1. Phân cấp địa chỉ IP
Mỗi địa chỉ IP 32 bit được chia thành hai phần: phần đầu và phần cuối; phân cấp làm
hai mức để dễ dàng cho việc định tuyến. Phần đầu địa chỉ xác định mạng vật lý mà máy tính
nối vào, còn phần sau xác định địa chỉ của từng máy tính nối trong mạng đó. Do vậy, mỗi
mạng vật lý trong liên mạng được thiết lập một giá trị duy nhất gọi là số của mạng (network
number). Số của mạng xuất hiện trong phần đầu của địa chỉ của mỗi máy tính nối mạng đó.
Hơn nữa, mỗi máy tính trong mạng vật lý cụ thể cũng được thiết lập một giá trị duy nhất là
phần sau của địa chỉ.
Mặc dù không có hai mạng nào có thể cùng có một giá trị network number và không
có hai máy tính nào trong cùng một mạng có cùng giá trị phần sau, nhưng một giá trị phần
sau có thể sử dụng trong một hoặc nhiều mạng khác nhau. Ví dụ, nếu liên mạng gồn có 3
mạng, chúng có thể đánh số các mạng là 1, 2 và 3. Ba máy tính nối với mạng 1 có thể có giá
trị phần sau là 1, 3 và 5, trong khi 3 máy tính nối mạng 2 có thể thiết lập giá trị phần sau là
1, 2 và 3.
Sự phần cấp địa chỉ IP phải đảm bảo hai tính chất quan trọng sau:
• Mỗi máy tính có một giá trị địa chỉ duy nhất.
• Mặc dù việc thiết lập giá trị network number phải được phối hợp trên toàn mạng,
nhưng phần sau của địa chỉ có thể thiết lập một cách cục bộ.
Tính chất thứ nhất luôn được đảm bảo bởi vì một địa chỉ đầy đủ có cả phần đầu và phần
sau, và chúng được thiết lập đảm bảo tính duy nhất. Nếu hai máy tính nối với hai mạng vật
lý khác nhau, địa chỉ của chúng sẽ khác nhau ở phần đầu. Nếu hai máy tính nối với cùng
một mạng vật lý thì địa chỉ của chúng khác nhau ở phần sau.
2. Các lớp của địa chỉ IP
Mỗi khi lựa chọn việc thiết kế địa chỉ IP và việc phân chia địa chỉ thành hai phần, các
nhà thiết kế phải quyết định bao nhiêu bit dành cho mỗi phần. Phần đầu cần sô bit đủ để tạo
ra số mạng là duy nhất để có thể thiết lập cho mỗi mạng vật lý thuộc liên mạng. Phần sau
cần số bit đủ để đảm bảo mỗi máy tính nối với cùng một mạng vật lý cũng có giá trị phần
sau là duy nhất. Không phải dễ dàng để đưa ra sự chọn lựa bởi vì thêm một bit vào phần này
đồng nghĩa với việc giảm một bit của phần kia. Việc chọn lựa phần đầu lớn thích hợp cho
nhiều mạng nhưng điều đó lại giới hạn kích thước của mỗi mạng; nếu chọn phần sau lớn thì
mỗi mạng vật lý có thể chứa nhiều máy tính nhưng lại bị giới hạn về tổng số mạng.
Bởi vì một liên mạng có thẻ có các công nghệ mạng bât kỳ nên một liên mạng có thể
có một số ít các mạng lớn trong khi một liên mạng khác lại có thể có nhiều mạng nhỏ. Quan
trọng hơn, một liên mạng có thể là sự kết hợp của cả mạng lớn và mạng nhỏ. Kết quả là
người thiết kế phải chọn lựa cơ chế đánh địa chỉ sao cho thoả mãn được sự thích hợp với cả
mạng lớn và mạng nhỏ. Cơ chế chia địa chỉ IP thành 3 lớp cơ bản, trong đó mỗi lớp có kích
thước các phần khác nhau.
5
Bốn bit đầu của mỗi địa chỉ quyết định địa chỉ đó thuộc lớp nào, và chỉ ra phần còn lại
của địa chỉ được chia thành các phần như thế nào. Hình dưới đây minh hoạ 5 lớp địa chỉ, các
bit đầu để xác định các lớp và sự phân chia của phần đầu và phần sau. Các con số quy ước
việc sử dụng số bit của giao thức TCP/IP từ trái qua phải và số 0 là bit đầu tiên.
5 lớp của địa chỉ IP trong đó địa chỉ để thiết lập cho các máy là thuộc lớp A,B hoặc C.
Lớp A, B và C gọi là các lớp cơ bản bởi vì chúng sử dụng cho địa chỉ của các host.
Lớp D sử dụng cho multicast để dùng cho một tập các máy tính. Để sử dụng địa chỉ
multicast, một tập các máy trạm phải thoả thuận dùng chung một địa chỉ multicast. Mỗi khi
một nhóm multicast được thiết lập, một bản sao của bất kỳ gói tin nào chuyên đến địa chỉ
multicast đều được chuyển đến tất cả các máy trạm thuộc nhóm multicast.
Như trên hình vẽ ta thấy, các lớp cơ bản sử dụng đơn vị byte để phân chia địa chỉ
thành phần đầu và phần sau. Lớp A xác định ranh giới giữa byte đầu tiên và byte thứ hai.
Lớp B xác định ranh giới giữa byte thứ hai và byte thứ ba, và lớp C ranh giới giữa byte thứ 3
và thứ 4.
3. Tính toán các lớp của một địa chỉ
Phần mềm IP tính lớp của địa chỉ đích mỗi khi nó nhận được một gói tin. Vì sự tính
toán này được lặp lại thường xuyên, nên nó phải hết sức hiệu quả. Địa chỉ Ip gọi là địa chỉ
tự nhận dạng bởi vì lớp của địa chỉ có thể tính được từ bản thân địa chỉ đó.
Một phần nguyên nhân của việc sử dụng các bit đầu để biểu thị từng lớp địa chỉ thay vì
sử dụng khoảng giá trị xuất phát từ việc nghiên cứu sự tính toán: sử dụng các bit có thể làm
giảm thời gian tính toán. Đặc biệt, một vài máy tính có thể kiểm tra các bit nhanh hơn việc
so sánh giữa các số nguyên. Ví dụ, trên máy tính có các lệnh logic and và shift và tìm chỉ số,
4 bit đầu có thể được lấy ra và sử dụng một bảng chỉ số để xác định lớp của địa chỉ. Hình
sau minh hoạ nội dung của bảng sử dụng để tính toán.
4 bit đầu của địa
chỉ
Chỉ số (hệ
thập phân)
Lớp địa chỉ
6
0 prefix suffix
01234 8 16 24 31 bits
Class A
1 prefix suffix
Class B
0
1 prefix suffix
Class C
01
1 Multicast address
Class D
011
1 Reserved for future use
Class E
111
0000 0 A
0001 1 A
0010 2 A
0011 3 A
0100 4 A
0101 5 A
0110 6 A
0111 7 A
1000 8 B
1001 9 B
1010 10 B
1011 11 B
1100 12 C
1101 13 C
1110 14 D
1111 15 E
Hình 3.Bảng có thể sử dụng để tính các lớp địa chỉ. 4 bit đầu tiên của địa chỉ
được lấy ra để sử dụng như là chỉ số trong bảng.
Như trên bảng ta thấy, 8 tổ hợp bắt đầu bằng số 0 thuộc lớp A. 4 tổ hợp bắt đầu bằng
10 thuộc lớp B, và 2 tổ hợp bắt đầu bằng 110 thuộc lớp C. Một địa chỉ bắt đầu bằng 111
thuộc lớp D và cuối cùng một địa chỉ bắt đầu bằng 1111 thuộc lớp E là lớp để dự phòng
chưa sử dụng đến.
Ký hiệu thập phân bằng chấm
Mặc dù các địa chỉ IP là số 32 bit, người sử dụng hiếm khi đọc hoặc nhập giá trị vào ở
dạng nhị phân. thay vào đó, khi giao tiếp với người sử dụng, phần mềm sử dụng dạng địa
chỉ khác thuận tiện hơn. Gọi là dạng ký hiệu thập phân bằng chấm (dotted decimal notation),
dạng này gom 8 bit của số 32 bit thành các giá trị thập phân và dùng dấu chấm để phân chia
thành các phần. Hình sau minh hoạ ví dụ số nhị phân và và các dạng thập phân chấm tương
đương.
Số nhị phân 32 bit Thập phân chấm tương đương
10000001 00110100 00000110 00000000 129.52.6.0
11000000 00000101 00110000 00000011 192.5.48.3
00001010 00000010 00000000 00100101 10.2.0.37
10000000 00001010 00000010 00000011 128.10.2.3
10000000 10000000 11111111 00000000 128.128.255.0
Hình 4. ví dụ về số 32 bit nhị phân và dạng thập phân chấm tương đương. Mỗi byte
được viết thành số thập phân và dùng dấu chấm để phân tách các byte.
7
Thập phân chấm coi mỗi byte là một số nguyên nhị phân không dấu. Như trong ví dụ
cuối cùng, giá trị nhỏ nhất có thể là 0 xuất hiện khi toàn bộ các bit là 0 và giá trị lớn nhất có
thể là 255 khi toàn bộ các bit là 1. Do vậy, địa chỉ thập phân chấm chỉ nằm trong khoảng từ
0.0.0.0 đến 255.255.255.255
4. Các lớp và các ký hiệu thập phân bằng chấm
Dạng thập phân chấm có thể làm việc tốt với các địa chỉ IP bởi vì nó phân chia các
phần của địa chỉ theo các byte. Trong lớp A, 3 byte cuối tương ứng với địa chỉ phần sau của
máy trạm. tương tự như vậy, địa chỉ lớp B có 2 byte cho địa phần sau của máy trạm và lớp C
có 1 byte.
Nhưng không may là việc dùng dạng thập phân chấm không chia thành từng bit để cót
hể thấy rõ các lớp địa chỉ, các lớp phải nhận biết từ giá trị thập phân của địa chỉ. Hình sau
chỉ ra khoảng giá trị thập phân cho mỗi lớp.
Lớp Khoảng giá trị
A 0 đến 127
B 127 đến 191
C 192 đến 223
D 224 đến 239
E 240 đến 255
Hình 5. khoảng giá trị thập phân thuộc byte đầu tiên của mỗi lớp địa chỉ
Sự phân chia các khoảng địa chỉ
Cơ chế lớp địa chỉ IP không chia địa chỉ 32 bit thành các khoảng bằng nhau giữa các
lớp, và các lớp không có chứa cùng một số mạng. Ví dụ, hơn một nửa số địa chỉ IP (những
địa chỉ mà có bit đầu bằng 0) thuộc lớp A. Lớp A chỉ có thể chứa 128 mạng bởi vì bit đầu
của địa chỉ lớp A là 0 và phần đầu của địa chỉ này là 1 byte. Do vậy chỉ có 7 bit còn lại là sử
dụng để đánh số các mạng. Hình sau tóm tắt số các mạng lớn nhất có thể trong mỗi lớp và số
máy trạm lớn nhất trên mỗi mạng.
Lớp địa chỉ Số bit thuộc
phần đầu
Số mạng lớn
nhất
Số bit phần
sau
Số máy trạm
lớn nhất mỗi
mạng
A 7 128 24 16777216
B 14 16384 16 65536
C 21 2097152 8 256
Hình 6: số mạng lớn nhất và máy trạm trên mỗi mạng với 3 lớp địa chỉ IP
8
Như trên bảng ta thấy, số bit cho mỗi phần đầu và phần cuối của mỗi lớp địa chỉ quyết
định các số giá trị duy nhất có thể có để thiết lập. Ví dụ, phần đầu của n bit cho phép có 2
n
số mạng duy nhất, trong khi phần cuối có n bit sẽ có 2
n
số máy trạm cho mỗi mạng.
5. Nơi quản lý các địa chỉ
Trên toàn bộ mạng, mỗi mạng phải có giá trị địa chỉ duy nhất. Đối với các mạng kết
nối Internet toàn cầu, một tổ chức có thể lấy số các mạng từ các công ty cung cấp dịch vụ
kết nối Internet. Các công ty đó gọi là nhà cung cấp dịch vụ Internet (Internet Service
Provider - ISP). Các nhà cung cấp dịch vụ Internet phối hợp với tổ chức trung tâm là nơi
quản lý đánh số điạ chỉ Internet (internet Assigned Number Authority), để đảm bảo số cấp
cho mỗi mạng là duy nhất trên toàn mạng.
Với liên mạng riêng biệt, việc chọn số cho mỗi mạng có thể được quyết định bởi tổ
chức ấy. Để đảm bảo rằng mỗi phần đầu của địa chỉ là duy nhất, một nhóm xây dựng liên
mạng quyết định việc phối hợp thiết lập các giá trị. Thông thường, người quản trị mạng thiết
lập phần đầu địa chỉ cho tất cả các mạng trong liên mạng của công ty đó để đảm bảo các giá
trị đó không bị trùng nhau.
III. Ví dụ về một cách đánh địa chỉ
Một ví dụ sẽ làm sáng tỏ ý tưởng và giải thích việc thiết lập các địa chỉ trong thực tế.
Hãy xem xét một tổ chức chọn lựa để xây dựng liên mạng TCP/IP gồm có 4 mạng vật lý. Tổ
chức này phải mua các router để nối kết 4 mạng đó, và sau đó phải thiết lập địa chỉ IP. Để
bắt đầu, tổ chức sẽ chọn lựa một giá trị duy nhất cho mỗi mạng để làm phần đầu địa chỉ.
Khi đã thiết lập giá trị cho phần đầu của địa chỉ, các giá trị số sẽ được chọn lựa theo
lớp A, B và C tuỳ vào kích thước của mạng vật lý. Thông thường các mạng thiết lập địa chỉ
thuộc lớp C trừ phi lớp B thực sự cần thiết còn lớp A thì hiếm khi được lựa chọn bởi rất ít
mạng có thể chứa tới 65536 máy trạm. Đối với mạng kết nối Internet toàn cầu, nhà cung cấp
dịch vụ sẽ thực hiện việc chọn lựa. Đối với các liên mạng lẻ, người quản trị mạng sẽ lựa
chọn lớp địa chỉ.
Hãy để ý ví dụ về liên mạng riêng lẻ đã nói ở trên. người quản trị mạng sẽ ước tính
kích thước của các mạng vật lý và dùng các kích thước đó để chọn lựa phần đầu. Nếu tổ
chức đó mong muốn một mạng nhỏ, hai mạng kích thước trung bình và một mạng lớn,
người quản trị mạng có thể thiết lập phần đầu địa chỉ thuộc lớp C (192.5.48), hai mạng có
phần đầu địa chỉ thuộc lớp B (ví dụ 128.10 và 128.211), và một mạng địa chỉ phần đầu
thuộc lớp A(ví dụ 10). Hình 7 minh hoạ một liên mạng với 4 mạng vật lý đã được thiết lập
phần đầu của địa chỉ, và ví dụ về địa chỉ IP thiết lập cho máy trạm.
9
Prefix 128.10
Prefix
128.211
Hình 7 : ví dụ về liên mạng riêng lẻ với các địa chỉ IP thiết lập cho các máy trạm.
Kích thước của các đám mấy biểu thị cho các mạng vật lý tương ứng với số máy trạm nối
kết vào mỗi mạng; kích thước của mỗi mạng quyết định lớp địa chỉ thiết lập.
Như trên hình vẽ ta thấy, địa chỉ IP thiết lập cho các máy trạm luôn bắt đầu với phần
đầu là giá trị mà đã thiết lập cho mạng vật lý của máy trạm đó. Phần sau của địa chỉ được
thiết lập bởi người quản trị mạng cục bộ có thể lấy giá trị bất kỳ. Trong ví dụ, hai máy trạm
nối với mạng có giá trị đầu 129.10 có giá trị phần sau là 1 và 2. Mặc dù nhiều quản trị mạng
chọn giá trị phần sau theo thứ tự, nhưng địa chỉ IP không bắt buộc phải làm như vậy. Sự
thiết lập địa chỉ trong ví dụ chỉ ra rằng có thể lấy giá trị phần sau tuỳ ý như là 37 hoặc 85.
IV .Địa chỉ IP đặc biệt
Cùng với việc thiết lập địa chỉ cho mỗi máy trạm, việc có một số địa chỉ có thể sử
dụng để biểu diễn các mạng hoặc một tập các máy tính cũng khá là thuận tiện. IP đưa ra một
tập các địa chỉ đặc biệt tạo ra để dự trữ. Đó là, địa chỉ đặc biệt mà không bao giờ được đặt
cho máy trạm. Trong phần này chúng ta sẽ xem xét cả về cú pháp và ý nghĩa của các địa chỉ
đặc biêt này.
1. Địa chỉ mạng
Một trong những nguyên nhân đưa ra các dạng địa chỉ đặc biệt có thể nhận thấy qua
hình sau – sẽ rất thuận tiện khi có một địa chỉ có thể sử dụng địa chỉ phần đầu để biểu diễn
địa chỉ cho một mạng cụ thể. IP đưa ra địa chỉ máy trạm là 0 và sử dụng nó để biểu diễn một
mạng. Do đó, địa chỉ 128.211.0,0 biểu diễn mạng mà đã thiết lập địa chỉ lớp B với phần đầu
địa chỉ là 128.211.
Địa chỉ mạng dùng để chỉ đến bản thân mạng đó mà không phải là máy trạm nào nối
với mạng đó. Do vậy, địa chỉ mạng không bao giờ nên xuất hiện là địa chỉ đích trong gói tin.
10
Prefix 10
Prefix192.5.48
10.0.0.37
128.211.28.4128.211.6.115128.10.0.2128.10.0.1
10.0.0.49
192.5.48.3 192.5.48.85
2. Địa chỉ quảng bá trực tiếp
Đôi khi, rất thuận tiện khi có thể gửi một gói tin đến tất cả các máy trạm thuộc cùng
một mạng vật lý. Để làm cho việc truyền toàn mạng dễ dàng, IP định nghĩa ra một địa chỉ
quảng bá trực tiếp (directed broadcast address) cho mỗi mạng vật lý. Khi một gói tin được
gửi đến địa chỉ quảng bá trực tiếp, một gói tin sẽ được truyền qua liên mạng đến khi nó đến
được mạng cần thiết. Gói tin sau đó sẽ được truyền đến tất cả các máy trạm thuộc mạng đó.
Địa chỉ quảng bá trực tiếp có dạng phần đầu là địa chỉ của mạng và phần sau gồm
toàn số 1. Để đảm bảo mỗi mạng có thể trực tiếp thực hiện việc quảng bá, IP dự trữ địa chỉ
máy trạm có chứa toàn bit 1. Người quản trị mạng phải không được thiết lập địa chỉ máy
trạm gồm toàn 0 hoặc 1 hoặc phần mềm có thể bị hỏng.
Nếu phần cứng mạng hỗ trợ quảng bá, việc quảng bá trực tiếp sẽ được thực hiện nhờ
phần cứng. Trong trường hợp đó, sự truyền tin của một gói tin sẽ tới tất cả các máy tính
trong mạng. Khi việc quảng bá trực tiếp không được thực hiện bởi phần cứng trong mạng,
phần mềm phải thực hiện việc truyền từng bản sao của gói tin đó đến từng máy trạm trên
mạng.
3. Địa chỉ quảng bá giới hạn
Thuật ngữ quảng bá giới hạn để chỉ việc quảng bá chỉ thực hiện trong một mạng vật
lý; thông tục chúng ta có thể gọi đó là quảng bá giới hạn với đường dây đơn (single wire).
Quảng bá giới hạn được thực hiện trong quá trình khởi động của máy tính khi nó chưa biết
giá trị số của mạng.
IP dự trữ địa chỉ gồm toàn các bit 1 để quy định quảng bá giới hạn. Do vậy, IP sẽ
thực hiện gửi bất kỳ gói tin nào mà có địa chỉ gồm toàn bit 1 trên toàn mạng cục bộ.
4. Địa chỉ của máy tính này
Một máy tính cần biết địa chỉ IP của nó để gửi hoặc nhận các gói tin truyền đi liên
mạng bởi mỗi gói tin cần có địa chỉ nguồn và đích. Bộ giao thức TCP/IP có các giao thức
cho phép máy tính có thể xác định được địa chỉ IP của nó khi máy tính được khởi động.
Thật là thú vị vì các giao thức khởi động sử dụng IP để kết nối. Khi dùng các giao thức khởi
động đó, máy tính không thể cung cấp địa chỉ IP nguồn chính xác. Để thực hiện được điều
này, IP dự trữ một địa chỉ gồm toàn các số 0 để chỉ địa chỉ của máy tính này.
11
5. Địa chỉ lặp quay lại
IP định nghĩa một địa chỉ lặp quay lại được sử dụng để kiểm tra các ứng dụng của
mạng. những người lập trình thường sử dụng kiểm tra lặp quay lại cho việc tìm lỗi ban đầu
với các ứng dụng mạng vừa được viết. Để thực hiện kiểm tra lặp quay lại, người lập trình
cần có hai ứng dụng mà định giao tiếp với nhau qua mạng. Mỗi ứng dụng cần có phần mã
lệnh thực hiện việc tương tác với phần mềm giao thức TCP/IP. Thay vì việc phải thực hiện
từng chương trình trên các máy khác nhau, người lập trình có thể chạy cả hai chương trình
trên một máy tính và chỉ dẫn chúng thực hiện địa chỉ IP lặp quay lại khi kết nối. Khi một
ứng dụng gửi dữ liệu đến một ứng dụng khác, dữ liệu truyền qua các ngăn xếp giao thức để
đến chương trình kia. Do vậy, người lập trình có thể kiểm tra chương trình ứng dụng của
mình một cách nhanh chóng không cần chạy trên hai máy tính và không cần truyền các gói
tin qua mạng.
IP dự trữ lớp A với phần đầu địa chỉ mạng là 127 cho sử dụng với lặp quay lại. Địa
chỉ của máy trạm sử dụng với 127 là không xác định – tất cả các địa chỉ máy trạm là như
nhau. Theo quy ước người lập trình thường sử dụng địa chỉ máy trạm là 1 có dạng 127.0.0.1
là phổ biến nhất cho lặp quay lại.
Trong suốt quá trình kiểm tra lặp quay lại không có một gói tin nào ra khỏi máy tính
– phần mềm IP chỉ truyền gói tin từ ứng dụng này sang ứng dụng kia. Kết quả, địa chỉ lặp
quay lại không bao giờ xuất hiện trong gói tin truyền qua mạng.
Tóm tắt các địa chỉ IP đặc biệt
Bảng sau tóm tắt các dạng địa chỉ đặc biệt.
Prefix Suffix Kiểu địa chỉ Mục đích
Toàn số 0 Toàn số 0 Cho máy tính này Sử dụng khi khởi
động
Giá trị mạng Toàn số 0 Mạng Xác định một
mạng
Giá trị mạng Toàn số 1 Quảng bá trực tiếp Quảng bá trên một
mạng xác định
Toàn số 1 Toàn số 1 Quảng bá giới hạn Quảng bá trên một
mạng cục bộ
127 Bât kỳ Lặp quay lại Kiểm tra
Bảng tóm tắt các dạng địa chỉ đặc biệt.
Chúng ta đã nói rằng địa chỉ đặc biệt là để dự trữ và không bao giờ dùng để thiết lập
cho máy trạm. Hơn nữa, mỗi địa chỉ đặc biệt này bị giới hạn trong một sử dụng. Ví dụ, địa
chỉ quảng bá không bao giờ được xuất hiện trong địa chỉ nguồn của gói tin và địa chỉ toàn 0
12
phải không được sử dụng sau khi máy tính thực hiện xong việc khởi động và đã có một địa
chỉ IP.
6. Dạng địa chỉ quảng bá Berkeley
Trường đại học California tại Berkeley phát triển và phân phối việc bổ sung giao thức
TCP/IP như là một phần của BSD UNIX. Sự bổ sung BSD có những đặc tính không chuẩn
nên có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện xảy ra sau. Thay vì việc sử dụng phần sau địa chỉ
gồm toàn 1 để biểu diễn địa chỉ quảng bá trực tiếp, sự bổ sung của Berkeley sử dụng phần
sau gồm toàn số 0. Các dạng địa chỉ đó gọi là quảng bá berkeley (Berkeley broadcast).
Nhiều nhà chế tạo máy tính thực hiện các phần mềm TCP/IP đầu tiên của họ theo bổ
sung của Berkeley, và một số nơi vẫn sử dụng quảng bá Berkeley. Một vài thực hiện TCP/IP
với các thông số cấu hình cho phép chọn lựa giữa chuẩn TCP/IP hoặc dạng Berkeley; rất
nhiều sự thực hiện được xây dựng để chấp nhận cả hai dạng địa chỉ quảng bá TCP/IP chuẩn
và địa chỉ Berkeley.
V. Router và các nguyên tắc đánh địa chỉ IP
Cùng với việc thiết lập các địa chỉ liên mạng cho các máy trạm, giao thức liên mạng
cũng quy đinh rằng các router cũng cần có địa chỉ IP. Thực tế mỗi router có thể được thiết
lập hai hoặc nhiều địa chỉ IP:
• Một router có nhiều kết nối với các mạng vật lý.
• Mỗi địa chỉ IP có chứa phần đầu để chỉ một mạng vật lý.
Do vậy, một địa chỉ IP không đủ cho một router bởi vì mỗi router nối kết với nhiều
mạng. Kỹ thuật IP có thể được giải thích bởi nguyên lý cơ bản:
Một địa chỉ IP không xác định một máy tính. Thay vào đó, mỗi địa chỉ IP xác định một
kết nối giữa một máy tính và một mạng. một máy tính với nhiều kết nối mạng (ví dụ như
router) phải được thiết lập mỗi kết nối một địa chỉ IP.
Hình 8 minh hoạ ý tưởng với ví dụ chỉ ra việc thiết lập địa chỉ IP cho hai router nối kết
3 mạng.
13
Hình 8. ví dụ của địa chỉ IP thiết lập cho 2 router. Mỗi mạch nối ghép được thiết lập
một địa chỉ có chữa phần đầu là mạng mà mạch nối ghép đó kết nối
IP không đòi hỏi cùng một phần sau cho địa chỉ thiết lập cho các nối ghép của cùng
một router. Trên hình vẽ, ví dụ router kết nối Ethernet và Token ring có phần sau địa chỉ là
99.5 (kết nối với Ethernet) và 2 (kết nối với Token Ring). Tuy nhiên, IP không ngăn cấm
việc sử dụng cùng một giá trị địa chỉ phần sau cho tất cả các kết nối. Do vậy, ví dụ cũng chỉ
ra rằng có thể chọn lựa cùng một giá trị phần sau địa chỉ là 17 cho cả hai nối ghép của router
với mạng Token ring và mạng WAN. Trong thực tế sử dụng cùng một giá trị phần sau có thể
giúp cho việc quản lý liên mạng bởi dùng cùng một giá trị số sẽ dễ dàng nhớ được.
PHẦN III
Đóng kết địa chỉ giao thức (ARP)
I.Giới thiệu chung
14
Token Ring
223.240.129.0
Wan 78.0.0.0
131.108.99.5 223.240.129.2
223.240.129.17
78.0.0.17
Ethernet 131.108.0.0
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét