Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

MUỐN TIẾN HÀNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TA PHẢI LÀM GÌ?

cho hoạt động của con người. Do đó con người luôn luôn đã và vẫn là chủ
thể duy nhất của mọi hoạt động trong xã hội.
Thực tiễn ngày nay càng khẳng định tính đúng đắn trong quan niệm của
Mác về vị trí vai trò không gì thay thế được của con người trong tiến trình
phát triển của lịch sử nhân loại, của xã hội loài người. Bản thân sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà chúng ta đang từng bước thực hiện với
những thành công bước đầu của nó cũng ngày càng đòi hỏi mỗi chúng ta
phải nhận thức sâu sắc “những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân
tố con người”, thấy rõ vai trò của con người trong chiến lược phát triển kinh
tế xã hội trên thực tế và trong quan niệm của mỗi chúng ta, con người ngày
càng thể hiện rõ vai trò là “chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật
chất và văn hoá, mọi nền văn minh của các quốc gia”
(3)
. Bởi vậy để đẩy
nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng
XHCN và đưa sự nghiệp cách mạng lớn lao đó đến thành công ở một nước
vẫn còn trong tình trạng lạc hậu như nước ta, chúng ta không thể không phát
triển con người Việt Nam, nâng cao đội ngũ những người lao động nước ta
lên một tầm cao chất lượng mới. Nhận định này đã được khẳng định trong
nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng: “Nâng cao dân
trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân
tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.
Một lần nữa ta có thể khẳng định tính cấp thiết và ý nghĩa quan trọng của
việc nghiên cứu đề tài này. Qua đó, triết học tiếp tục khẳng định vị trí, vai
trò của mình trong đời sống xã hội và trong công cuộc đổi mới đất nước. Sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta được tiến hành như thế nào,
5
quy mô và nhịp độ của nó ra sao, điều đó một phần tuỳ thuộc vào sự đóng
góp của triết học.
6
CHƯƠNG I
NGUỒN GỐC VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
I . BẢN CHẤT CON NGƯỜI
Con người là sinh vật có tính xã hội. Đối với Mác “con người không
phải là một tồn tại trừu tượng, ẩn náu đâu đó ngoài thế giới”
(4)
. Đó là những
con người sống trong một thời đại nhất định, một môi trường xã hội nhất
định, có những quan hệ xã hội phong phú, phức tạp và ngày càng phong phú
với sự phát triển của văn minh.
Các Mác viết “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố
hữu cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là
tổng hoà những quan hệ xã hội”
(5)
. Qua luận đề nổi tiếng đó, chúng ta thấy
Mác muốn nói bản chất con người, một sự trừu tượng khoa học, là sự khái
quát từ đời sống cụ thể, từ thuộc tính của con người hiện thực, thế hệ này
qua thế hệ khác, bản chất con người được thể hiện và chỉ có thể được thể
hiện thông qua tổng thể các quan hệ xã hội. Muốn tìm bản chất con người
thì phải tìm ở bên trong chứ không phải ở bên ngoài đời sống hiện thực của
con người. Luận đề của Mác không làm mất đi tính cá nhân, khẳng định sự
kỳ diệu, sự phong phú vô hạn của tính cách con người. Nếu đứng trên quan
điểm sinh vật học mà xét thì không thể hiểu được chẳng những thực chất của
con người, mà ngay cả ý nghĩa của cơ thể con người, từ khi quá trình nguồn
7
gốc loài người kết thúc thì những biến đổi trong cơ thể đều được hướng dẫn
bởi ảnh hưởng quyết định của văn hoá: khả năng đối xử có tính người đối
với thế giới và đối với những người khác, khả năng lao động, giao tiếp với
những người chung quanh, khả năng tư duy, có những tình cảm đạo đức và
những xúc cảm thẩm mỹ, tất cả những cái đó đều không phải là đặc tính của
cơ thể mà là những nét đã hình thành trong quá trình thực tiễn lịch sử xã hội,
tiêu biểu cho thực chất của con người trong cách biểu hiện và bộc lộ cá thể
của nó. Những nét ấy được hình thành nhờ chỗ con người tham gia vào hệ
thống các quan hệ xã hội, vào quá trình hoạt động lao động, đi liền với sự
tham gia của con người vào quá trình nắm vững và tái tạo nền văn hoá xã
hội (lao động, hoạt động). Chính trong quá trình này con người đã tự sáng
tạo ra bản thân mình một cách lịch sử và không ngừng tái hiện bản thân
mình, tự giáo dục bản thân với tư cách là con người. Tiêu chuẩn lịch sử cho
phép người ta phân biệt con người- đó là sản xuất ra công cụ lao động cũng
bằng chính công cụ. Đồng thời tiền đề tuyệt đối và điều kiện của văn hoá
con người là giới tự nhiên mà con người dùng để xây dựng nền văn hóa của
mình bằng cách chinh phục tự nhiên một cách sáng tạo. Con người xã hội là
kẻ sáng tạo ra lịch sử, sáng tạo ra bản thân mình. Chính vì vậy, con người
hoàn toàn mang tính xã hội.
Vậy thì trong đời sống xã hội con người có vai trò gì?
II . VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI, ĐẶC
BIỆT TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT XÃ HỘI
Hơn một trăm năm trước, khi khẳng định tiến trình phát triển lịch sử của
xã hội loài người là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội, Các
Mác đã nói tới việc lấy sự phát triển toàn diện của con người làm thước đo
8
chung cho sự phát triển xã hội. Các Mác cho rằng, xu hướng chung của tiến
trình phát triển lịch sử được quy định bởi sự phát triển của lực lượng sản
xuất bao gồm con người và những công cụ lao động do con người tạo ra. Sự
phát triển của lực lượng sản xuất tự nó đã nói lên trình độ phát triển của xã
hội qua việc con người chiếm lĩnh và sử dụng ngày càng nhiều lực lượng tự
nhiên với tư cách là cơ sở vật chất cho hoạt đoọng sống của chính con
người. Chúng ta biết rằng sản xuất là quá trình hoạt động thực tiễn cơ bản
của con người nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình. Sản xuất quyết định
nhu cầu nhưng không có nhu cầu thì cũng không có sản xuất. Nhu cầu của
con người tăng lên không ngừng, do đó mà con người luôn luôn phát triển
sản xuất vì muốn nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất,
giảm nhẹ lao động. Vì vậy có thể nói, trong quá trình hoạt động, trước hết và
quan trọng hơn cả là hoạt động lao động sản xuất, bộ óc và bàn tay con
người không ngừng hoàn thiện. Sự hoàn thiện của bộ óc là cơ sở, là nguồn
vật chất vô tận cho những hoạt động ngày càng phức tạp, tinh vi, đa dạng,
phong phú của con người, đưa đến sự thay đổi liên tục cơ sở vật chất và kỹ
thuật của xã hội. Sự phát triển hoàn thiện không ngừng của trí tuệ con người
đã được thể hiện bằng việc truyền đạt, tàng trữ những tri thức lý luận và kinh
nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác và được ghi nhận nhân cách cụ thể,
trước hết ở sự biến đổi của công cụ sản xuất. Hay nói cách khác, sức mạnh
trí tuệ con người không ngừng được vật thể hoá trong công cụ sản xuất,
trong lực lượng sản xuất nói chung. Tính vô tận của trí tuệ con người được
biểu hiện ở sự biến đổi không ngừng ở tính đa dạng, phong phú vô cùng tận
của công cụ sản xuất trong quá trình phát triển của xã hội. Những cuộc cách
mạng lực lượng sản xuất đã và đang diễn ra trong lịch sử xã hội loài người là
những nấc thang đánh dấu sự phát triển ngày càng cao hơn của công cụ sản
xuất: từ lửa đến công cụ sản xuất thủ công, rồi công cụ cơ khí máy móc và
9
công nghệ trí tuệ ngày nay Tất cả những điều đó chứng tỏ rằng con người
với bàn tay và khối óc của mình là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của lực
lượng sản xuất.
Nhưng bên cạnh vai trò con người là chủ thể của hoạt động sản xuất, là
yếu tố hàng đầu đóng vai trò quyết định trong lực lượngsản xuất của xã hội,
con người còn là chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử. Thông qua hoạt
động sản xuất vật chất, cc sáng tạo ra lịch sử của chính mình, sáng tạo ra lịch
sử của xã hội loài người. Kết quả là xã hội loài người đã bước từ thời đại
văn minh này sang thời đại văn minh khác cao hơn, trong quá trình lịch sử tự
nhiên.
Mặt khác khi sản xuất ngày càng phát triển, tính chất xã hội hóa của sản
xuất ngày càng gia tăng, việc tiến hành sản xuất tập thể bằng lực lượng của
toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản xuất do việc đó mang lại sẽ cần
đến những con người hoàn toàn mới. Các Mác đã khẳng định: sự phát triển
của lực lượng sản xuất xã hội trước hết có ý nghĩa là “sự phát triển phong
phú của bản chất con người, coi như là một mục đích tự thân”
(6)
. Bởi vậy
theo Các Mác, ý nghĩa lịch sử, mục đích cao cả của sự phát triển xã hội là
phát triển con người toàn diện, nâng cao năng lực và phẩm giá của con
người, giải phóng con người, loại trừ ra khỏi cuộc sống con người mọi sự
tha hoá để con người sống với cuộc sống đích thực của mình.
Thực tế đã chứng minh, trong công cuộc đổi mới đất nước, chỉ có con
người-yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất của xã hội mới là
nhân tố chính, là nguồn lực mang tính quyết định sự thành công hay thất bại.
Nhưng con người cũng là mục tiêu, là cái đích của sự phát triển, sự đổi mới
này. Hay nói cách khác, công cuộc đổi mới đất nước mà cụ thể là công
10
nghiệp hoá, hiện đại hoá là do con người, phụ thuộc vào con người và vì con
người.
11
CHƯƠNG II
VẤN ĐỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM
I . CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ LÀ GÌ ?
Từ trước tới nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về công nghiệp hoá.
Vậy nên hiểu phạm trù này như thế nào?
Quan niệm đơn giản nhất về công nghiệp hoá cho rằng “ công nghiệp
hoá là đưa đặc tính công nghiệp cho một hoạt động, trang bị ( cho một vùng,
một nước), các nhà máy, các loại công nghiệp ” Quan niệm mang tính triết
tự này được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình hình thành lịch sử
công nghiệp hoá ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ.
Nghiên cứu định nghĩa phạm trù công nghiệp hoá của các nhà kinh tế
Liên Xô (cũ) ta thấy trong cuốn giáo khoa kinh tế chính trị của Liên Xô
được dịch sang tiếng Việt Nam 1958, người ta đã định nghĩa “ công nghiệp
hoá XHCN là phát triển đại công nghiệp, trước hết là công nghiệp nặng, sự
phát triển ấy cần thiết cho việc cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân trên cơ
sở kỹ thuật tiên tiến.”
Quan điểm công nghiệp hoá là quá trình xây dựng và phát triển đại công
nghiệp, trước hết là công nghiệp nặng của các nhà kinh tế học Liên Xô đã
được chúng ta tiếp nhận thiếu sự phân tích khoa học đối với điều kiện cụ thể
của nước ta. Cuốn “ Từ điển tiếng Việt” đã giải thích công nghiệp hoá là quá
trình xây dựng nền sản xuất cơ khí lớn trong tất cả các ngành của nền kinh tế
quốc dân và đặc biệt công nghiệp nặng, dần tới sự tăng nhanh trình độ trang
12
bị kỹ thuật cho lao động và nâng cao năng suất lao động. Trên thực tế, quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước những năm 60, ta đã mắc phải
sai lầm đó, kết quả là nền kinh tế vẫn không thoát khỏi nền công nghiệp lạc
hậu, nông nghiệp lạc hậu, kết cấu hạ tầng yếu kém Mặc dù không đạt được
mục tiêu nhưng cũng chính nhờ công nghiệp hoá mà nước ta đẫ xây dựng
được một số cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định, tạo ra tiềm lực về kinh tế-
quốc phòng, phục vụ chiến tranh, đảm bảo được phần nào đời sống nhân
dân.
Năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc ( UNIDO)
đã đưa ra một định nghĩa: “công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh
tế, trong quá trình này, một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc
dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước
với kỹ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận
luôn thay đổi để sản xuất ra tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và có khả năng
đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới
sự tiến bộ của nền kinh tế và xã hội.” Theo quan điểm này, quá trình công
nghiệp hoá nhằm thực hiện nhiều mục tiêu chứ không phải chỉ nhằm một
mục tiêu kinh tế-kỹ thuật.
Còn theo quan niệm mới phù hợp với điều kiện nước ta thì công nghiệp
hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với đổi
mới công nghệ, xây dựng cơ cấu vật chất-kỹ thuật, là quá trình chuyển nền
sản xuất xã hội từ trình độ công nghệ thấp sang trình độ công nghệ cao hơn,
nhờ đó mà tạo ra sự tăng trưởng bền vững và có hiệu quả của toàn bộ nền
kinh tế quốc dân.
13
Nói tóm lại đó là sự phát triển của lực lượng sản xuất từ thấp đến cao, từ
chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Thực hiện công nghiệp hoá là nhằm phát
triển kinh tế-xã hội, đưa nước ta theo kịp các nước tiên tiến trên thế giới.
II. MUỐN TIẾN HÀNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TA
PHẢI LÀM GÌ?
Sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi ngoài
môi trường chính trị ổn định, phải có các nguồn lực cần thiết như: nguồn lực
con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý,
nguồn lực nước ngoài. Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau,
cùng tham gia vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng mức độ
tác động và vai trò của chúng đối với toàn bộ quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá không giống nhau, trong đó nguồn lực con người là yếu tố
quyết định.
Vai trò của nguồn lực con người quan trọng như thế nào đã được chứng
minh trong lịch sử kinh tế của những nước tư bản phát triển như Nhật Bản,
Mỹ, nhiều nhà kinh doanh nước ngoài khi đến tham quan Nhật Bản thường
chỉ chú ý đến kỹ thuật, máy móc và coi đó là nguyên nhân tạo nên “kỳ tích
Nhật Bản”. Nhưng họ đã nhầm, chính người Nhật Bản cũng không quan
niệm như vậy. Người Nhật cho rằng kỹ thuật và công nghệ có vai trò rất to
lớn nhưng không phải là yếu tố quyết định nhất. Yếu tố quyết định nhất dẫn
đến thành công của họ là con người. Cho nên họ đã tập trung cao độ và có
những chính sách độc đáo phát triển yếu tố con người.
Ngày nay đối với những nước lạc hậu đi sau, không thể phát triển nhanh
chóng nếu không tiếp thu những tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công nghệ
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét