LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "cụ thể hoá vị trí kinh tế của chính phủ ở nước chxhcn việt nam trong giai đoạn “từng bước công nghiệp hiện đại hoá” đất nước": http://123doc.vn/document/1051801-cu-the-hoa-vi-tri-kinh-te-cua-chinh-phu-o-nuoc-chxhcn-viet-nam-trong-giai-doan-tung-buoc-cong-nghiep-hien-dai-hoa-dat-nuoc.htm
Thứ nhất, hàng hoá đi theo số phiếu bằng đồng đô la chứ không phải là theo nhu
cầu lớn nhất. Một con mèo của ngời giàu có thể đợc nhận số sữa mà một đứa trẻ
nghèo cần có để đợc khoẻ mạnh. Có phsải là do cung cầu hoạt động kém không?
Hoàn toàn không vì cơ chế thị trờng đang làm đúng chức năng-nó đặt hàng vào tay
ngời có thể trả tiền nhiều nhất, ngời có nhiều phiếu bằng tiền nhất. Những ngời bảo
vệ cơ chế giá cả và những ngời phê phán nó cần thừa nhận rằng một hệ thống thị tr-
ờng có hiệu quả có thể gây ra sự bất bình đẳng lớn. Nếu một nớc chi tiêu về thức
ăn cho súc vật làm cảnh nuôi trong nhà nhiều hơn là về giáo dục đại học cho ngời
nghèo thì đó là một khuyết điểm của việc phân phối thu nhập, chứ không phải là
của thị trờng. Nhng, một kết quả nh vậy có thể không chấp nhận đợc về mặt chính
trị hoặc đạo lý. Một xã hội không cần chấp nhận kết quả của những thị trờng có
tính cạnh tranh-sự sống còn của những kẻ sống sót-coi đó là quyền thiêng liêng
hoặc công lý trên đời. Bàn tay vô hình có thể dẫn chúng ta đến giới hạn bên ngoài
của ranh giới khả năng sản xuất nhng không nhất thiết nó phân phối sản lợng đó
một cách có thể chấp nhận đợc. Và một khi xã hội dân chủ không thích sự phân
phối phiếu đô-la trong mức hệ thống thị trờng thả lỏng thì nó có biện pháp thay
đổi kết quả thông qua những chính sách phân phối lại.
Thứ hai, do tỉ suất thuế thấp không thể giúp gì cho những ngời hoàn toàn không
có thu nhập.trong những thập kỷ gần đây chính phủ đã xây dựng một hệ thống hỗ
trợ thu nhập: Giúp đỡ cho ngời già, ngời mù, ngời bị tàn tật, cũng nh bảo hiểm thất
nghiệp cho những ngời không có công ăn việc làm. Hệ thống trả tiền chuyển dịch
này tạo ra một mạng lới an toàn bảo vệ những ngời không may khỏi bị huỷ hoại
về kinh tế. Cuối cùng, chính phủ đôi khi trợ cấp tiêu dùng cho những nhóm có thu
nhập thấp. Nhờ quá trình tăng trởng kinh tế và những chơng trình phúc lợi tạo ra
mức sống tối thiểu, phần lớn cảnh túng quẫn ghê gớm và dễ nhìn thấy của chủ
nghĩa t bản thế kỷ 19 đã bị xoá bỏ, một kiểu nghèo đói dai dẳng hơn của thế kỷ 20
còn tồn tại .
c- ổn định. Ngoài vai trò thúc đẩy hiệu quả và công bằng, chính phủ cũng tham
gia vào chức năng kinh tế vĩ mô là thúc đẩy sự ổn định kinh tế. Từ khi ra đời, chủ
nghĩa t bản đã từng gặp phải những thăng trầm chu kỳ của lạm phát (giá cả lên) và
suy thoái (nạn thất nghiệp rất cao). Đôi khi những hiện tợng này rất dữ dội, nh thời
kỳ siêu lạm phát ở Đức trong những năm 1920, đến mức tiếp sau đó là rối loạn xã
hội, cách mạng và chiến tranh. Đôi lúc, nh thời kỳ Đại suy thoái ở Mỹ trong những
năm 1930, khó khăn gian khó kéo dài một thập kỷ vì các nhà lãnh đạo chính trị
không có đủ hiểu biết kinh tế để có biện pháp phục hồi kinh tế. Gần đây hơn, đầu
những năm 1980, chính phủ Mỹ và các nớc khác đã có biện pháp nhằm giảm tỷ lệ
lạm phát cao. Những biện pháp này đã dẫn đến thất nghiệp cao và lạm phát thì
giảm. Nhng trong thành công lại có hạt giống của thất bại. Bằng cách bảo đảm một
thời kỳ nhiều công ăn việc làm và tăng trởng nhanh, nhiều nớc đã vô tình nuôi dỡng
một nền kinh tế trong đó nhân dân bắt đầu cho rằng phồn vinh là lẽ đơng nhiên.
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
Nhiều nớc đảm bảo cho công nhân và ngời hởng thu nhập định kỳ mức sống trong
điều kiện thời tiết xấu nh mức sống chỉ có thể có đợc với thời tiết tốt. Trong các hệ
thống giá cả, tiền lơng và hỗ trợ thu nhập có những điểm cứng nhắc. Khi những rối
loạn của những năm 1970 xảy ra sau hai lần tăng mạnh giá dầu lửa, mất mùa ngô,
trục trặc trong hệ thống tài chính quốc tế-ngời ta đã không giữ đợc lời hứa. Trong
sự phát triển của mỗi quốc gia, không có một nền kinh tế ở quốc gia nào đều luôn
ổn định mà nó luôn có sự biến động. Có những thời kỳ nền kinh tế cực kỳ phồn
thịnh nhng cũng có lúc nền kinh tế nằm trong vùng đại suy thoái do nhiều nguyên
nhân: do lạm phát cao, những thay đổi của nền kinh tế thế giới Do đó chính phủ
góp phần làm cho nền kinh tế dần dần ổn định bằng cách đa ra những chính sách
hợp lý. Các mục tiêu của đời sống kinh tế vĩ mô không phải là vấn đề để bàn cãi
gay gắt nữa. Nhng các nớc có thể đạt đợc các mục tiêu đó một tốt nhất nh thế nào?
Một nớc muốn cải tiến thành tựu của mình có thể có những sự lựa chọn gì? Trả lời
cho câu hỏi này nằm một phần trong các công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô .
Cơ chế quản lý kinh tế bao gồm hai nhóm yếu tố: Cơ chế thị trờng-nhóm yếu tố
chịu sự chi phối của bàn tay vô hình tức các quy luật kinh tế thị trờng . Nhóm
yếu tố này mang tính chất tự điều chỉnh. Nhóm hai là sự quản lý của chính phủ ở
tầm vĩ mô, nhóm này gắn liền với bàn tay hữu hình , tức các công cụ quản lý của
nhà nớc nh: pháp luật, chính sách, kế hoạch Nh vậy không thể điều tiết sự vận
động của nền kinh tế thị trờng khi chỉ có một trong hai yếu tố trên, điều đó giống
nh ngời ta định vỗ tay bằng một tay
Tóm lại, chính phủ có vai trò thúc đẩy nền kinh tế hớng tới sự công bằng, hiệu
quả và ổn định. Tuy nhiên chính phủ không thể hô hào nhân dân là phải làm thế
này hay thế kia thì mới đạt đợc hiệu quả mà chính phủ phải sử dụng các công cụ
của kinh tế vĩ mô đang có trong tay một cách hữu hiệu nhất để thực hiện vai trò
không thể thiếu đợc đối với nền kinh tế đất nớc .
3.Các công cụ điều tiết của chính phủ :
Trong nhiều trờng hợp chính phủ không thể ngồi chờ cơ chế tự ổn định của
kinh tế thị trờng đợc mà phải nhanh chóng, trực tiếp sử dụng các cộng cụ của kinh
tế vĩ mô để điều tiết nền kinh tế. Một công cụ chính sách là một biến số kinh tế
chịu sự quản lý trực tiếp hay gián tiếp của chính phủ , thay đổi công cụ chính sách
này sẽ có tác động đến một hoặc nhiều mục tiêu kinh tế vĩ mô .
a.Hệ thống luật pháp :
Nó là hành lang an toàn cho các hoạt động kinh tế, đến mọi thành phần kinh
tế nhằm tạo ra sự yên tâm cho các nhà đầu t đồng thời đảm bảo trật tự kinh tế
cũng nh đảm bảo trật tự xã hội để nền kinh tế phát triển một cách lành mạnh. Bằng
cách đa ra các đạo luật, chính phủ đã buộc mọi ngời dân hay mọi tổ chức kinh tế
phải tuân theo. Hệ thống luật pháp xuyên suốt quá trình phát triển của xã hội và
trong các hoạt động kinh tế. Nó đa xã hội nói chung và nền kinh tế nói riêng vào
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
khuôn khổ theo ý muốn chủ quan của chính phủ. Hệ thống luật pháp ở mỗi nớc là
có thể khác nhau và có thể sửa đổi, bổ sung ở mọi thời điểm để phù hợp với từng
giai đoạn của mỗi nớc.
b. Chính sách tài khoá:
Chính sách tài khoá bao gồm chi tiêu của chính phủ và thuế.
. Chi tiêu của chính phủ:
Các chính phủ không thể không chi tiêu bởi vì để tạo hiệu quả cho nền kinh tế
thì chính phủ phải bỏ tiền ra để xây dựng đờng xá, các ngành công nghiệp quan
trọng nh điện , đồng thời phải chi trả lơng cho cán bộ viên chức, quân đội. cảnh
sát, trợ cấp Chi tiêu của chính phủ cũng tơng tự nh việc đầu t của các doanh
nhgiệp nhng khác ở chỗ là chính phủ không thu đợc lợi nhuận trong cuộc đầu t này.
Nhng bù lại nó nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, làm cho xã hội có sự công bằng
hơn. Bởi vì chi tiêu của chính phủ là một bộ phận của tổng cầu do đó nó làm cho
tổng sản phẩm quốc dân thay đổi. Trong trờng hợp sản lợng của nền kinh tế còn dới
mức sản lợnh tiềm năng thì chính phủ tăng cờng chi tiêu đẻ làm tăng tổnh cầu từ đó
làm cho sản lợng tiến gần sản lợng tiềm năng. Trong trờng hợp ngợc lại, sản lợng v-
ợt qua sản lợng tiềm năng hay trong thời kì lạm phát cao, chính phủ cắt giảm chi
tiêu của mình để cùng với các công cụ vĩ mô khác làm giảm lạm phát. Điều đó
chứng tỏ chính phủ không thể chi tiêu một cách lãng phí nguồn ngân sách mà vấn
đề là chi tiêu thế nào cho hợp lí trong từng thời kỳ. Bên cạnh đó, chính phủ cần phải
kiểm soát chặt chẽ nhu cầu chi tiêu của mình để hạn chế tối đa việc thâm hụt ngân
sách. Trong trờng hợp thiếu hụt ngân sách chính phủ phải vay tiền dân chúng hoặc
vay nớc ngoài để bù đắp ngân sách.
Tóm lại, tất cả các chính phủ ở các quốc gia đều phải chi tiêu nhng không phải
tự nhiên có tiền để chi tiêu mà phải có nguồn thu. Nguồn thu chủ yếu của ngân
sách nhà nớc là thuế, còn các nguồn thu khác là không đáng kể.
.Thuế khoá :
Thuế khoá là khoản đóng góp mang tính pháp lệnh mà nhà nớc bắt buộc mỗi
công dân và các tổ chức kinh tế phải nộp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính
phủ. Tất cả các quốc gia đều quy định mức thuế suất với mỗi loại thuế và buộc mọi
ngời phải tuân theo. Các loại thuế đều làm giảm thu nhập của ngời dân dẫn tới mức
chi tiêu cho tiêu dùng của các hộ gia đình giảm. Thuế còn ảnh hởng đến việc đầu t
của mỗi doanh nghiệp, nếu thuế cao sẽ không khuyến khích đầu t, việc giảm các
sắc thuế đánh vào các khoản bổ sung cho đầu t hoặc kinh doanh máy móc thiết bị
mới sẽ kích thích đầu t ở nhiều ngành từ đó làm tăng nguồn vốn của nền kinh tế
dẫn đến GDP sẽ tăng lên trong tơng lai. Ngoài ra, thuế còn ảnh hởng đến việc xuất-
nhập khẩu ở mỗi nớc. Nếu các sắc thuế đánh vào các mặt hàng nhập khẩu cao thì sẽ
hạn chế đợc việc nhập khẩu các mặt hàng đó, tơng tự đối với xuất khẩu, từ đó chính
phủ điều tiết đợc lợng hàng hoá nội địa và nhập ngoại. Nh vậy, khi chính phủ muốn
bảo hộ một loại mặt hàng nào đó ở trong nớc thì chỉ cần tăng thuế xuất-nhập khẩu
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
của mặt hàng đó lên cao đến mức các doanh nghiệp không muốn nhập khẩu loại
mặt hàng đó nữa.
Nh vậy, để ổn định sản lợng gần với sản lợng tiềm năng thì chính phủ có thể sử
dụng chính sách tài khoá bằng cách: Nếu các bộ phận của tổng cầu hạ thấp một
cách không bình thờng thì chính phủ phải kích thích nhu cầu bằng cách giảm thuế
hoặc tăng chi tiêu hoặc là kết hợp cả hai cách. Trong trờng hợp các bộ phận của
tổng cầu cao hơn mức bình thờng thì chính phủ có thể tăng thuế hoặc giảm chi tiêu
hoặc kết hợp cả hai cách.
c. Chính sách tiền tệ:
Chính sách tiền tệ là một cônh cụ kinh tế vĩ mô đợc dùng tơng đối phổ biến của
chính phủ. Chính sách tiền tệ chủ yếu tác động đến đầu t t nhân, hớng nền kinh tế
vào mức sản lợng và việc làm mong muốn.
Chính sách tiền tệ có hai công cụ chủ yếu là lợng cung về tiền và lãi suất. Thực
chất của chính sách tiền tệ là chính phủ thông qua ngân hàng trung ơng kiểm soát
việc cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế. Ngân hàng trung ơng kiểm soát bằng cách
tăng hoặc giảm lợng cung ứng tiền trong lu thông thông qua lãi suất hoặc chứng
khoán Thông thờng trong những thời kỳ lạm phát cao, ngân hàng trung ơng nâng
lãi suất lên cao (chính sách thắt chặt tiền tệ)để thu hút một khối lợng lớn tiền vào
ngân hàng làm cholợng tiền trong lu thông giảm. Hay trong thời kỳ nới lỏng tiền
tệ,ngân hàng trung ơng giảm lãi suất hay mua chứng khoán của dân chúng để tăng
khối lợng tiền trong lu thông. Nh vậy, bằng cách thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ sẽ
làm ảnh hởng đến đầu t,từ đó sẽ ảnh hởng đến toàn bộ nền kinh tế. Bởi vì, tuy chính
sách tiền tệ có tác động quan trọng đến tổng sản phẩm quốc dân (GNP) thực tế về
mặt ngắn hạn. Song do tác động đến đầu t, nên nó cũng có ảnh hởng lớn đến tổng
sản phẩm quốc dân tiềm năng về mặt dài hạn.
d. Chính sách thu nhập:
Chính sách thu nhập bao gồm hàng loạt các công cụ mà chính phủ sử dụng
nhằm tác động trực tiếp đến tiền công, giá cả để kìm chế lạm pháp.
Chính sách này bao gồm nhiều biện pháp cứng rắn nh:đồng lơng,đồng giá;
những quy tắc pháp lý ràng buộc sự thay đổi giá-lơng-tiền , đến các biện pháp linh
hoạt nh: việc hớng dẫn, khuyến khích bằng thuế thu nhập
Chính sách thu nhập chỉ đặc biệt có ý nghĩa trong thời kỳ lạm phát cao. Thực
chất của chính sách thu nhập là chính sách về giá-lơng-tiền. Trong thời kỳ lạm phát
cao chính phủ thực hiện chính sách đônh giá và đông tiền lơng, tức là cố định giá
cả và tiền công trong một thời gian nhất định nhằm giảm bớt lợng tiền.
e. Chính sách kinh tế đối ngoại:
Trong nền kinh tế mở cửa thì không thể không có chính sách kinh tế đối ngoại
để sự trao đổi mua bán giữa các nớc đợc thuận lợi. Chính sách kinh tế đối ngoại bao
gồm nhiều loại công cụ nh: quản lý tỷ giá hối đoái, chính sách ngoại thơng, trợ giá,
hàng rào thuế quan, hạn nghạch. Việc tác động đến hàng hoá xuất-nhập khẩu vào
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
giá cả hàng hoá đó đều thông qua các công cụ này.Chẳng hạn nh để khuyến khích
xuất khẩu thì chính phủ có thể tác động đến tỷ giá bằng cách hạ thấp tỷ giá xuống
làm cho giá ngoại tệ giảm,điều đó là rất thuận lợi cho xuất khẩu, hoặc có thể tác
động bằng cách hạ thuế suất các mặt hàng xuất khẩu, hoặc trợ giá làm cho chi phí
xuất khẩu hạ xuống từ đó làm giá thành hạ tạo điều kiện thuận lợi cho việc cạnh
tranh với các hãng sản xuất cùng loại mặt hàng ở các nớc khác. Nh vậy, những biện
pháp này nhằm duy trì sự cân bằng trên thị trờng ngoại hối và giữ cho xuất-nhập
khẩu theo nh mong muốn của chính phủ .
Tóm lại, đây là các công cụ kinh tế vĩ mô chủ yếu của chính phủ, ngoài ra
còn có các công cụ khác nh các kế hoạch, các chơng trình phát triển Việc sử dụng
các công cụ kinh tế vĩ mô này trong từng thời kỳ hay ở mỗi quốc gia là không
giống nhau. Vì vậy, khi sử dụng chúng cần phải xem xét điều kiện, hoàn cảnh cụ
thể ở quốc gia mình .
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
Phần II
Cụ thể hoá vị trí kinh tế của Chính phủ ở nớc Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc.
I- vị trí của Chính phủ Việt Nam trong cơ chế quản lý
quốc gia.
1. Nhà nớc.
Hệ thống chính trị của Việt Nam thay đổi đáng kể nhằm hỗ trợ cho chế
độ pháp quyền cũng nh tăng cờng tính đại diện và trách nhiệm giải trình. Về
nguyên tắc, Việt Nam có một cơ cấu quản lý quốc gia mang tính thống nhất
trong đó quyền lực chính trị tập trung vào Quốc hội và một hệ thống chính trị
một đảng. Hiến pháp năm 1992 chỉ rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lợng
lãnh đạo Nhà nớc xã hội (điều 4). Hiến pháp năm 1992 cũng quy định Quốc
hội là cơ quan quyền lực cao nhất đại diện cho nhân dân. Quốc hội cũng là cơ
quan lập pháp cao nhất và thực hiện quyền kiểm soát tối cao đối với tất cả
mọi hoạt động của Nhà nớc. Tất cả các cơ quan Nhà nớc nh Chính phủ, Toà án
nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đều chịu trách nhiệm trớc
Quốc hội và đợc Quốc hội uỷ quyền. Chính phủ là cơ quan hành pháp của
Quốc hội và cũng là cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nớc.
Hiện nay vẫn còn tồn tại những thách thức tơng đối lớn trên con đờng
tiến tới cơ chế thị trờng ở mức độ cao hơn trên phơng diện tạo ra sự nhất trí rõ
ràng hơn về hớng đi và tốc độ của cải cách cũng nh năng lực của các cơ quan
Chính phủ và của cán bộ để thực hiện có hiệu quả cải cách. Chính phủ đang cố
gắng bảo đảm sự cân bằng giữa lý tởng xã hội chủ nghĩa về một sự công bằng
cho tất cả mọi ngời mà điều đó cần sự can thiệp nhiều hơn của Nhà nớc với
t cách là ngời bảo vệ quyền lợi của nhân dân với nhng đòi hỏi mang tính thực
dụng của nền kinh tế hớng theo thị trờng mà ở đó các quy luật thị trờng sẽ
điều hành nền kinh tế còn Nhà nớc có xu hớng chỉ tập trung vào khuôn khổ
chính sách, các chiến lợc chung, bảo đảm thuận lợi cho phát triển và làm
nhiệm vụ giám sát. Hiện vẫn còn cha có sự phân biệt rõ ràng giữa chức năng
cầm lái (can thiệp thông qua chính sách) và chức năng chèo thuyền (can
thiệp trực tiếp bằng hành động) trong vai trò của Nhà nớc. Tuy nhiên, để các
lực lợng sản xuất đợc huy động tốt hơn và việc phân bổ các nguồn lực hợp lý
hơn, điều quan trọng là vai trò can thiệp trực tiếp của Nhà nớc vào nền kinh tế
phải tiếp tục giảm bớt và tăng cờng hơn nữa vai trò hoạch định chính sách và
xây dựng khuôn khổ pháp lý của Nhà nớc . Mặc dụ đã liên tục đạt đợc tiến bộ
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
trong việc sửa đổi các bộ luật cũ và soạn thảo các bộ luật mới, song Việt Nam
vẫn cần phải xây dựng một khuôn khổ pháp lý toàn diện hơn, rõ ràng và thuận
lợi nhằm tạo cơ sở cho sự ra đời và phát triển của một khu vực t nhân và một
xã hội dân sự lành mạnh để cuối cùng có thể chia sẻ trách nhiệm với Chính
phủ, ở mức độ tiin cậy cao, đối với sự nghiệp phát triển của đất nớc.
Chính phủ đã nhận thức đợc các vấn đề nh tham nhũng, lạm dụng chức
quyền và nhu cầu tôn trọng cácc quyền công dân và đòi hỏi giải quyết các
vấn đề này một cách toàn diện trong khuôn khổ của quá trình cải cách. Tham
nhũng phần nào đó là kết quả của việc trả lơng cha gắn với kết quả làm việc
cũng nh của việc bố trí công tác. Chính phủ đã bắt tay vào giải quyết các vấn
đề này. Ngoài ra còn có một số thách thức khác nh tăng cờng tính công khai
minh bạch và nâng cao nhận thức của quần chúng về công tác chính trị cũng
nh khuyến khích họ tham gia vào công tác này.
Mặc dù có nhiều bộ luật đã đợc ban hành song trong nhiều trờng hợp
việc thực hiện có hiệu quả và nhất quán vẫn còn hạn chế. Có những vấn đề
nảy sinh trong quá trình xây dựng các quy định thi hành luật cũng nh trong
quá trình triển khai thi hành trên thực tế. Việc khuyến khích tăng cờng tham
khảo các cơ quan có liên quan ở bên ngoài trong quá trình phân tích chính
sách và luật pháp có thể nâng cao tính công khai minh bạch của quá trình này
cũng nh đảm bảo sự tham gia đóng góp của nhiều đối tợng hơn. Điều đó còn
tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện và chấp hành tốt những bộ luật sau
khi ban hành.
Để tăng cờng tính công khai minh bạch và khả năng tiếp cận của luật
pháp. Chính phủ đã thể hiện mong muốn đẩy mạnh hơn nữa công tác phổ biến
và tuyên truyền về hệ thống pháp lý cũng nh khuyến khích sự tham gia của
quần chúng. Để thực hiện điều đó, các kỳ hợp Quốc hội giờ đây đã đợc truyền
hình hai chỉ thị về phổ biến luật pháp và Luật Khiếu nại Tố cáo đã đợc ban
hành năm 1998; và các chơng trình hỗ trợ pháp lý ở cấp cộng đồng đã đợc xây
dựng. Tuy nhiên, vẫn cần phải tăng cờng mạng lới thông tin và hệ thống tuyên
truyền phổ biến về pháp luật cũng nh đảm bảo mở rộng các mạng lới và hệ
thống này tới những nơi xa xôi nhất.
Việc chia sẽ những thông tin tin cậy, dễ hiểu và hữu dụng trong các tầng
lớp xã hội là đặc biệt quan trọng đối với sự tham gia tích cực của nhân dân.
Việc này không chỉ giới hạn trong việc phổ biến và tuyên truyền pháp luật mà
còn cần mở rộng sang các lĩnh vực thông tin khác. Việc công bố ngân sách
năm 1999 là một bớc quan trọng hớng tới sự chia sẽ thông tin. Tuy nhiên, vẫn
còn nhiều việc phải làm. Tăng cờng và huấn luyện ngời dân tham gia sẽ làm
cho các cuộc thảo luận chính sách trở nên có ý nghĩa hơn. Đến lợt mình, việc
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
thảo luận chính sách đợc cải thiện sẽ làm cho quá trình ra quyết định và bản
thân quyết định tốt hơn. Nh vậy tăng cờng chất lợng chia sẻ thông tin sẽ đẩy
mạnh hơn nữa tính công khai minh bạch, cho phép mọi tác nhân trở nên có
trách nhiệm và trách nhiệm giải trình cao hơn trong công tác quản lý Nhà nớc
và quản lý phát triển ở Việt Nam. Trong quá trình chia sẻ thông tin, các phơng
tiện thông tin đại chúng phải đảm bảo rằng họ vơn tới đợc những bộ phận dân
c xa xôi nhất. Họ phải thực sự là kênh truyền thông tin qua lại một cách hiệu
quả giữa công dân và các cơ qua Nhà nớc.
Chính quyền địa phơng không thể thực hiện bất cứ một chức năng quản
lý hành chính nào nếu những trách nhiệm đó không đợc quy định cụ thể rõ
ràng trong luật pháp quốc gia. Trên tinh thần đó, tiếp theo những qui định của
hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Nhân dân
(năm 1994) và Pháp lệnh về Nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Hội đồng
Nhân dân và Uỷ ban Nhân dân các cấp (1996) đã đợc ban hành nhằm tạo ra
khuôn khổ pháp lý cơ bản cho tổ chức và hoạt động của chính quyền địa ph-
ơng. Luật Ngân sách (1996, 1998) đã chính thức phân cấp quản lý tài chính
giữa các cấp chính quyền, giao những trách nhiệm quan trọng về quản lý ngân
sách cho chính quyền địa phơng, đặc biệt là cấp tỉnh.
Quan hệ giữa các cấp chính quyền mang tính phức tạp ở nhiều khía cạnh.
Thứ nhất, Hội đồng Nhân dân ở tất cả các cấp chịu sự giám sát và chỉ đạo của
Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội và Chính phủ . Thứ hai, Uỷ ban Nhân dân chịu
trách nhiệm trớc Hội đồng Nhân dân cùng cấp cũng nh trớc cơ quan hành
pháp ở cấp cao hơn (có thể là Uỷ ban Nhân dân cấp cao hơn hoặc Chính phủ,
tuỳ theo cấp của Uỷ ban Nhân dân đó). Thứ ba, một số Bộ có cơ quan chi
nhánh đặt ở mỗi địa phơng. Những cơ quan này vừa chịu sự quản lý hành
chính của Uỷ ban nhân dân địa phơng lại vừa chịu sự quản lý về chức năng
chuyên môn của cơ quan cấp cao hơn trực thuộc Bộ chủ quản. Thứ t, hầu hết
các nguồn thu từ thuế thuộc quyền quản lý của Chính phủ Trung ơng. Chính
quyền địa phơng, về lý thuyết, đợc phân bổ các nguồn thu theo chỉ tiêu do
Trung ơng quy định. Tuy nhiên, trên thực tế, việc phân bổ các nguồn thu và
các khoản chi ở địa phơng không phải đợc quyết định một cách nghiêm ngặt
từ trung ơng mà thờng đợc quyết định sau một loạt cuộc đàm phán giữa các
cấp chính quyền.
Cải cách hành chính.
Trên tinh thần thể chế hoá công tác quản lý quốc gia nhằm đảm bảo tính
giải trình trong các chi tiêu công cộng, cải cách hành chính là cần thiết nhằm
cải thiện việc cung cấp các dịch vụ công cộng của các cơ quan Nhà nớc thuộc
tất cả các cấp chính quyền. Cải cách hành chính bao gồm tổ chức lại quá trình
làm việc, nâng cao năng lực công chức để có tính chuyên môn cao hơn, các
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
dịch vụ công cộng có tính hớng đích cao hơn với qui trình làm việc đơn giản
hơn và minh bạch hơn; hiệu quả hơn về chi phí và mang tính phục vụ cao hơn.
Chơng trình cải cách hành chính của Chính phủ đợc công bố vào tháng 3 năm
1995 và tập trung vào 3 lĩnh vực: cải cách về thể chế, cải cách bộ máy Nhà n-
ớc và cải cách ngành công chức. Báo cáo mới đây của Chính phủ về công tác
cải cách hành chính có đoạn viết: Nhiệm vụ cần đợc u tiên trong công tác cải
cách hành chính là tập trung lại tất cả mọi nhiệm vụ xây dựng quy chế và
phân cấp quyết định về các lĩnh vực kinh tế, xã hội cho chính quyền địa ph-
ơng (Ban TCCB Chính phủ, 1998). Cải cách hành chính đã đợc đa lên hàng
đầu trong chơng trình cải cách của Chính phủ và tất cả các Bộ cũng nh các
tỉnh đã thành lập Ban Cải cách hành chính của riêng mình. Vào cuối năm
1998, Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, do Thủ tớng Chính phủ
làm Trởng ban, đợc thiết lập để hớng dẫn và giám sát các hoạt động trong lĩnh
vực này. Ban tổ chức cán bộ Chính phủ đóng vai trò Uỷ viên thờng trực của
Ban Chỉ đạo và đợc phân công là cơ quan đầu mối về cải cách hành chính của
Chính phủ. Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ơng Đảng Cộng sản Việt
Nam tháng 8 năm 1999 đã kết luận về nhu cầu cấp bách xem xét và thay đổi
chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu của các cơ quan Chính phủ, các ban ngành
cấp tỉnh, xoá bỏ một cách hợp lý một số cấp trong Chính phủ .
Công tác cải cách hành chính đã đạt đợc những tiến bộ đáng lu ý. Nhiều
bộ luật cũng nh pháp lệnh đã đợc Quốc hội thông qua và triển khai thực hiện.
Các văn bản pháp quy đã đợc rà soát lại và điều chỉnh sao cho dễ hiểu và đảm
bảo tính nhất quán. Các thủ tục hành chính đã đợc hợp lý hoá, đơn giản hoá và
phổ biến. Cơ chế một cửa, một con dấu đã đợc áp dụng ở một số tỉnh và
thành phố. Chính phủ đã yêu cầu quần chúng nhân dân và giới kinh doanh
đóng góp ý kiến để tiếp tục cải tiến về mặt hành chính. Toà án hành chính đã
đợc thiết lập. Năm 1995, các Bộ đã giảm từ 27 xuống còn 22 và hiện nay có
kế hoạch tiếp tục giảm nữa. Việc giảm nhẹ bộ máy hành chính cũng nh đợc
thực hiện ở cấp địa phơng. Ngoài ra, một số tổng công ty đã đợc thiết lập để
đảm nhận hầu hết nhiệm vụ quản lý những doanh nghiệp Nhà nớc chủ chốt
mà trớc đây là trách nhiệm của các Bộ chủ quản để các Bộ này có thể tập
trung thực hiện chức năng quản lý về mặt chính sách của mình. Tuy nhiên, sức
mạnh độc quyền tiềm tàng và tính kém hiệu quả của các doanh nghiệp đang
tạo ra những vấn đề cho chính họ. Nhà nớc đã ban hành quy chế về Công
chức, hiện đang tiến hành hiện đại hoá công nghệ thông tin ở các cơ quan Nhà
nớc cũng nh đã tiến hành các hoạt động đào tạo nhằm xây dựng năng lực.
Mặc dù đã đạt đợc kết quả đáng kể về một số lĩnh vực trong công tác cải
cách hành chính, song một trong những khó khăn chính cản trở việc thực hiện
trọn vẹn công cuộc cải cách này là cho đến nay vẫn cha có một cách nhìn toàn
diện và một chiến lợc cải cách hành chính tổng thể xác định rõ các bớc cần
Tiểu luận kinh tế vĩ mô
tiến hành để đổi mới vài trò của Chính phủ trong nền kinh tế hớng hơn về thị
trờng. Hậu quả là tạo ra khoảng cách giữa công tác xây dựng chính sách và
thực hiện chính sách về cải cách hành chính. Vấn đề này đã trở nên tồi tệ hơn
bởi năng lực thực hiện còn yếu kém. Chính vì cha có một chiến lợc cải cách
hành chính rõ ràng nên mức độ nhất trí và quyết tâm thực hiện cong cuộc cải
cách này còn thấp và đã taọ điều kiện thuận lợi để cho những cơ chế không
chính thức tồn tại song song với những cơ chế chính thức gây ảnh hởng xấu
tới việc thực hiện mục tiêu cải cách.
Một khó khăn nữa là trong nhiều trờng hợp các cán bộ công chức còn
thiếu những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết cho việc thực hiện cải cách
hành chính một cách hiệu quả. Thiếu động cơ và hiệu quả trong công việc;
thiếu tinh thần thái độ phục vụ cũng là những vấn đề tồn tại. Những vấn đề
này cùng với việc không thực hiện nghiêm chỉnh những chính sách đổi mới
một phần xuất phát từ lý do thu nhập và lợi ích thấp. Chính phủ đã coi việc trả
lơng theo kết quả công tác nh một công cụ quản lý tốt, tuy nhiên việc đa công
cụ đó vào trong kế hoạch quản lý nguồn nhân lực sẽ là một phần trong cuộc
thảo luận của Chính phủ tiếp theo Hội nghị TƯ 7 bàn về cơ cấu tiền lơng và
chính sách công chức.
2. Khu vực t nhân.
Không có nớc nào trên thế giới có thể phát triển thành công mà không
cần đến một khu vực t nhân khoẻ khoắn và năng động nh là động lực chính tạo
ra công ăn việc làm, thu nhập, tiết kiệm trong nớc, đầu t và tăng trởng. Khu
vực t nhân, bao gồm cả nông nghiệp, chiếm khoảng 60% GDP, chủ yếu tập
trung vào các khu vực tạo ra giá trị gia tăng thấp với thu nhập thấp. Kết quả là
GDP chung của Việt Nam thấp với giá trị khoảng 352 đô la Mỹ trên đầu ngời
một năm. (Thậm chí nếu dùng cách tính thu nhập bằng đồng đô la ngang bằng
sức mua thì Việt Nam vẫn xếp thứ 133 trong 174 nớc về thu nhập bình quân
đầu ngời). Xuất phát từ những tiến bộ trong những năm gần đây cho thấy việc
tạo điều kiện để khu vực t nhân tham gia nhiều hơn vào quá trình phát triển
mở ra một số triển vọng rất lớn cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững.
Hiện đã có một khu vực t nhân trong nớc làm về chế tạo tuy còn nhỏ nhng
đang lớn dần lên. Tuy nhiên, khu vực này đang bị hạn chế vì không tiếp cận đ-
ợc với nguồn vốn cả trong lẫn ngoài nớc, vì một môi trờng pháp lý cha phát
triển và nhiều biến động, vì rủi ro cao và không ổn định của môi trờng đầu t.
Những thay đổi về chính sách và thể chế kể từ khi công cuộc đổi mới đợc phát
động vào năm 1986 và sự tăng trởng mạnh của nền kinh tế và đi kèm với nó là
thu nhập vào những năm 90 đã dần dần cải thiện phạm vi phát triển của khu
vực t nhân vào lĩnh vực xuất khẩu có giá trị gia tăng cao. Khu vực t nhân đã
chiếm 98% giá trị gia tăng trong nông nghiệp và khoảng 70% giá trị gia tăng
trong ngành dịch vụ (không kể các dịch vụ quản lý hành chính, y tế và giáo
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét