Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

vấn đề ẩm thực dưới góc nhìn văn hóa trong sáng tác của thạch lam, nguyễn tuân, vũ bằng


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "vấn đề ẩm thực dưới góc nhìn văn hóa trong sáng tác của thạch lam, nguyễn tuân, vũ bằng": http://123doc.vn/document/1052445-van-de-am-thuc-duoi-goc-nhin-van-hoa-trong-sang-tac-cua-thach-lam-nguyen-tuan-vu-bang.htm


3
mảng văn ẩm thực của ba nhà văn trên vẫn đang còn bỏ ngỏ, chưa thu hút các nhà
phê bình quan tâm.Vì thế, có thể nói, chưa có một công trình khoa học cụ thể nào đi
sâu tìm hiểu vấn đề này một cách cặn kẽ, chi tiết, có chăng chỉ là những bài giới
thiệu thay lời tựa cho các tập kí, hay những bài viết riêng lẻ chưa thành hệ
thống…Dù vậy, luận văn vẫn ghi nhận các bài viết, các ý kiến nghiêng về gi
ới thiệu
hay cảm nhận liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu của mình. Cụ thể là các
bài viết sau:
3.1. Trước năm 1945
Năm 1937, khi tập truyện ngắn Gió đầu mùa xuất bản, sáng tác của Thạch
Lam được Khái Hưng đánh giá cao. Khái Hưng, người đầu tiên, nhận ra Thạch Lam
là nhà văn của cảm giác. Phát hiện của Khái Hưng đã được các nhà phê bình ủng hộ
và coi như đó là phong cách c
ủa Thạch Lam. Đến năm 1943, khi viết lời Tựa cho
tập tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường chính Khái Hưng cũng là người đầu tiên
phát hiện “Thạch Lam thực sự là một nghệ sĩ, một thi sĩ về khoa thẩm vị”
Cũng trong năm 1943, nhà thơ Thế Lữ đã hoài niệm về bạn, nhắc lại cái
“lòng quê hương” trong sáng tác của Thạch Lam. Theo Thế Lữ, với Th
ạch Lam
“văn chính là người”.
Cũng vào thời kỳ này, Nguyễn Tuân được chú ý bởi tập tùy bút Vang bóng
một thời. Vũ Ngọc Phan là người nghiên cứu Nguyễn Tuân kỹ hơn cả. Nhà nghiên
cứu này đánh giá cao tính chất “đặc Việt Nam” cùng với lối hành văn “có duyên”
của Nguyễn Tuân.
Năm 1940, khi Đọc “Vang bóng một thời”, Thạch Lam ngợi khen Nguyễn
Tuân là một nhà văn có tài đặc biệt. Ông khẳng
định Nguyễn Tuân là người đầu tiên
tìm ra cái đẹp trong quá khứ, biết kính trọng và yêu mến cái đẹp. Vì thế, khi đọc tập
tùy bút, tác giả Hà Nội băm sáu phố phường phát hiện “cái thú uống trà của các cụ
ngày xưa mang đậm chất văn hóa, không phải chỉ một cử chỉ ăn uống bình thường,
nhưng là một hành vi đặc biệt, có lễ nghi và nhịp điệu rõ ràng, phảng phất giống
tụ
c uống trà của người Nhật” [42, tr.229].
4
Cùng với việc ngợi ca, Thạch Lam cũng nhận ra ở tác giả này tật tham lam
“muốn nói hết những cái mình biết”, và nhà văn mong muốn “tác giả Vang bóng
một thời đến một sự giản dị, sáng sủa hơn nữa, cố tránh những lối hành văn cầu kỳ
(…), kiểu cách.” [42, tr.230].
Thời kỳ này, Vũ Bằng sáng tác chủ yếu là tiểu thuyết. Có thể nói, Nhà văn
hiện đại
(1942) của Vũ Ngọc Phan là công trình đầu tiên tìm hiểu về Vũ Bằng.
Trong công trình nghiên cứu của mình, nhà văn Việt Nam hiện đại này đã ít nhiều
khẳng định chỗ đứng của Vũ Bằng trong nền văn học lúc bấy giờ. Những năm sau
đó Vũ Bằng được nhìn nhận như nhà viết tiểu thuyết tả chân, nổi bật ở lời văn dí
dỏm, hài hước.
3.2. Từ sau n
ăm 1945 đến 1975
Giai đoạn này việc nghiên cứu tác phẩm của Thạch Lam không nhiều nhưng
rải rác trên các tạp chí có đề cập đến vấn đề ẩm thực của Thạch Lam. Đáng chú ý là
những ý kiến của Nguyễn Tuân in trong Lời nói đầu Tuyển tập Thạch Lam (1957),
Nguyễn Tuân xem xét văn Thạch Lam với thái độ trân trọng và ông đã dành một
phần ca ngợi tập tùy bút Hà Nội băm sáu phố
phường, coi đó là “một tác phẩm
xinh gọn, duyên dáng để riêng ca ngợi những phong vị và sắc thái của thủ đô” [2,
tr.59].
Năm 1965, trong bài viết Thạch Lam in trong cuốn Việt Nam văn học sử
giản ước tân biên, Phạm Thế Ngũ cũng nhận ra sự tinh tế của Thạch Lam khi viết
về những ẩm thực: “Ông (Thạch Lam) tả những món ăn với với tấ
t cả thị giác, khứu
giác, vị giác, với tất cả tâm hồn mình nữa.” [42, tr.286].
Cũng trong năm ấy, trên tạp chí Văn số 36, Huyền Kiêu khẳng định “Thạch
Lam một người Việt Nam thành thực”. Vì thế, trước một món ăn Thạch Lam hay
“trầm ngâm suy nghĩ như về một áng văn tuyệt tác” [15, tr.422]. Còn Đinh Hùng
chia sẻ rằng “cái khiếu thưởng thức món ăn của Thạ
ch Lam rất tế nhị (…), thận
trọng và tinh vi trong việc từ lựa chọn miếng ăn, thức uống, từ món quà nhỏ mọn
hương vị quê mùa của đất nước (…).Thạch Lam ăn có nguyên tắc, uống có lập
trường, và phê bình vấn đề ăn uống với một quan niệm siêu đẳng”. Ngoài ra, tác giả
5
bài viết còn cho rằng Thạch Lam đã “nâng cao vấn đề ẩm thực lên thành một nghệ
thuật tinh vi” [15, tr.387-391].
Tháng 12/1971, trên tạp chí Giao Điểm, Vũ Bằng có kể chuyện về Thạch
Lam với thái độ đầy xúc động: “anh quý từ chén nước chè tươi nóng, trang trọng
đưa lên miệng uống gần như một cách thành kính, tiếc từ một cái kẹo vừng rơi
xuống đất, nhặt lên phủi bụi rồ
i cầm lấy ăn một cách chậm rãi như thể vừa nhai vừa
suy nghĩ vừa cảm ơn trời đã cho mình sống để thưởng thức một món ăn ngon lành
như vậy” [20, tr.363]. Vũ Bằng cũng kể thêm rằng Thạch Lam cũng rất trân trọng,
yêu mến những cô bán hàng, anh cẩn thận từng câu nói vì “sợ lỡ lời có câu gì không
chu đáo có thể làm cho người ta tủi thân mà buồn”. Vậy đấ
y, một Thạch Lam tinh
tế, yêu người như yêu mình và một Thạch Lam biết trân trọng, quý mến những giá
trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Còn Nguyễn Tuân, thời kỳ này, vẫn được một số nhà nghiên cứu, nhà văn ở
hai miền quan tâm. Ở miền Bắc, có nhiều tác giả viết về Nguyễn Tuân. Có người
viết một bài, có người viết nhiều bài. Có người dồn tâm lực nghiên cứu Nguyễn
Tuân, có ng
ười vẫn nghiên cứu Vang bóng một thời (Phan Cự Đệ, Trương Chính).
Tất cả các bài viết đều đề cập đến quan niệm về cái đẹp của nhà văn một cách gián
tiếp hoặc trực tiếp. Ngoài ra, có vài nhà phê bình, nhà văn quan tâm đến tùy bút Phở
của Nguyễn Tuân.
Đầu năm 1957, Nguyễn Tuân viết bài tùy bút Phở đăng trên tuần báo Văn.
Bài viết đã đã gây ra nhiều phản ứng khác nhau trong giới cầm bút.
Trong bài Tuần Báo Văn và con người thời đại in trong tạp chí Học tập thứ
7 (tháng 7/1957), Thế Toàn có cái nhìn hơi khắt khe khi phê phán quan điểm xa
lánh cuộc sống của Nguyễn Tuân. Ông cho rằng “con người trong thời đại chúng ta
không phải là con người xa lánh cuộc sống, ngồi một góc phố nào đó để phân tích
một món ăn, (Phở của Nguyễn Tuân) phát hiện ra nhiều vấn đề quá quan trọng như
xương với xẩu, nh
ư mũ phở” [45, tr.27-28].
Để đáp lại bài viết ấy, trên tuần báo Văn số 15/1957, nhà văn Nguyên Hồng
đã bác bỏ quan điểm của Thế Toàn: “Phở cũng là những sự việc, cũng là những suy
6
nghĩ, cũng là kiểu nói của Nguyễn nhưng cả một sự say sưa và niềm tin lấp loáng
trên trang giấy “hương vị phở…lành mạnh hơn” vì “tôi thấy Tổ quốc tôi còn có
phở nữa…”. “Tùy bút Phở - những dòng chữ để ca ngợi phong vị đất nước với một
điệu suy nghĩ và thể hiện đặc biệt của mình, Nguyễn Tuân viết như thế có phải là
“ngồi một góc phố
và phát hiện ra nhiều vấn đề quá quan trọng không?”). Chúng
tôi xin trả lời thẳng tạp chí Học tập nhận định như thế là không đúng” (Tuần báo
Văn số 20/1957, tr5) [45, tr.29].
Nguyễn Văn Bổng cũng không tán thành cách đánh giá của Thế Toàn. Ông
nhận thấy cuộc sống mới không chỉ có cống hiến mà con người cần phải biết hưởng
thụ, thưởng thức cái ngon, cái hay; con người còn phải làm cho cuộc sống tâm hồ
n
thêm phong phú: “Tùy bút Phở của Nguyễn Tuân không chỉ có xương với xẩu và mũ
phở… nhưng giá chỉ có chừng đó, chúng ta cũng không nên gạt ra khỏi con người
thời đại những lúc họ nghe gió, ngắm trăng hay những lúc họ biết ngồi ăn phở một
cách ngon lành. Trong đời sống chiến đấu và lao động, chúng ta muốn mọi người
đều có những giờ phút như thế, đôi lúc lại cần thiết gợ
i cho họ biết sống những giờ
phút như thế” (Tuần báo Văn số 20/1957). Theo Nguyễn Văn Bổng hạn chế của
Phở là ở chỗ “chưa lồng được “thực tế Phở” vào trong muôn vàn thực tế phong phú
của nhân dân Việt Nam, trong cái thực tế vĩ đại của dân tộc.” [45, tr.29].
Tế Hanh với bài Cùng đặt một số vấn đề cũng đồng tình với Nguyên Hồ
ng
và Nguyễn Văn Bổng: “Phở là một cách ca ngợi hương vị của đất nước.” (Tuần báo
Văn số 26 /1957).
Dù nhiều ý kiến khen chê khác nhau nhưng tựu trung lại, các nhà phê bình
vẫn đồng ý Phở là một tác phẩm phảng phất hương vị quê hương, mang đậm đà bản
sắc dân tộc. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà một nhà phê bình nước ngoài,
M.I.Linxki, khẳng định Nguyễn Tuân là người “biết rõ nhữ
ng phong tục tập quán,
những phương ngôn tục ngữ và truyền thuyết của Việt Nam” [45, tr.64].
Ở miền Nam, đánh giá về Nguyễn Tuân ít hơn nhưng hầu hết đều thể hiện sự
tri kỷ. Vũ Bằng trong hồi ký Bốn mươi năm nói láo, kể lại kỷ niệm của mình về
Nguyễn Tuân những ngày trước cách mạng tháng Tám. Qua đó, Vũ Bằng đã giúp
7
người đọc nhận ra cái “ngông” độc đáo kiểu “Nguyễn Tuân”. Với tấm lòng ưu ái,
Tạ Tỵ trong cuốn Mười khuôn mặt văn nghệ đã viết về Nguyễn Tuân bằng những
lời thật đẹp. Tạ Tỵ đặt cho Nguyễn Tuân danh hiệu “một văn tài lỗi lạc”.
Cái say mê ăn uống của Vũ Bằng đã đưa đến ba tác phẩm nghệ thuật: Miế
ng
ngon Hà Nội (1960), Món lạ miền Nam (1969) và Thương nhớ mười hai (1972).
Mỗi tác phẩm đều được viết một cách đặc biệt. Tác giả viết Miếng ngon Hà Nội bắt
đầu từ mùa thu năm 1952, rồi sửa chữa và viết thêm cho đến năm 1957 mới cho in,
song lại sửa thêm cho đến 1959- 1960. Thương nhớ mười hai còn dài hơn thế nữa.
Tác giả bắt đầu viết từ tháng giêng nă
m 1960, tiếp tục viết năm 1965, mãi tới 1971
mới xong.
Nhiều người cho rằng toàn bộ “anh hoa” (chữ dùng của nhà văn Tô Hoài)
của ngòi bút Vũ Bằng đều kết tinh ở mấy tập ký này. Quả thật, những tập ký ấy có
sức hấp dẫn, đặc biệt là tập Thương nhớ mười hai. Ngay cả người đọc khó tính
nhất cũng thừa nhận tác phẩm ấy đặc sắ
c trong nền văn học hiện đại Việt Nam.
Những năm 60, Vũ Bằng được nghiên cứu giới thiệu chủ yếu ở miền Nam với sự
chú trọng về cuộc đời và một số tác phẩm được xem là hay nhất. Tuy nhiên, số
lượng các bài nghiên cứu và các bài nghiên cứu dành cho ông vẫn chưa nhiều so với
các tác giả khác như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Nam Cao…Còn ở miền
Bắc, ông cũng như các sáng tác củ
a ông hầu như bị rơi vào quên lãng.
3.3. Sau năm 1975
Sau khi đất nước hòa bình, thống nhất, vấn đề ẩm thực được mọi người quan
tâm nhiều hơn. Những chuyện tưởng chừng như nhỏ nhặt ấy nhưng lại mang đậm
tính triết lý, chất nhân văn.
Nếu trước đây Thạch Lam chỉ được quan tâm bởi những tập truyện Gió đầu
mùa, Nắng trong vườn, Sợi tóc thì bây gi
ờ ông được chú ý hơn với tập tùy bút Hà
Nội băm sáu phố phường, một thiên tùy bút rất hay về ẩm thực Hà Nội. Đến với
Hà Nội băm sáu phố phường là đến với những thức quà Hà Nội, một trong những
yếu tố tạo nên phong vị dân tộc, bản sắc dân tộc.
8
Trong Lời giới thiệu Văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945, Nguyễn
Hoành Khung đáng giá cao Hà Nội băm sáu phố phường. Ông ngợi khen đây là
một thiên kí sự, khảo cứu đầy nghệ thuật “Ngòi bút thiên về cảm giác ấy được phát
huy bằng tấm lòng gắn bó sâu nặng với những phong vi đậm đà của quê hương đất
nước và thái độ trân trọng đối với những giá trị v
ăn hóa cổ truyền của dân tộc để
viết nên những trang thật tinh tế tài hoa.” [2, tr.200].
Trong bài viết Thạch Lam với Hà Nội băm sáu phố phường (hay Thạch
Lam nhà Hà Nội học), Nguyễn Vĩnh Phúc đánh giá cao khả năng quan sát tinh tế
của Thạch Lam khi nhận ra tác giả này “đã chép sử Hà Nội bằng cái nhìn và nhịp
cảm, cặp mắt và trái tim của người nghệ sĩ, của nhà thơ nặng tình với đấ
t văn vật
nghìn năm” [73, tr.640]. Qua đó, Nguyễn Vĩnh Phúc khẳng định lại ý mà Khái
Hưng đã nhận xét “Thạch Lam đúng là một nghệ sĩ về khoa thẩm vị, về nghệ thuật
ẩm thực - mà là của Hà Nội.” [73, tr.642].
Còn Vũ Tuấn Anh thấy được tâm hồn và tài năng văn chương của Thạch
Lam dường như đã hòa hợp để tạo nên “sự thanh tao và tinh tế
của văn hóa và tâm
hồn Hà Nội”.Thật vậy những món ăn Hà Nội tuy bình dân nhưng qua ngòi bút
Thạch Lam trở nên đầy màu sắc, mùi vị, cảm giác, mang đầy bản sắc văn hóa. Cuối
bài, tác giả quả quyết “Hà Nội băm sáu phố phường luôn đứng ở vị trí một trong
những tác phẩm đặc sắc nhất về Hà Nội.” [2, tr.468].
Với bài Thạch Lam người đi tìm cái
đẹp trong cuộc sống đời thường và
trong văn chương, Lê Dục Tú nâng thú ẩm thực trong sáng tác của Thạch Lam lên
một tầm cao. Nhà nghiên cứu khẳng định những món quà Hà Nội của Thạch Lam
mang đậm sắc thái và tâm hồn dân tộc, nó “không chỉ đơn thuần là một miếng ăn
thuần túy mà sâu hơn là những giá trị tinh thần, là những nét đẹp văn hóa, không
chỉ cho hiện tại mà còn lưu giữ đến muôn đời sau
” [2, tr.37]. “Các thức quà Hà Nội,
dưới ngòi bút Thạch Lam, sở dĩ đạt đến sự độc đáo một cách hoàn hảo, đạt đến tầm
cao của văn hóa ẩm thực bởi sự phối hợp từ hai phía: phía người làm ra nó và phía
người thưởng thức” [2, tr.39].
9
Cùng ý kiến với Lê Dục Tú, Lê Thị Đức Hạnh cũng ngợi ca thú ẩm thực của
tác giả Hà Nội băm sáu phố phường. Trong bài Màu sắc dân tộc trong sáng tác
của Thạch Lam, nhà phê bình nhận thấy “Thạch Lam thường trầm ngâm suy ngẫm
tỏ rõ một thái độ trân trọng, nâng niu những giá trị văn hóa tinh thần tiềm ẩn trong
sự sống hằng ngày” [2, tr.183]. Bên cạnh đó, ông còn “tạo cho nó (món ăn) một
h
ương vị riêng, một sức hấp dẫn riêng” [2, tr.185]. Thật vậy, dường như Thạch Lam
dành tình cảm cao nhất, thiêng liêng và thành kính nhất đối với quà đặc sản của dân
tộc, một biểu hiện của văn hóa Việt.
Năm 2000, trong luận án tiến sĩ Phong cách văn xuôi nghệ thuật Thạch
Lam, Nguyễn Thành Thi dành một phần nhỏ nghiên cứu về “quà Hà Nội” trong tùy
bút Hà Nội băm sáu phố phường. Tác giả
luận văn tỏ ra khá tâm đắc về vấn đề này
khi phân tích khá kỹ “nếp sinh hoạt và thú ẩm thực của người Hà Nội” và cuối cùng
ông khẳng định vẻ đẹp tập tùy bút và phong cách Thạch Lam: “Hà Nội băm sáu phố
phường mang vẻ đẹp riêng của thể tùy bút Thạch Lam xinh gọn, hồn nhiên, tươi tắn,
linh hoạt. Hà Nội băm sáu phố phường cũng bổ sung vào phong cách văn xuôi nghệ
thuật của ông một nét mới lạ: sự tươi tắn hồn nhiên bên cạnh sự mực thước, trầm
tĩnh, dịu nhẹ khoan hòa vốn có và vốn quen trong truyện ngắn và tiểu thuyết của
ông. Giọng văn có lúc thêm một chút hài hước và dí dỏm, thường là một chút hồn
nhiên tươi tắn” [62, tr.192].
Trong bài viết Thạch Lam với nét đẹp văn hóa đặc sắc trong Hà Nội băm
sáu phố phường (Tạp chí Công Nghi
ệp 4/2006), Lê Minh Truyên cũng thích thú tập
tùy bút, bởi theo ông, ở đó kết đọng những phẩm chất tốt đẹp của một thương hiệu,
là kết kinh những giá trị thư pháp, là truyền thống quí báu, là công sức của nhiều thế
hệ vun đắp mới có được và “Hà Nội băm sáu phố phường là tập tùy bút xuất sắc
của Thạch Lam”
Tóm lại, tất cả các nhà phê bình, nghiên cứu đều th
ống nhất cuốn Hà Nội
băm sáu phố phường luôn đứng ở vị trí một trong những tác phẩm đặc sắc nhất viết
về Hà Nội đặc biệt là ẩm thực Hà Nội.
10
Sau khi đất nước thống nhất, Nguyễn Tuân vẫn được các nhà nghiên cứu phê
bình quan tâm. Phong Lê trong bài Nguyễn Tuân trong tùy bút (1977) thấy trước
cách mạng Nguyễn Tuân có “ tinh thần dân tộc nhất định”, sau cách mạng tinh thần
đó được phát huy. Điều này cũng được Phan Cự Đệ, với tiểu luận Nguyễn Tuân (in
trong Nhà Văn Việt Nam 1945 – 1975, tập 2), đồng ý. Còn Nguyễn Đăng Mạnh
khẳng định, trước hay sau cách mạng, Nguyễn Tuân vẫn “
có thói quen nhìn sự vật ở
mặt mỹ thuật của nó”.
Dường như có ý so sánh với những tác phẩm viết về miếng ăn của Nam Cao,
Nguyễn Đăng Mạnh phát hiện ra nét độc đáo trong thú ẩm thực của Nguyễn Tuân:
“Nguyễn Tuân cũng viết rất hay về miếng ăn, nhưng lại có một cách tiếp cận riêng
không lẫn với ai. Đọc văn Nguyễn Tuân thấy con người trướ
c miếng ăn chẳng
những không hèn đi mà còn trở nên sang trọng hơn. Chẳng những không bị phàm
tục hóa mà còn trở nên có tư cách hơn, có văn hóa, có thẩm mỹ hơn, có tâm hồn
hơn” [40, tr.75]. Cũng trong bài viết này, Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định một cách
chắc chắn bản lĩnh nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân: “viết về phở, cốm, giò
lụa… mà thấy có một linh hồ
n đất nước và bút ký văn xuôi trở thành trữ tình”.
Trong bài viết Nguyễn Tuân và cái đẹp, Hà Văn Đức cũng nhận ra Nguyễn
Tuân “không tìm thấy cái đẹp hiện hữu trong cuộc đời thực, Nguyễn Tuân quay trở
về tìm kiếm nét đẹp xưa của một thời vang bóng. Ông ca ngợi lý tưởng hóa cuộc
sống của những ông Nghè, ông Cử…, hay miêu tả những thú vui uống trà, đánh thơ,
thả thơ với một cái nhìn thi vị
, đượm chất thơ.” [42, tr.181].
Còn Lê Quang Trang nhận xét khá chính xác “văn minh ẩm thực” trong sáng
tác của Nguyễn Tuân qua bài Cảnh sắc và hương vị đất nước trong văn Nguyễn
Tuân.Tác giả bài viết cho rằng, Nguyễn Tuân đã “nâng chuyện ăn uống lên như một
thú chơi nghệ thuật, một nét văn minh của tâm hồn dân tộc.” [42, tr.218].
Ngoài ra, còn nhiều bài viết đề cao quan niệm thẩm mỹ của nhà văn.
Nguyễ
n Tuân, nhà nghệ sĩ ngôn từ đưa cái đẹp thăng hoa của Hoài Anh, Nguyễn
Tuân người săn tìm cái đẹp của Nguyễn Thành hay chuyên luận Quan niệm về cái
đẹp của Nguyễn Tuân trong sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Thị Thanh Minh. Tất
11
cả họ đều đồng ý “Nguyễn Tuân là người đầu tiên đi tìm cái đẹp của quá khứ, cái
đẹp của thời đã qua còn vương sót lại. Nguyễn Tuân đã giữ gìn nó, làm cho nó sống
lại và trường tồn.” [42, tr.14].
Như vậy, đọc tác phẩm của Nguyễn Tuân, điều dễ nhận thấy là ông hết sức
nâng niu, trân trọng và khát khao cái đẹp. Có lẽ, khi tìm hiểu về cái đẹp, ông đã
nhận ra cái đẹp có tính ch
ất “cứu rỗi”. Chính sự nhạy cảm với cái đẹp và cách “nhìn
sự vật nghiêng về góc độ thẩm mỹ đã góp phần tạo nên một phong cách Nguyễn
Tuân tài hoa và độc đáo.”
Sau khi Vũ Bằng qua đời (8.4.1984), vấn đề Vũ Bằng và sự nghiệp sáng tác
của ông mới trở thành mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học.
Điều đó vừa thể hiện sự yêu mến, trân trọ
ng vừa là sự nhìn lại, đánh giá lại cho hợp
lẽ, công bằng với những đóng góp của nhà văn đối với nền văn học Việt Nam. Đó
cũng là một trong những nhân tố khẳng định vị trí của Vũ Bằng trong lòng công
chúng và trong nền văn học.
Trong giới hạn của đề tài nghiên cứu, chúng tôi chỉ đề cập đến những đánh
giá, quan điểm và cảm nhậ
n của một số nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm đến vấn
đề ẩm thực của nhà văn.
Từ năm 1990 đến 1992, Vũ Quần Phương có hai bài viết về thú ẩm thực của
Vũ Bằng. Ông cho rằng “Vũ Bằng quả là người tinh tế và lịch lãm trong nghệ thuật
ẩm thực” vì “biết đánh giá cái ngon cái lạ của thức ăn, lại am hiểu cả cách thức chế
biến l
ẫn lai lịch của các nguyên liệu nhà bếp” [54, tr.9]. Ngoài ra, ông còn tỏ ra
thích thú khi đọc các cuốn sách này vì nhận ra giá trị của các tập tùy bút là không
chỉ hiểu được “nghệ thuật ăn” mà còn hiểu được “nghệ thuật sống”. Để rồi trong
Lời giới thiệu Miếng ngon Hà Nội, ông đã nhấn mạnh đến giá trị văn chương, nỗi
niềm hoài niệm về quá khứ, về quê hương củ
a Vũ Bằng “Quyển sách này còn là
quyển sách văn chương, nó cho thấy một tâm hồn, một nỗi lòng giàu tình cảm dân
tộc, quyến luyến trân trọng những nếp sống của ông bà đã để lại đang ngày càng
mai một” [19, tr.10-11]. Còn trong Lời nói đầu của cuốn Thương nhớ mười hai,
giáo sư Hoàng Như Mai có tầm nhìn xa hơn khi cho rằng tác phẩm “góp phần làm
12
cho bạn bè năm châu hiểu biết thêm một khía cạnh đặc sắc của đất nước mình, nó
như một nhịp cầu giao lưu văn hóa” [9, tr.6].
Trong bài viết Nhà văn Vũ Bằng với Miếng ngon Hà Nội, Ngô Minh đã so
sánh việc ông đọc tác phẩm Miếng ngon Hà Nội như ông đang ăn một miếng ngon
“Tôi đọc Miếng ngon Hà Nội từng câu, từng đoạn như được thưởng th
ức những đĩa
tiệc Hà Nội đích thực dưới bàn tay đạo diễn của cội nguồn văn hóa cha ông.” [28,
tr.704]. Và Xuân Diệu cũng rất hài hước khi nhận ra “Thương nhớ mười hai và Món
ngon Hà Nội giống như một thứ hướng dẫn du lịch; một thứ tài liệu tham khảo
không thể thiếu cho những cuốn từ điển về ăn uống của người Việt” [19, tr.165].
Năm 1996, tập bình văn Tiếng nói tri âm (tập 1) đã in nhiều bài viết nghiên
cứu tác phẩm Thương nhớ mười hai, một trong những tác phẩm được đánh giá là
hay nhất của Vũ Bằng và văn học Việt Nam thế kỷ XX. Đặng Anh Đào Nhân tháng
ba đi tìm thời gian đã mất, Nguyễn Thị Thanh Xuân có Khúc ca hoài cảm của kẻ
tình nhân, Nguyễn Thị Minh Thái viết Tháng ba rét Bắc trong sầu xứ
Nam, Văn
Giá đọc Tháng ba rét nàng Bân (tên một phần của cuốn Thương nhớ mười hai )
mà cảm được Khúc nhạc hồn non nước…Phần lớn các tác giả đều cho rằng
Thương nhớ mười hai “là một bản sầu ca đằng đẵng của một kiếp người sống tha
hương khắc khoải nỗi nhớ thương về miền viễn xứ” [19, tr.151]. Tuy nh
ững bài viết
này không trực tiếp bàn đến vấn đề ẩm thực nhưng những cảm nhận tinh tế của các
tác giả về tác phẩm Thương nhớ mười hai đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc
nghiên cứu đề tài này.
Người tâm đắc và nói nhiều đến vấn đề hiện thực cuộc sống và tấm lòng nhà
văn trong sáng tác nghệ thuật của Vũ Bằng là Văn Giá. Đến nă
m 2000, trong một
công trình nghiên cứu khá công phu mang tên Vũ Bằng bên trời thương nhớ, Văn
Giá mới có điều kiện nói về sự nghiệp và thơ văn Vũ Bằng. Ông đã nhận ra tình
cảm chân thành, tha thiết của Vũ Bằng dành cho quê hương: “Quê hương xứ Bắc
trong cái nhìn của Vũ Bằng hiện lên như một người tình” [19, tr.149] và “Miếng
ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai chính là hành trình tìm về nguồn cộ
i của một
người xa xứ lạc loài” [19, tr.78].

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét