhiên, biến những vật chất đó làm cho chúng trở
lên có ích cho đời sống của mình. Vì thế lao động là điều kiện không thể
thiếu của đời sống con ngời; là một tất yếu vĩnh viễn, là kẻ môi giới trong sự
trao đổi chất giữa tự nhiên và con ngời; lao động chính là việc sử dụng sức
lao động.
Luật lao động nớc CH XHCN Việt Nam khẳng định: Lao động là hoạt
động quan trọng nhất của con ngờ tạo ra của cải, vật chất và các giá trị tinh
thần xã hội.
[5]
Từ đó cho thấy tổ chức, sắp xếp lao động trong doanh nghiệp là tổng thể
các biện pháp, thủ thuật nhằm sử dụng có hiệu quả các yếu tố của quá trình
lao động với mục đích nâng cao hiệu quả các yếu tố đầu vào, các yếu tố sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Tổ chức lao động là quá trình kết hợp ba nhóm yếu tố chủ yếu tạo ra sản
phẩm hàng hoá dịch vụ, đó là: sức lao động, đối tợng lao động, t liệu lao
động. Đây là quá trình phát sinh ra các mối qun hệ, trong đó quan hệ giữa
ngời với ngời là quan trọng nhất, vì nó không chỉ là quan hệ hợp tác hay phối
hợp mà còn là quan hệ chia sẻ lợi ích.
Việc tổ chức, sắp xếp lại lao động cũng chính là việc quản lý nguồn nhân
lực nhằm đáp ứng các yêi cầu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Việc
quản lý con ngời nh vậy bao gồm nhiều chức năng phức tạp. Bởi vì con ngời
chịu ảnh hởng của các yếu tố: sinh lý, tâm lý, xã hội. Các yếu tố này tác
động qua lại lẫn nhau tạo thành nhân cách từng con ngời. Do đó, muốn quản
lý con ngời phải vừa là nhà tổ chức, vừa là nhà tâm lý, vừa là nhà xã hội học
và vừa phải là nhà chiến lợc.
12
Nguyễn Thị Thu Hiền- XH3A Khoá luận tốt nghiệp
Nh vậy, mục đích của tổ chức lao động khoa học là nhằm đạt hiệu quả lao
động cao đồng thời bảo đảm sức khoẻ, an toàn và phát triển toàn diện cho
ngời lao động; góp phần củng cố các mối qun hệ xã hội giữa những ngời lao
động và phát triển các tập thể lao động giỏi. Mục đích đó đợc xác định xuất
phát từ sự đánh giá cao vai trò của con ngời trong quá trình tái sản xuất xã
hội.
1.1.2 ý nghĩa của việc tổ chức, sắp xếp lại lao động trong doanh
nghiệp
Để không ngừng tăng năng suất lao động, tăng tích luỹ cho xã hội, các
doanh nghiệp phải tiến hành công tác quản lý, tổ chức, sắp xếp lại lao động
cho phù hợp với hoạt động sản xuất, kinh doanh của đơn vị mình nhằm có
thể khai thác đợc mọi tiềm năng sẵn có, sử dụng tối đa các trang thiết bị máy
móc. Đây là biện pháp nhằm sử dụng một cách có hiệu quả nhất sức lao
động trong điều kiện nền kinh tế thị trờng. Tổ chức lao động một cách khoa
học là một trong những nhân tố quan trọng nhất. Hồ Chủ Tịch đã dạy:
muốn phát triển sản xuất thì trớc hết phải nâng cao năng suất lao động và
muốn nâng cao năng suất lao động thì phải tổ chức lao động tốt .
[8]
Đối với các đơn vị, doanh nghiệp sau khi có phơng hớng nhiệm vụ sản
xuất thì tổ chức lao động là công tác có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, là nhân
tố đảm bảo tiết kiệm tối đa lao động sống và nâng cao hiệu quả sử dụng các
t liệu sản xuất.
Bố trí sử dụng lao động hợp lý liên quan đến kết quả sản xuất, kinh doanh,
đến sự sống còn của doanh nghiệp, của CNVC và lao động, đòi hỏi các nhà
quản lý doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm đến công tác này nhằm đạt hiệu
quả kinh tế cao nhất.
ở nớc ta, nguồn lao động rất dồi dào, khả năng tiềm tanggf về sức lao
động rất to lớn, nhng cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp, tình hình tổ chức sản
xuất, sử dụng lao động còn nhiều mặt tồn tại. Trong thời kỳ đổi mới, đất nớc
chuyển từ nền kinh tế theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị
trờng, nhất là quy luật cung- cầu, quy luật cạnh tranh đã gây nên một sức ép
đối với nền sản xuất xã hội. Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã tạo ra một
sức ỳ lớn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, khu vực kinh tế quốc doanh
đợc u tiên phát triển quy mô thu hút nhiều lao động nhng hoạt động lại kém
hiệu quả. Hoặc nguồn nhân lực dồi dào nhng lại thiếu nghiêm trọng những
13
Nguyễn Thị Thu Hiền- XH3A Khoá luận tốt nghiệp
điều kiện vật chất nh vốn đầu t, cơ sở hạ tầngđể sử dụng tối đa tiềm năng
lao động, do đó không phát huy đợc năng lực sản xuất.
Từ thực tế đó đặt ra một tất yếu khách quan là phải đổi mới cơ chế quản
lý, bên cạnh việc thực hiện hạch toán kinh doanh trong đơn vị còn cần phải
thực hiện tổ chức, sắp xếp lao động, cân đối năng lực sản xuất vào nguồn lao
động. Việc quan trọng trong các doanh nghiệp là phải sắp xếp lại lao động,
phải đảm bảo cho ngời lao động luôn có đủ việc làm với năng suất cao, đây
là mâu thuẫn gay gắt trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp đang tìm
biện pháp để xử lý vấn đề này.
Trong các doanh nghiệp, dựa trên cơ sở của trang thiết bị công nghệ, công
suất máy móc cũng nh mục tiêu của doanh nghiệp mà từ đó bố trí, sắp xếp
lại lao động cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất, kinh doanh tạo ra năng
suất, chất lợng hiệu quả cao. Đây cũng chính là yêu cầu quan trọng nhất đối
với các doanh nghiệp để từ đó có thể mở rộng sản xuất và phát triển thu hút
đợc nhiều lao động.
Tổ chức, sắp xếp lao động hợp lý còn góp phần tiết kiệm nguồn nhân lực
cho xã hội, từ đó tiết kiệm chi phí lao động, tăng năng suất lao động, tạo cơ
hội cạnh tranh chiếm lĩnh và mở rộng thị trờng.
Mặt khác, việc tổ chức, sắp xếp lại lao động còn góp phần tạo ra một cơ
cấu lao động hợp lý. Cơ cấu lao động đợc coi là tối u khi lực lợng lao động
đảm bảo đủ số lợng, ngành nghề, chất lợng, giới tính, lứa tuổi. Đồng thời
phải đợc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công
tác giữa các bộ phận và các cá nhân với nhau, bảo đảm mọi ngời đều có việc
làm, mọi khâu, bộ phận đều có ngời phụ trách và sự ăn khớp, đồng bộ trong
từng đơn vị và trên phạm vi toàn doanh nghiệp.
Tổ chức, sắp xếp lại lao động còn tạo điều kiện để mỗi cá nhân ngời lao
động phát huy đợc những khả năng làm việc của mình cho phù hợp. Nhà
quản lý sẽ dựa trên cơ sở trình độ năng lực, khả năng làm việc của mỗi ngời
lao động mà bó trí các công việc cho phù hợp nhằm phát huy mọi khả năng
của ngời lao động, kích thích sản xuất, kinh doanh phát triển, đẩy mạnh việc
nâng cao trình độ tay nghề, chuyên môn của ngời lao động. Từ đó có điều
kiện để thực hiện khát vọng chính đáng của con ngời. Xuất phát từ quan
điểm sức lao động là vốn quý nhất của xã hội XHCN, nên tổ chức lao động
ngoài việc là nhân tố quan trọng để nâng cao năng suất lao động nó còn có
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét