Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

Tài liệu TIỂU LUẬN: Nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước cho Chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo doc


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu TIỂU LUẬN: Nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước cho Chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo doc": http://123doc.vn/document/1049035-tai-lieu-tieu-luan-nang-cao-hieu-qua-chi-ngan-sach-nha-nuoc-cho-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-giao-duc-dao-tao-doc.htm





Lịch sử đất nước ta trải qua hàng ngàn năm dưới ách đô hộ của ngoại bang
xâm lược, bất kỳ một thế lực nào khi đặt ách đô hộ lên đất nước ta đều tìm mọi cách
hủy hoại nền văn hóa của ta, dìm nhân dân ta trong vòng dốt nát, tăm tối hòng dễ bề
cai trị, diệt tận gốc tinh thần yêu nước, khiến dân ta sống trong lầm than, không
được học hành, làm nô lệ suốt đời cho chúng.
Ngay sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, đối mặt với muôn
vàn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra ba nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đó
là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Người nói:” Một dân tộc dốt
là một dân tộc yếu”, “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp to lớn
của Đảng và nhân dân, do đó các ngành, các cấp Đảng và Chính quyền địa phương
phải thực sự quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này. Phải chăm sóc nhà trường về
mọi mặt, đẩy mạnh phát triển giáo dục của ta lên một bước phát triển mới…”, “ Vì
lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, “Muốn xây dựng chủ
nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Tư tưởng ấy của Người đã được
Đảng và Nhà nước ta phát triển thành đường lối, chủ tương, chiến lược, chính sách
cụ thể qua từng thời kỳ.
GD&ĐT tạo ra những con người phát triển toàn diện, có năng lực nghề
nghiệp, có tinh thần ham hiểu biết, có tư duy sáng tạo, làm chủ khoa học kỹ thuật
hiện đại, có ý thức và năng lực hợp tác, có tinh thần trách nhiệm với cộng đồng xã
hội, có nếp sống lành mạnh và sức khỏe tốt… đúng với mục tiêu của nước ta trên
chặng đường xây dựng xã hội mới - Xã hội chủ nghĩa: “Con người phát triển cao về
trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”.
Cùng với sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật, đòi hỏi phải có những
con người có trình độ hiểu biết, thực sự dám nghĩ, dám làm; Đó là kết quả của một
nền giáo dục toàn diện. Nhận thức được vai trò quan trọng của GD&ĐT là nền tảng
đưa nước ta thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH, là chìa khóa mở cửa tiến
vào tương lai, Nghị quyết Trung ương IV khóa VII của BCH Trung ương Đảng đã
đề ra: “Cùng với khoa học công nghệ, GD&ĐT là quốc sách hàng đầu nhằm nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Coi trọng cả ba mặt: Mở rộng quy



mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả. Phương hướng chung của lĩnh vực
GD&ĐT trong 5 năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH
tạo điều kiện cho nhân dân đặc biệt là thanh niên có việc làm, khắc phục những tiêu
cực và yếu kém trong GD&ĐT”; Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định:
“GD&ĐT cùng với khoa học công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu.
Phải coi đầu tư giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo
điều kiện cho giáo dục đi trước phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế- xã
hội”.
Đầu tư cho sự nghiệp GD&ĐT là đầu tư để phát triển kinh tế- xã hội
1.2. Chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo
1.2.1. Sự cần thiết của chương trình
Sau gần 15 năm đổi mới, giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu
quan trọng, nhưng còn những yếu kém, bất cập. Ngày 28 tháng 12 năm 2001 Thủ
tướng Chính phủ đã ký quyết định số 201/2001/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược phát
triển Giáo dục 2001- 2010”. Chiến lược xác định rõ mục tiêu, giải pháp và các bước
đi theo phương châm đa dạng hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, xây dựng một
nền giáo dục có tính thực tiễn và hiệu quả, tạo bước chuyển mạnh mẽ về chất lượng,
đưa nền giáo dục nước ta sớm tiến kịp các nước phát triển trong khu vực, nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực thực hiện các mục
tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010.
Xuất phát từ nhận thức và thức tiễn nêu trên mà việc đề ra
CTMTQGGD&ĐT là hết sức cần thiết. Nó sẽ giải quyết những vấn đề khó khăn,
bất cập về cơ sơ vật chất trong trường học, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục phù
hợp với yêu cầu mới, nâng cao chất lượng trong việc học cả lý thuyết cũng như thực
hành, hỗ trợ giáo dục ở các vùng khó khăn nhằm giảm sự chênh lệch về chất lượng
giáo dục giữa các vùng miền; đầu tư tập trung xây dựng một số trường Đại học, Cao
đẳng, THCN trở thành trọng điểm đó là những mục tiêu chủ yếu của CTMTQG
GD&ĐT trong giai đoạn từ 2001 đến 2010.



Chương trình mục tiêu quốc gia là một tập hợp các mục tiêu, nhiệm vụ và
giải pháp đồng bộ về kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ, môi trường, cơ chế,
chính sách, tổ chức để thực hiện một hoặc một số mục tiêu đã được xác định trong
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước trong một thời gian nhất
định.
Một chương trình mục tiêu quốc gia gồm nhiều dự án khác nhau để thực hiện
các mục tiêu của chương trình. Đối tượng quản lý và kế hoạch hóa được xác định
theo chương trình, việc đầu tư được thực hiện theo dự án.
Dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia là một tập hợp các hoạt động để
tiến hành một công việc nhất định nhằm đạt được một hay nhiều mục tiêu cụ thể đã
được định rõ trong chương trình với nguồn lực và thời hạn thực hiện được xác định.


1.2.2. Nội dung của chương trình
Thực hiện Quyết định số 71/2001/QĐ-TTg ngày 04/5/2001 và Quyết định số
26/2003/QĐ-TTg ngày 17/02/2003 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT thực
hiện CTMTQG GD&ĐT giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005, thông qua 7 Dự án
sau đây:
Dự án 1 : “Củng cố và phát huy kết quả Phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù
chữ, thực hiện phổ cập giáo dục Trung học cơ sở”
Dự án 2: “Đổi mới chương trình, nội dung sách giáo khoa”
Dự án 3: “Đào tạo cán bộ tin học và đưa tin học vào nhà trường, đẩy mạnh
dạy ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân”
Dự án 4: “Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, tăng cường CSVC các trường sư
phạm”
Dự án 5: “Hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc ít người và vùng còn nhiều
khó khăn”



Dự án 6: “Tăng cường CSVC các trường học, các Trung tâm kỹ thuật tổng
hợp - Hướng nghiệp; xây dựng một số trường Đại học, THCN trọng điểm”
Dự án 7: “Tăng cường năng lực đào tạo nghề”
Về Cơ chế quản lý dự án :
- Bộ GD&ĐT quản lý, điều hành, tổng hợp chung tình hình thực hiện
CTMTQG GD&ĐT; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan và các địa
phương tổ chức thực hiện các dự án số : 1, 2, 3, 4, 5, 6;
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có
liên quan và các địa phương tổ chức thực hiện dự án số 7.
1.3. Nguồn tài chính thực hiện CTMTQG GD&ĐT
Từ sau Đại hội VI (12/1986) Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh dấu sự chuyển
đổi toàn diện từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa theo
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước (hiện nay
gọi là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ) . Sự nghiệp GD&ĐT cũng được
phát triển từ một hệ thống giáo dục hầu như được Nhà nước bao cấp gần như toàn
bộ, đi học không phải đóng học phí sang quan điểm giáo dục là sự nghiệp của toàn
dân, do dân và vì dân, phát triển giáo dục là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn dân,
thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, khai thác tiềm năng
của nhân dân và các tổ chức kinh tế để hỗ trợ cùng NSNN tăng cường đầu tư cho
giáo dục. Từ đó ngành giáo dục có điều kiện phát triển nhanh hơn. Những năm qua
chúng ta đã huy động được nhiều nguồn vốn khác nhau bao gồm:
1.3.1. Nguồn Ngân sách Nhà nước:
- Ngân sách Nhà nước và chi Ngân sách Nhà nước: NSNN là hệ thống các
mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các tổ chức kinh tế xã hội và dân cư phát
sinh trong quá trình nhà nước động viên, phân phối của cải xã hội dưới hình thức
giá trị nhằm hình thành quĩ tiền tệ tập trung của nhà nước, trên cơ sở thỏa mãn nhu
cầu chi gắn với chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế, xã hội của Nhà nước.
NSNN nhà nước ta là một hệ thống thống nhất, bao gồm: Ngân sách Trung ương và
ngân sách các cấp chính quyền địa phương.



Chi NSNN là quá trình sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc không hoàn trả
trực tiếp, nhằm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - chính trị - xã hội của Nhà nước.
Chi NSNN thực chất là việc thực hiện quan hệ tiền tệ, được hình thành trong
quá trình phân phối, đồng thời sử dụng NSNN vào việc cấp phát kinh phí cho bộ
máy quản lý Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế xã hội mà Nhà nước giao
cho, theo những nguyên tắc nhất định. Bên cạnh đó, chi NSNN còn là sự phối hợp
giữa quá trình phân phối và quá trình sử dụng NSNN vào các mục tiêu:
* Quá trình phân phối NSNN là quá trình thực hiện cấp phát kinh phí từ
NSNN, nhằm tạo ra sự hoạt động của các quỹ, trong sự vận hành và phát triển của
nền kinh tế.
* Quá trình sử dụng NSNN là quá trình trực tiếp sử dụng khoản kinh phí,
được cấp phát từ nguồn NSNN, phục vụ cho các mục tiêu phát triển của đất nước
Đầu tư cho GD&ĐT luôn được ưu tiên hàng đầu. Dù ở cơ chế kế hoạch hóa
tập trung hay ở cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa thì trong tất cả các
nguồn tài chính đầu tư cho sự nghiệp GD&ĐT nói chung, CTMTQG GD&ĐT nói
riêng, NSNN vẫn giữ vai trò chủ đạo có tính chất quyết định đối với việc hình
thành, mở rộng, phát triển hệ thống GD&ĐT và chiếm một tỷ trọng lớn, vì:
- Đây là nguồn tài chính cơ bản, to lớn để duy trì và phát triển hệ thống giáo
dục đào tạo theo định hướng, mục tiêu của Nhà nước.
- Giải quyết những vấn đề thuộc chính sách xã hội, công bằng trong giáo dục
đào tạo như vấn đề về quyền lợi được hưởng giáo dục ở khu vực vùng sâu,
xa và người bị thiệt thòi, con em của những gia đình chính sách hoặc gia
đình gặp khó khăn về đời sống kinh tế.
- Giải quyết những vấn đề phát triển của hệ thống giáo dục ở tầm quốc gia và
ở những khu vực mà các thành phần kinh tế xã hội khác chưa quan tâm hoặc
chưa đủ năng lực để thực hiện.
Để đạt được mục tiêu của CTMTQG GD&ĐT thì nguồn vốn từ NSNN phải
tăng theo nhịp độ tăng trưởng kinh tế và được cân đối trong dự toán chi ngân sách
Trung ương.






1.3.2. Các nguồn tài chính ngoài NSNN
Chi NSNN cho CTMTQG GD&ĐT là khoản chi mang tính chất thường
xuyên. Trong những năm qua, khoản chi này có xu hướng tăng, song vẫn chưa đủ
đáp ứng nhu cầu chi ngày càng đa dạng và yêu cầu nguồn kinh phí lớn của các dự
án của CTMTQG GD&ĐT. Do đó đòi hỏi ngoài nguồn đầu tư từ NSNN cần phải
huy động thêm các nguồn tài chính khác, bao gồm:
+ Nguồn vốn do nhân dân đóng góp: khoản đóng góp của nhân dân bằng
tiền, hiện vật, ngày công lao động để xây dựng cơ sở vật chất trường học
+ Nguồn tài trợ: Gồm tài trợ của các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước,
ủng hộ của các cơ quan, doanh nghiệp, ủng hộ các các tổ chức, cá nhân trong nước
và nước ngoài.
+ Nguồn bổ sung từ ngân sách địa phương và của các Bộ, ngành.
+ Nguồn vốn vay tín dụng từ các tổ chức tín dụng, vay nước ngoài
+ Nguồn vốn khác: Các khoản được biếu tặng cho các trường bằng hiện vật
như: sách giáo khoa, máy vi tính, đồ dung thí nghiệm…
Những nguồn này tuy chưa nhiều nhưng cũng góp phần đáng kể vào phát
triển sự nghiệp GD&ĐT












Chương II
Thực trạng chi Ngân sách Nhà nước
cho chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo
2.1. Khái quát về GD&ĐT của nước ta trong thời gian qua
Trong những năm qua GD&ĐT đã đạt được một số kết quả:
Về thực hiện phổ cập giáo dục:Dự án củng cố và phát huy kết quả phổ cập
giáo dục tiểu học và xóa mù chữ đã thực hiện có chất lượng phổ cập giáo dục Tiểu
học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây
dựng xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và thực hiện công bằng
xã hội trong giáo dục ( Chính vì vậy mà mặc dù Việt Nam là nước có thu nhập thấp
nhưng tỷ lệ người lớn biết chữ đã đạt tới 90% - Nguồn báo cáo phát triển thế giới
2007 của World Bank- Tạp chí nhà quản lý trang 17, số 44 tháng 2/2007)
Theo số liệu báo cáo của Bộ Giáo dục & Đào tạo, đến tháng 7 năm 2007 có
39/64 tỉnh, thành phố (đạt tỷ lệ 61%) đạt chuẩn Quốc gia phổ cập giáo dục Tiểu học
đúng độ tuổi và 35/64 tỉnh, thành phố (đạt tỷ lệ 55%) được công nhận đạt chuẩn
Quốc gia phổ cập giáo dục THCS, 2 tỉnh đang hoàn thiện thủ tục để chuẩn bị được
kiểm tra là Tiền Giang và Tây Ninh.
Nhiệm vụ đổi mới chương trình, nội dung giáo dục phổ thông theo tinh thần
Nghị quyết số 40/2000/QH10 đã được hoàn thành cơ bản: Hoàn chỉnh nội dung,
chương trình, sách giáo khoa từ lớp 1 đến lớp 5 ở bậc tiểu học, từ lớp 6 đến lớp 9 ở
bậc trung học cơ sở và đưa vào thực hiện từ năm học 2001-2002. Năm học 2006 -
2007 đã tiếp tục tập trung thực hiện tốt đổi mới chương trình, nội dung, phương
pháp giáo dục, phân ban kết hợp với tự chọn ở lớp 10 THPT. Bên cạnh đó 8 chương
trình, SGK dạy tiếng dân tộc (KhMer, HMông, Jrai, Chăm) đã được ban hành theo
yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.
Năm học 2006 - 2007, hầu hết các địa phương, các Bộ Ngành liên quan đều
chủ động hoàn chỉnh quy hoạch mạng lưới trường, lớp học, xoá "xã trắng" về giáo
dục mầm non, đẩy mạnh việc tách trường liên cấp mầm non- Tiểu học, Tiểu học -



THCS, đồng thời xây dựng thêm trường học mầm non, phổ thông ở các địa bàn tập
trung dân cư.
Về cơ sở vật chất: Năm học 2006-2007, cả nước có 557.027 phòng học mầm
non và phổ thông, trong đó có gần 28.801 phòng học bộ môn và phòng thí nghiệm;
22.844 thư viện trường học (chiếm tỷ lệ 74% tổng số trường phổ thông), trong đó có
24% thư viện đạt tiêu chuẩn 01; hơn 1.806 phòng tập thể dục thể thao. Số phòng
học cấp 4 và phòng học kiên cố là 467.727, chiếm tỷ lệ 89,6%. Riêng khối phổ
thông xây mới được tổng số 32.580 phòng học, trong đó có 15.831 phòng học tiểu
học, 11.513 phòng học cho THCS và 5.236 phòng học cho THPT.
Tuy nhiên theo báo cáo từ các địa phương đến 30/6/2007, số phòng học của
Tiểu học có 242.939 phòng (mới đáp ứng 90,7% so với nhu cầu), THCS có 147.290
phòng (mới đáp ứng 88,6% so với nhu cầu) và THPT có 57.528 phòng ( mới đáp
ứng 79,5% so với nhu cầu). Chưa đến 50% trường có kho, phòng chứa thiết bị đáp
ứng so với nhu cầu, cụ thể: Tiểu học có 7.828 kho, phòng (đáp ứng 42,6% so với
nhu cầu), THCS có 6.882 kho, phòng (đáp ứng 48,7% so với nhu cầu), THPT có có
1.634 kho, phòng (đáp ứng 50,4% so với nhu cầu). Phòng thí nghiệm và phòng học
bộ môn còn thiếu nhiều , toàn quốc trường THCS chỉ có 113.910 phòng trên tổng
số 163.800 lớp, trường THPT chỉ có 5.104 phòng trên tổng số 24.298 lớp. Có thể
nói đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến việc đạt
mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục theo yêu cầu của nội dung chương trình sách
giáo khoa mới
2.2. Thực trạng kinh phí đầu tư cho CTMTQG GD&ĐT
Kinh phí đầu tư cho CTMTQG GD&ĐT gồm nguồn kinh phí từ NSNN và
nguồn kinh phí huy động từ các nguồn khác như: Vốn NSTW hỗ trợ, vốn địa
phương bổ sung, vốn vay tín dụng, vốn nước ngoài, vốn lồng ghép, vốn huy động
cộng đồng.
Trong giai đoạn 2001-2005 các nguồn kinh phí huy động như sau:
2.2.1. Tổng mức kinh phí từ Ngân sách Trung ương đã chi cho các dự án thuộc
CTMTQG GD&ĐT Giai đoạn 2001 – 2005



Nguồn kinh phí này được trích trực tiếp từ NSTW để thực hiện chương trình.
Đây là khoản chi rất lớn, mang tính chất thường xuyên nên khoản chi này được chi
theo dự toán, các khoản chi này nằm trong dự toán đã được xây dựng trước. Hàng
năm ngành GD&ĐT xây dựng dự toán cho khoản chi này, dự toán này sẽ là căn cứ
chính thức để phân bổ khoản chi và giao nhiệm vụ cho từng cấp từ Trung ương
xuống địa phương. Đồng thời Bộ GD&ĐT đã dự toán kinh phí chi CTMTQG
GD&ĐT để thực hiện ở cấp Trung ương và cấp địa phương
Tổng số kinh phí đã chi để thực hiện CTMTQG GD&ĐT là 7.537,7 tỷ đồng,
trong đó: NSTW là 5.527,7 tỷ đồng (vốn sự nghiệp) chiếm 71,14%; Nguồn NSĐP
và nguồn huy động từ cộng đồng là 1.585,4 tỷ đồng chiếm 20,4%; Nguồn vay nợ và
viện trợ nước ngoài là 657 tỷ đồng, chiếm 8,46%.





Số

Tên các Dự án Năm

Năm

Năm

Năm

Năm

Tổng %
TT

CTMTQG GD&ĐT 2001

2002

2003

2004

2005

cộng
1
Củng cố và phát huy kết quả

Phổ cậ
p GDTH và XMC,
thực hiện phổ cập THCS
15 35,0

40 50 55
195 3,5
2
Đổi mới Chương trình, nộ
i
dung SGK
246,7

380 520

800
1.946,7 35,2
3
Đào tạo cán bộ tin học, đư
a
tin học vào nhà trường, đẩ
y
10,0

50 65 75
200,0 3,6



Bảng số 01: Ngân sách Trung ương thực cấp qua các năm của giai đoạn 2001-
2005 Đơn vị tính: tỷ đồng
Nguồn:Phòng SNVX- Vụ Tài chính HCSN- Bộ Tài chính
Căn cứ vào nội dung hoạt động và phạm vi triển khai của các dự án, Bộ
GD&ĐT đã xây dựng dự toán chi tiết cho từng dự án, có phân chia theo từng năm.
Việc xây dựng dự toán ban đầu chưa tính đến nguồn kinh phí bổ sung của các dự án
hợp tác quốc tế và đóng góp của Ngân sách địa phương và cộng đồng, mà chỉ tính
phần Ngân sách Trung ương hỗ trợ.
Nhu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng GD&ĐT toàn diện ngày càng đòi
hỏi các dự án đề ra phải có chất lượng tốt, đạt hiệu quả do đó NSTW chi cho các Dự
án của chương trình đã tăng theo từng năm. Trong năm 2005 với khoản chi lớn nhất
là 1.770 tỷ đồng Chiếm 32,02 % tổng chi giai đoạn I. Năm 2001 với mức chi thấp
mạnh dạy ngoại ngữ trong hệ

thống GD QD
4
Đào tạo và bồi dưỡ
ng giáo
viên, tăng cường CSVC hệ

thống trường sư phạm
125 135,0

100 100

120
580,0 10,5
5
Hỗ trợ GD miề
n núi, vùng
dân tộc và vùng có nhiề
u khó
khăn
130 136,0

105 120

150
641,0 11,6
6
Tăng cường CSVC các trư-
ờng học, Trung tâm kỹ thuậ
t
tổng hợp, HN, các trườ
ng
ĐH, THCN trọng điểm
330 265,0

165 195

230
1.185,0 21,4
7
Tăng cường năng lực đào tạ
o
nghề
110,0

130 200

340
780,0 14,1

Tổng cộng 600 937,7

970 1.250

1.770

5.527,7
100,
0

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét