LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số vấn đề về triển khai bảo hiểm y tế tự nguyện tại bảo hiểm xã hội việt nam": http://123doc.vn/document/1053284-mot-so-van-de-ve-trien-khai-bao-hiem-y-te-tu-nguyen-tai-bao-hiem-xa-hoi-viet-nam.htm
Trên thế giới, hầu như không có một quốc gia nào lại không phải bao cấp cho
nhu cầu KCB của người dân mà đều phải huy động một phần từ sự đóng góp của
cộng đồng xã hội. Ở nước ta cũng vậy, ngân sách Nhà nước đã dành cho y tế tăng
dần qua các năm, nhưng theo tính toán cũng chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu
KCB của xã hội. Vì vậy ngay từ năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính Phủ
đã ban hành Quyết định 45/HĐBT để thực hiện việc thu một phần viện phí, nhằm
thông qua sự đóng góp của nhân dân, tạo thêm kinh phí cho các bệnh viện cải thiện
chất lượng dịch vụ y tế, đảm bảo tốt hơn công tác chăm sóc sức khoẻ của nhân dân.
Tuy nhiên, chế độ thu một phần viện phí chỉ có thể giúp một bộ phận dân cư, những
người có thu nhập khá được KCB, mà số lượng này lại không lớn trong xã hội. Đại
bộ phận những người có thu nhập từ trung bình đến những người nghèo lại khó có
điều kiện tiếp cận với dịch vụ y tế của Nhà nước do giá viện phí cao. Việc thu chi
phí KCB trực tiếp từ người bệnh rõ ràng ảnh hưởng tới sự đảm bảo công bằng trong
KCB giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Theo kinh nghiệm của các nước trên thế
giới, thì rất ít khi người ta để cho một cá nhân tự phải chịu mọi cho phí y tế khi điều
trị mà thường là thông qua hình thức chia sẻ rủi ro cho nhiều người qua hình thức
BHYT. Tức là chia sẻ khó khăn về tài chính cho nhau, người khoẻ mạnh giúp đỡ
người ốm đau còn khi mình ốm đau thì nhiều người khoẻ sẽ giúp đỡ mình.
Đúc rút kinh nghiệm của các nước trên thế giới, ngày 15/8/1992 Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 299/HĐBT ban hành Điều lệ
BHYT, khai sinh ra chính sách BHYT ở Việt Nam, BHYT Việt Nam chính thức ra
đời, được coi là một loại hình bảo hiểm đặc biệt, là chính sách xã hội do Nhà nước
tổ chức thực hiện mang ý nghĩa cộng đồng sâu sắc. Hay BHYT là cơ chế kinh tế, là
nơi tập trung nguồn lực tài chính từ sự đóng góp của cộng động xã hội để chi phí
KCB cho người tham gia đóng góp vào quỹ khi họ gặp phải rủi ro về sức khoẻ cần
phải KCB.Theo quy định của pháp luật nước ta: BHYT là một chính sách xã hội do
Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sư đóng góp của người lao động,
người sử dụng lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí KCB cho
người có thẻ BHYT khi ốm đau. Tôn chỉ của BHYT không nằm ngoài mục tiêu an
Vò ThÞ Nh©m B¶o hiÓm 45B
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Bé m«n Kinh tÕ B¶o hiÓm
sinh xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận. Đây không phải là loại hình bảo hiểm
thương mại. Đặc điểm khác biệt cơ bản của BHYT xã hội so với các loại hình bảo
hiểm thương mại là mức đóng góp dựa vào khả năng thu nhập của mỗi nhóm dân
cư, nhưng mức thụ hưởng lại theo nhu cầu điều trị. Khi số người tham gia BHYT
càng đông thì khả năng đáp ứng quyền lợi của người tham gia BHYT càng tốt,
ngược lại nếu số người tham gia càng ít thì việc đảm bảo quyền lợi cho người tham
gia cũng bị hạn chế theo do khả năng dàn trải rủi ro trong cộng đồng là không cao.
Khái niệm về BHYT được trình bày trong cuốn “Từ điển Bách khoa Việt Nam
I” xuất bản năm 1995, nhà xuất bản Bách khoa – trang 151 như sau: “BHYT: loại
hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá
nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khoẻ, khám bệnh và chữa bệnh
cho nhân dân”.
Mặt khác, BHYT là một trong chín nội dung của BHXH được quy định tại
Công ước 102 ngày 28/6/1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về các tiêu
chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp BHXH. Do đó, khi nói tới BHYT, cần hiểu đó là
BHYT xã hội hoặc còn được gọi là BHXH về y tế, nó khác với BHYT tư nhân (bảo
hiểm thương mại). Như vậy BHYT đã được nhà nước quy định, đang từng bước
luật hoá tạo những chuẩn mực nhằm bảo vệ người tham gia trước những rủi ro về
bệnh tật.
Ở Cộng hòa liên bang Đức cũng như ở các nước công nghiệp phát triển khái
niệm về BHYT là: “BHYT trước hết là một tổ chức cộng đồng đoàn kết tương trợ
lẫn nhau, nó có nhiệm vụ gìn giữ, khôi phục lại sức khoẻ hoặc cải thiện tình trạng
sức khoẻ của người tham gia BHYT”. Như vậy, trong hoạt động BHYT thì tính
đoàn kết cùng chia sẻ rủi ro rất cao, nó là nền tảng cho lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc
sức khoẻ, nó điều tiết mạnh mẽ giữa người khoẻ mạnh và người ốm yếu, giữa thanh
niên với người già và giữa người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp. Sự
đoàn kết tương trợ lẫn nhau trong BHYT là sự đảm bảo cho từng người dựa trên cơ
sở sự đoàn kết không điều kiện của sự hợp tác cùng chung lòng chung sức và gắn
kết chặt chẽ với nhau. Theo định nghĩa BHYT nêu trên thì sự đoàn kết tương trợ
Vò ThÞ Nh©m B¶o hiÓm 45B
6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Bé m«n Kinh tÕ B¶o hiÓm
vừa mang ý nghĩa tự giác, vừa mang ý nghĩa cùng chịu trách nhiệm và vừa có sự
thống nhất quan điểm chung. Đoàn kết tương trợ không chỉ là quyền được nhận mà
còn phải có nghĩa vụ đóng góp.
Xét trên tổng thể nền kinh tế quốc dân và phương diện điều tiết kinh tế vĩ mô
thì BHXH nói chung và BHYT nói riêng là công cụ thứ hai trong quá trình phân
phối lại sau công cụ thuế góp phần đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội.
Nếu nhìn nhận dưới góc độ kinh tế thì BHYT được hiểu là sự hợp nhất kinh tế
của số lượng lớn những người cùng phải đối mặt với một loại rủi ro do bệnh tật gây
ra mà trong từng trường hợp cá biệt không thể tính toán trước và lo liệu được. Cân
đối về chi phí khám chữa bệnh cơ bản được thực hiện giữ một bên là tổng cố chi phí
KCB cho những người có nhu cầu và cần phải KCB và một bên là tổng số đóng góp
của những người tham gia.
Đa số các quốc gia trên thế giới, từ những quốc gia phát triển đến những quốc
gia đang phát triển đều coi BHYT là một trong những giải pháp tài chính chủ yếu
trong lĩnh vực y tế, được xem như một chính sách xã hội quan trọng, không thể
thiếu trong chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
2.2. Bản chất của BHYT
Từ những khái quát trên, cùng với những thực tế đã diễn ra trong lịch sử phát
triển BHXH, BHYT trên thế giới hơn 100 năm qua và ở nước ta hơn 10 năm nay,
chúng ta có thể phân tích đầy đủ hơn về bản chất của BHYT.
BHYT trước hết là một trong những bộ phận quan trọng của hệ thống đảm bảo
xã hội hay còn gọi là hệ thống an sinh xã hội. Cùng với các hệ thống an sinh xã hội
và hệ thống cứu trợ xã hội, hoạt động của BHYT nói riêng và hoạt động của BHXH
nói chung đã thực sự trở thành nền móng vững chắc cho sự bình ổn xã hội. Chính vì
vai trò quan trọng của BHXH, cho nên mọi quốc gia trên thế giới hoạt động của
BHXH luôn do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện theo hệ thống pháp luật về
BHXH.
Là một chính sách xã hội, BHYT vừa mang bản chất xã hội, vừa mang bản
chất kinh tế.
Vò ThÞ Nh©m B¶o hiÓm 45B
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Bé m«n Kinh tÕ B¶o hiÓm
- Bản chất xã hội.
BHYT là loại hình bảo hiểm vì mục tiêu an sinh xã hội. Bản chất xã hội của
BHYT được thể hiện trên các khía cạnh sau:
+ Thứ nhất là sự bảo trợ của Nhà nước về chăm sóc y tế dành cho các thành
viên tham gia thể hiện BHYT là một bộ phận quan trọng trong chính sách xã hội
của mỗi quốc gia nhằm đảm bảo một trong những quyền thiêng liêng của con
người, đó là quyền được chăm sóc y tế. Bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ không phải
thuần tuý chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân riêng lẻ, mà là trách nhiệm chung của
cả cộng đồng. Bởi lẽ, nguy cơ về bệnh tật có thể đến với bất kể ai, không phân biệt
quốc gia, dân tộc, và hơn nữa không ai có thể một mình đơn phương chống lại bệnh
tật. Lẽ đương nhiên việc bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ trước tiên thuộc về mỗi cá
nhân, nhưng vẫn cần sự trợ giúp mang tính Nhà nước. Ở đó Nhà nước giữ vai trò
quan trọng, là người tổ chức, quản lý và bảo trợ.
+ Thứ hai là sự liên kết, chia sẻ rủi ro mang tính cộng đồng giữa các thành
viên trong xã hội. Bên cạnh sự trợ giúp mang tính Nhà nước, tính chất xã hội của
BHYT còn thể hiện ở sự chia sẻ, liên kết của chính các thành viên trong xã hội
thông qua đóng góp dựa trên thu nhập. Các thành viên trong xã hội tham gia đóng
góp một phần thu nhập vào một quỹ chung để chăm sóc y tế cho chính mình và cho
các thành viên khác.Bệnh tật và những rủi ro về sức khoẻ không phải khi nào cũng
xuất hiện cùng một lúc với tất cả mọi người, chúng cũng không xuất hiện giống
nhau ở mỗi người. Thực tế cho thấy có người ốm đau lúc này, người ốm đau lúc
khác, có người bệnh nặng, có người bệnh nhẹ, có người hay ốm, người ít ốm và
bệnh tật thường đến bất ngờ không báo trước.Nếu cứ để ai có bệnh người đó tự
chống đỡ sẽ gây khó khăn cho chính họ vè không đủ tiền để trang trải. Thực tế này
đòi hỏi cần một sự liên kết mang tính cộng đồng rộng rãi để chia sẻ rủi ro bệnh tật.
Một quỹ chung cho chăm sóc sức khoẻ sẽ điều tiết để nhiều người chưa hoặc không
ốm đau cho người ốm, người ốm nhẹ giúp người ốm nặng. Tính xã hội tương trợ
cộng đồng nhân văn của BHYT còn thể hiện ở sự đoàn kết xã hội trong chăm sóc y
tế. Chăm sóc y tế thông qua BHYT không phân biệt mức đóng nhiều hay đóng ít,
Vò ThÞ Nh©m B¶o hiÓm 45B
8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Bé m«n Kinh tÕ B¶o hiÓm
không phân biệt thành phần xã hội, tôn giáo, giai cấp mà phụ thuộc vào mức độ rủi
ro về bệnh tật. Thực tế cho thấy những người nghèo, người có thu nhập thấp thường
là người hay ốm đau và cần nhiều kinh phí chữa bệnh. Hơn nữa khi ốm đau lại làm
giảm hoặc mất thu nhập nên càng làm cho họ khó khăn hơn về tài chính để tiếp cận
các dịch vụ y tế. BHYT mang tính xã hội là một giải pháp thực tế đưa họ tiếp cận
dịch vụ chăm sóc sức khoẻ.
Như vậy bản chất xã hội của BHYT thể hiện ở sự trợ giúp mang tính Nhà nước
và sự tương hỗ mang tính cộng đồng.BHYT thể hiện bản chất nhân đạo và trình độ
văn minh của xã hội phát triển với mục đích đảm bảo khả năng tiếp cận dịch vụ y tế
cho đa số dân chúng, thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khoẻ.
- Bản chất kinh tế.
BHYT là một chính sách xã hội, hoạt động vì mục tiêu trợ giúp xã hội, không
vì lợi nhuận nhưng nó lại mang yếu tố kinh tế, thuộc phạm trù kinh tế - y tế. Thực
hiện BHYT có hiệu quả là giải một bài toán về kinh tế y tế. BHYT có chức năng
làm nhiệm vụ phân phối lại thu nhập.Có thể thấy được điều này ngay chính trong
bản chất xã hội ở sự tương trợ mang tính cộng đồng của BHYT. Có hai góc độ thể
hiện chính đó là sự phân phối trực tiếp và sự phân phối gián tiếp. Phân phối trực
tiếp thể hiện ở sự chuyển phần thu nhập của người tạm thời khoẻ mạnh sang người
đang ốm, của người bệnh nhẹ sang người bệnh nặng, của người trẻ khoẻ sang người
già yếu, thông qua sự điều hành luân chuyển của chính phần thu nhập đóng trực tiếp
cho quỹ BHYT. Phân phối gián tiếp thể hiện ở sự hỗ trợ giữa người giàu và người
nghèo, người thu nhập cao và người có thu nhập thấp.
2.3. Vai trò của BHYT
BHYT là một phạm trù kinh tế tất yếu của xã hội phát triển, đóng vai trò quan
trọng không những đối với người tham gia bảo hiểm, các cơ sở y tế, mà còn là
thành tố quan trọng trong việc thực hiện chủ trương xã hội hoá công tác y tế nhằm
huy động nguồn tài chính ổn định, phát triển đa dạng các thành phần tham gia KCB
cho nhân dân. Vai trò của BHYT được thể hiện như sau:
Vò ThÞ Nh©m B¶o hiÓm 45B
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Bé m«n Kinh tÕ B¶o hiÓm
Thứ nhất: BHYT là nguồn hỗ trợ tài chính giúp người tham gia khắc phục
những khó khăn về kinh tế khi bất ngờ ốm đau, bệnh tật. Bởi vì trong quá trình điều
trị bệnh chi phí rất tốn kém ảnh hưởng đến ngân sách gia đình, trong khi đó thu
nhập của họ bị giảm đáng kể thậm chí mất thu nhập.
Thứ hai: Góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Các quốc gia trên
thế giới thường có các khoản chi từ ngân sách cho hệ thống y tế. Tuy nhiên ở một
số quốc gia khác, đặc biệt là quốc gia đang phát triển khoản chi này thường chưa
đáp ứng được nhu cầu ngành y. Ở phần lớn các quốc gia, chính phủ chỉ đầu tư
khoảng 60% ngân sách y tế. Có nhiều biện pháp mà chính phủ các nước đã thực
hiện để giải quyết vấn đề này, như sự đóng góp của cộng đồng xã hội, trong đó có
biện pháp thu viện phí của người đến khám, chữa bệnh. Nhưng đôi khi giải pháp
này lại vấp phải vấn đề trở ngại từ mức sống của dân cư. Vì vậy biện pháp hiệu quả
nhất là thực hiện BHYT để giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, khắc phục sự
thiếu hụt về tài chính, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của người
dân.
Thứ ba: BHYT góp phần thực hiện nâng cao chất lượng và thực hiện mục tiêu
công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân, thể hiện rõ nét tính nhân đạo,
cộng đồng xã hội sâu sắc. Những người tham gia BHYT, dù ở địa vị, hoàn cảnh
nào, mức đóng là bao nhiêu, khi ốm đau cũng nhận được sự chăm sóc y tế bình
đẳng như nhau, xoá bỏ khoảng cách giàu nghèo khi thụ hưởng chế độ KCB. Sự
thiếu hụt trong ngân sách y tế đã không đảm bảo nhu cầu KCB. Số lượng và chất
lượng cơ sở vật chất trang thiết bị của ngành y tế không những không theo kịp sự
phát triển nhu cầu KCB của người dân mà còn bị giảm sút. Vì vậy thông qua việc
đóng góp vào quỹ BHYT sẽ hỗ trợ ngân sách y tế, nhằm cải thiện và nâng cao chất
lượng phục vụ của ngành y.
Thứ tư: BHYT nâng cao tính cộng đồng và gắn bó mọi thành viên trong xã
hội. Trên cơ sở quy luật số lớn, phương châm của BHYT là “ mình vì mọi người,
mọi người vì mình”, “lá lánh đùm lá rách”, “lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Vì vậy
mọi thành viên trong xã hội gắn bó và tính cộng đồng được nâng cao. Đặc biệt là
Vò ThÞ Nh©m B¶o hiÓm 45B
10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Bé m«n Kinh tÕ B¶o hiÓm
giúp giáo dục trẻ em ngay từ khi còn nhỏ tuổi về tính cộng đồng thông qua loại hình
BHYT học sinh – sinh viên.
Thứ năm: BHYT làm tăng chất lượng khám chữa bệnh và quản lý y tế thông
qua hoạt động quỹ BHYT đầu tư. Lúc đó trang thiết bị về y tế sẽ hiện đại hơn, có
kinh phí để sản xuất các loại thuốc đặc trị chữa bệnh hiểm nghèo, có điều kiện nâng
cấp các cơ sở KCB một cách có hệ thống và hoàn thiện hơn, giúp người dân đi
KCB được thuận lợi. Đồng thời đội ngũ cán bộ y tế sẽ được đào tạo tốt hơn, các y,
bác sỹ sẽ có điều kiện nâng cao tay nghề, tích luỹ kinh nghiệm, có trách nhiệm đối
với công việc hơn, dẫn đến sự quản lý dễ dàng và chặt chẽ hơn trong KCB.
Thứ sáu: Chỉ tiêu phúc lợi xã hội trong mỗi nước cũng biểu hiện trình độ phát
triển của nước đó. Do vậy, BHYT là một công cụ vĩ mô của Nhà nước để thực hiện
tốt phúc lợi xã hội, đồng thời tạo nguồn tài chính hỗ trợ, cung cấp cho hoạt động
chăm sóc sức khoẻ của người dân.
Thứ bảy: BHYT còn góp phần đề phòng và hạn chế những bệnh hiểm nghèo
theo phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Với việc kết hợp với các cơ sở
KCB BHYT kiểm tra sức khoẻ, chăm sóc sức khoẻ cho đại đa số những người tham
gia BHYT, từ đó phát hiện kịp thời những bệnh hiểm nghèo và có phương pháp
chữa trị kịp thời, tránh được những hậu quả xấu, mà nếu không tham gia BHYT tâm
lý người dân thường sợ tốn kém khi đi bệnh viện, do đó mà coi thường hoặc bỏ qua
những căn bệnh có thể dẫn đến tử vong.
Thứ tám: BHYT còn góp phần đổi mới cơ chế quản lý y tế, cụ thể: để có một
lực lượng lao động trong xã hội có thể lực và trí lực, không thể không chăm sóc bà
mẹ và trẻ em, không thể để người lao động làm việc trong điều kiện vệ sinh không
đảm bảo, môi trường ô nhiễm… Vì thế việc chăm lo bảo vệ sức khoẻ là nhiệm vụ
của mỗi người, mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp và cũng là nhiệm vụ chung của toàn
xã hội. Đồng thời để đảm bảo cho mọi người lao động khi ốm đau được KCB một
cách thuận tiện, an toàn, chất lượng thì cần có mạng lưới y tế đa dạng và rộng khắp,
có đội ngũ thầy thuốc giỏi và tận tâm với người bệnh, có cơ sở vật chất y tế đầy đủ,
hiện đại… Thông qua BHYT, mạng lưới KCB sẽ được sắp xếp lại, sẽ không còn
Vò ThÞ Nh©m B¶o hiÓm 45B
11
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Bé m«n Kinh tÕ B¶o hiÓm
phân tuyến theo địa giới hành chính một cách máy móc, mà phân theo tuyến kỹ
thuật, đảm bảo thuận lợi cho người bệnh, tạo điều kiện cho họ lựa chọn cơ sở điều
trị có chất lượng phù hợp.
BHYT ra đời đòi hỏi người được sử dụng dịch vụ y tế và người cung cấp dịch
vụ này phải biết rõ chi phí của một lần KCB đã hợp lý chưa, chi phí cho quá trình
vận hành bộ máy của khu vực KCB đã đảm bảo chưa, những chi phí đó phải được
hạch toán và quỹ bảo hiểm phải được trang trải, thông qua đó đòi hỏi cơ chế quản lý
của ngành y tế phải đổi mới, để tạo ra chất lượng mới trong dịch vụ y tế phù hợp
với tiến trình đổi mới đất nước và định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
2.4. Chức năng của BHYT.
BHYT là một chính sách kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, góp phần ổn định
đời sống xã hội và mang tính nhân văn cao cả. Do vậy, BHYT có một số chức năng
sau:
- BHYT là một hoạt động dịch vụ:
Thực vậy khi có người tham gia BHYT thì cơ quan BHYT có nhiệm vụ phục
vụ người được bảo hiểm trong suốt thời gian hợp đồng có hiệu lực. Khi hợp đồng
thực hiện, cơ quan BHYT có nhiệm vụ theo dõi việc thực hiện hợp đồng để người
được bảo hiểm đảm bảo về mặt tài chính khi gặp ốm đau và thực hiện chi trả chi phí
KCB cho người tham gia BHYT. Mục đích của BHYT là nhằm đảm bảo sự tiếp cận
dịch vụ chăm sóc y tế và công bằng trong KCB cho người tham gia. Hoạt động
BHYT không vì mục đích lợi nhuận mà là vì mục đích xã hội. Khác với BHYT
thương mại, BHYT thương mại là hoạt động kinh doanh vì mục đích lợi nhuận và
nó chỉ cung cấp dịch vụ cho nhóm thu nhập khá, không bao gồm cung cấp dịch vụ
KCB cho người nghèo, cho đối tượng được ưu đãi như trong BHXH về y tế hay
BHYT nói chung.
- BHYT là một công cụ an toàn:
Vì khi bị ốm đau, bệnh tật, nhất là trong trường hợp bệnh hiểm nghèo hoặc
thời gian KCB là quá dài. Khi đó người bệnh và gia đình họ phải mất một khoản chi
phí về tài chính lớn, có thể họ khó có khả năng thanh toán được hoặc họ sẽ lâm vào
Vò ThÞ Nh©m B¶o hiÓm 45B
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Bé m«n Kinh tÕ B¶o hiÓm
tình trạng kiệt quệ về kinh tế. Nhưng khi tham gia BHYT người bệnh sẽ được trả
hoàn toàn hoặc một phần chi phí KCB. Như vậy sẽ bớt được phần nào gánh nặng về
tài chính cho người bệnh cũng như thân nhân họ. Mặt khác nếu người dân tham gia
các loại hình bảo hiểm thương mại, họ vẫn phải lo lắng tài chính để thanh toán các
chi phí KCB sau đó mới được nhà bảo hiểm của họ thanh toán tiền, đây cũng là một
vấn để khó khăn đối với người dân khi phải vay mượn một khoản tiền lớn trong
hoàn cảnh ốm đau bệnh tật. Vì vậy, thông qua việc chi trả trước của quỹ BHYT,
người tham gia BHYT sẽ thoát khỏi nỗi lo lắng khi bị ốm đau bệnh tật, đặc biệt
trong trường hợp bệnh nặng phải sử dụng các dịch vụ y tế có chi phí cao.
- BHYT là một công cụ tiết kiệm:
Khi tham gia BHYT mọi người đều có nghĩa vụ đóng góp phí. Và từ đây hình
thành lên quỹ BHYT, quỹ này dùng để chi trả các chi phí KCB cho bệnh nhân tham
gia BHYT, phần còn lại (nếu có) có thể đem đi đầu tư dưới một số hình thức được
pháp luật cho phép như mua tín phiếu, trái phiếu, gửi ngân hàng, cho vay thế
chấp… để tăng trưởng và đảm bảo an toàn cho quỹ. Tuy nhiên chi phí cho hoạt
động của BHYT luôn phát sinh, nguồn quỹ cho vay phải sau một thời gian mới thu
hồi được và khi đem đi đầu tư kinh doanh sẽ có thể gặp một số rủi ro nhất định. Vì
vậy, cơ quan BHYT phải có quỹ dự phòng và phải được tính toán hợp lý. Việc đầu
tư số tiền tạm thời nhàn rỗi phải thực hiện theo nguyên tắc bảo toàn vốn và thực
hiện theo các quy định của pháp luật về vốn đầu tư hiện hành.
3. Những nội dung cơ bản của BHYT.
3.1. Mục đích:
BHYT là chế độ chăm sóc y tế trong hệ thống an sinh xã hội. Mục đích của
BHYT nhằm đảm bảo sự tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế và công bằng trong khám
chữa bệnh, nhằm tăng cường và nâng cao sức khoẻ cộng đồng mà trước hết là cộng
đồng những người tham gia BHYT từ đó góp phần tái sản xuất sức lao động hiện tại
cũng như tương lai, giảm bớt khó khăn cho gia đình người tham gia.
Ở nước ta, trong Điều lệ BHYT 2005, Điều 1 có quy định mục tiêu chung của
BHYT như sau:
Vò ThÞ Nh©m B¶o hiÓm 45B
13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Bé m«n Kinh tÕ B¶o hiÓm
- Bảo hiểm y tế quy định trong Điều lệ này là một chính sách xó hội do Nhà
nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động,
người lao động, các tổ chức và cá nhân, để thanh toán chi phí khám, chữa bệnh theo
quy định của Điều lệ này cho người có thẻ bảo hiểm y tế khi ốm đau.
- Bảo hiểm y tế theo Điều lệ này mang tính xó hội, không vì mục tiêu lợi nhuận,
hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả trong khám, chữa bệnh và toàn dân tham
gia.
3.2. Đối tượng của BHYT.
BHYT là một chính sách xã hội mang tính nhân văn nhằm giúp đỡ người người
tham gia giảm những khó khăn cũng như gánh nặng về tài chính khi gặp rủi ro bệnh tật,
ốm đau. Như vậy, đối tượng của BHYT là sức khoẻ của con người. Do đó, ai muốn
hưởng dịch vụ này cũng như có nhu cầu bảo hiểm cho sức khoẻ của mình thì đều có thể
tham gia BHYT. Hay còn có thể nói: đối tượng tham gia BHYT là mọi người dân có nhu
cầu bảo vệ sức khoẻ của mình hoặc cũng có thể là người đại diện cho một tập thể, một
đơn vị, một cơ quan đứng ra ký kết hợp đồng BHYT cho tập thể, đơn vị cơ quan đó.
Trên thế giới, nói chung trong giai đoạn đầu khi mới triển khai BHYT thông
thường các nước đều chia ra làm 2 nhóm đối tượng tham gia BHYT đó là đối tượng
tham gia bắt buộc và tự nguyện. Hình thức bắt buộc áp dụng với công chức, viên
chức Nhà nước và một số đối tượng khác như người về hưu có hưởng lương hưu,
nghỉ mất sức lao động hưởng trợ cấp… Hình thức tự nguyện áp dụng cho mọi thành
viên khác trong xã hội có nhu cầu và thường giới hạn trong độ tuổi nhất định tuỳ
theo từng quốc gia.
Ở Việt Nam theo Nghị định 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ
ban hành Điều lệ BHYT thì BHYT bắt buộc cho các đối tượng là người lao động
Việt Nam (sau đây gọi tắt là người lao động) làm việc theo hợp đồng lao động có
thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong
các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, đơn
vị thuộc lực lượng vũ trang; Cán bộ, công chức, viên chức theo Pháp lệnh Cán bộ,
công chức; Người đang hưởng chế độ hưu trí, hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng
Vò ThÞ Nh©m B¶o hiÓm 45B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét