Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

1106m

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
thức quan hệ tín dụng bằng tiền tệ, giữa một bên là Ngân hàng, một bên là các tổ
chức kinh tế, các đơn vị cá nhân trong Xã hội. Trái lại, với tư cách là người cho vay,
Ngân hàng cung cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế và cá nhân trong nước. Thông
qua hoạt động tín dụng, Ngân hàng đóng vai trò " Vừa là Người đi vay vừa là
người cho vay". Đây là nghiệp vụ chủ yếu quyết định đến toàn bộ các chức năng
kinh tế và các hoạt động của Ngân hàng. Nghiệp vụ tín dụng tạo ra các nguồn lực và
phân bổ các nguồn lực vào mục tiêu sinh lời, quy mô, chất lượng hoạt động tín dụng
tạo cơ sở cho các nghiệp vụ khác phát triển và mở rộng nhằm cải tạo ra sự tuần hoàn
vốn liên tục trong quá trình sản xuất kinh doanh. Đây là nghiệp vụ quan trọng nhất
của Ngân hàng, qua đó tạo ra phần thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng và thực hiện vai
trò của mình đối với nền kinh tế.
b) Vai trò của tín dụng
b.1. Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với nền kinh tế Quốc dân.
Ngân hàng là một định chế Tài chính trung gian, là một Doanh nghiệp hoạt
động trong khuôn khổ Pháp luật, chịu sự quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam. Hoạt động cơ bản của Ngân hàng là tín dụng. Thông qua hoạt động tín
dụng, Ngân hàng tác động đến các thành phần kinh tế nói riêng và cả nền kinh tế nói
chung thể hiện trên các mặt:
 Phân phối lại tiền tệ để tái sản xuất Xã hội.
 Tạo thêm nguồn vốn.
 Tiết kiệm tiền mặt (tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt).
 Điều tiết vĩ mô nền kinh tế Quốc dân.
 Thực hiện việc kiểm soát bằng đồng tiền các hoạt động kinh tế.
NguyÔnThÞ Thóy – Kinh tÕ N«ng nghiÖp 48
5
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
b.2. Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với phát triển kinh tế Nông nghiệp và
phát triển kinh tế Nông thôn.
Để thúc đẩy Nông nghiệp và Nông thôn phát triển, vốn tín dụng Ngân hàng
giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong giai đoạn hiện nay và tương lai. Đặc biệt đối
với kinh tế Nông nghiệp và Nông thôn đang rất thiếu vốn. Để mở mang thêm ngành
nghề, dịch vụ, mở rộng sản xuất với qui mô ngày một lớn, tạo thêm công ăn việc làm,
thâm canh, tăng vụ và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đầu tư cho các dự án
phát triển trung, dài hạn để có thể khai thác mọi tiềm năng về tư liệu sản xuất và công
cụ lao động của mình, Nông nghiệp và Nông thôn rất cần vốn.
 Trước hết tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì
sản xuất và phát triển kinh tế. Đặc biệt là đối với Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn ở nước ta.
Ở nước ta, hiện nay lực lượng lao động rất dồi dào, có phần dư thừa vì thiếu
đối tượng lao động và công cụ lao động mà đối tượng lao động, tức là thiếu vốn.
Trong nông nghiệp tư liệu sản xuất phổ biến vẫn là đất đai, cây con, mà đất đai lại
có hạn, đất bạc màu. Như vậy, để mở mang thêm ngành nghề mở rộng sản xuất thì
phải thâm canh, tăng vụ, tăng thêm vòng quay sử dụng đất, xây dựng kiên cố kênh
mương, thuỷ lợi chủ động tưới tiêu nâng độ màu mỡ cho đất, mở mang thêm ngành
nghề kinh doanh dịch vụ Nông nghiệp, khai thác chăn nuôi nhằm tận dụng tối đa mặt
nước, ao hồ, đất đai hiện có. Muốn vậy các hộ đều cần có vốn bổ sung nhằm thực
hiện các dự án phát triển sản xuất gồm trung và dài hạn, mua sắm thêm phương tiện
công cụ lao động.
 Thứ hai tín dụng giúp hộ sản xuất tập trung vốn vào sản xuất và mở
sản xuất hàng hoá.
Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là đi vay để cho vay, tức là Ngân hàng có
chức năng tập trung huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các thành phần
NguyÔnThÞ Thóy – Kinh tÕ N«ng nghiÖp 48
6
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
kinh tế để làm nguồn vốn cho vay. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng phụ
thuộc vào hiệu quả đầu tư vốn đối với các thành phần kinh tế.
Từ khi Ngân hàng ra đời thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình là tập trung
huy động nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế, các thành phần kinh tế và dân
cư, để đầu tư vào cho các thành phần kinh tế thiếu vốn, đối với Nông nghiệp đặc biệt
là kinh tế hộ. Nhờ đó mà quy mô sản xuất của các hộ đã phát triển và sản phẩm của
họ làm ra không những đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân hộ sản xuất
mà họ còn dư thừa để cung cấp ra thị trường, trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng và đầu
tư vào tái sản xuất.
Như vậy, nhờ vốn Tín dụng Ngân hàng đã tạo cho các hộ sản xuất mở rộng
sản xuất và góp phần thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, tạo đà cho sự phát triển
kinh tế của toàn xã hội, đẩy lùi phương thức sản xuất giản đơn, tự cấp.
 Thứ ba là tín dụng Ngân hàng góp phần hạn chế việc cho vay
nặng lãi trong nông thôn.
ở nước ta, trước đây và hiện nay cá biệt một số nơi, tại địa bàn Nông thôn,
việc cho vay nặng lãi vẫn còn, cùng với việc bán ngô non, lúa non, khi giáp hạt
người dân vẫn phải vay nặng lãi để phục vụ sinh hoạt và cần vốn để mở rộng sản
xuất Việc các hộ nông dân vay vốn theo hình thức trên thì không có dự án sản xuất
Nông nghiệp nào có lãi mà chỉ đáp ứng được nhu cầu cấp thiết tại chỗ của họ khi cần
thiết mà nó sẽ ảnh hưởng đến thu nhập lâu dài khiến hộ sản xuất chỉ có đi xuống mà
không thể đi lên được.
 Thứ tư tín dụng tăng cường việc hạch toán kinh tế cho các hộ sản
xuất.
NguyÔnThÞ Thóy – Kinh tÕ N«ng nghiÖp 48
7
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Việc vay nặng lãi vừa hạn chế hộ sản xuất tiếp nhận vốn để sản xuất đồng thời
nó không thể là cơ sở hạch toán được vì chẳng có phương án sản xuất kinh doanh nào
có đủ lợi nhuận có thể bù đắp được lãi suất của loại vay này.
Các hộ hiện nay nằm trong tình trạng thiếu vốn thường xuyên. Để có thể tham
gia trong một dự án, phương án sản xuất họ chỉ có sức lao động có khả năng sản xuất
mà không có vốn bằng tiền hoặc bằng tài sản khác tham gia vào dự án. Mặt khác việc
hạch toán kinh doanh của họ còn rất hạn chế không thể xây dựng được đúng hiệu quả
sử dụng vốn và như vậy làm cho việc suy nghĩ tính toán của hộ ngày càng kém hơn.
Khi vốn Ngân hàng với lãi suất vừa phải hộ vay vốn chấp nhận được, đã làm
cho các hộ phấn khởi hơn. Hộ sản xuất tính toán thông qua phương án, dự án xin vay
gửi tới Ngân hàng. Họ phải tính toán làm sao sử dụng vốn vay Ngân hàng điều này
đã tạo cho hộ sản xuất làm quen dần và có phương pháp tính toán các chi phí sản xuất
để đem lại lợi nhuận tức là thực hiện việc hạch toán kinh tế một phạm trù quan trọng
của kinh tế thị trường.
3/ Vai trò của đầu tư tín dụng cho nông nghiệp -nông thôn
. Tín dụng trong thời kỳ bao cấp được xem như một công cụ cấp phát thay ngân
sách. Còn trong nền kinh tế thị trường: Tín dụng là tập trung huy động nhiều nguồn
vốn, gắn liền với sử dụng vốn có hiệu quả để đầu tư phát triển kinh tế nông thôn, tạo
điều kiện tích luỹ vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tín dụng thực sự là đòn
bẩy kinh tế kích thích các ngành kinh tế mũi nhọn phát triển cũng như mở rộng
thương mại dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn. Do đó tín dụng có vai trò quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn và được thể hiện như:
NguyÔnThÞ Thóy – Kinh tÕ N«ng nghiÖp 48
8
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
a/Góp phần thúc đẩy hình thành thị trường tài chính nông thôn .
Thị trường tài chính ở nông thôn là nơi giải quyết quan hệ cung cầu về vốn,
nhằm thoả mãn nhu cầu phát triển kinh tế nông thôn. Thị trường tài chính nông thôn
bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Trong thị trường này, ngân hàng nông
nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng, vì nó có hệ thống chân rết đến tận huyện. Mặt
khác từng xã, khu vực còn có quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Chính hoạt động tín dụng
đã hình thành và đẩy nhanh sự phát triển của thị trường tài chính, tín dụng ở nông
thôn.
b/Hoạt động tín dụng đã góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung
vốn, tư liệu sản xuất, khoa học công nghệ để phát triển kinh tế nông thôn.
Trong nông thôn hiện nay, số hộ dân khá đang giàu lên chiếm tỷ lệ ngày càng
cao do họ có trình độ sản xuất kinh doanh, tiếp thu được khoa học kỹ thuật, họ có
vốn là điều thiết yếu ban đầu cho quá trình sản xuất và nắm bắt nhanh nhạy thị
trường, họ quyết định được sản xuất cái gì? sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào?
để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Ngược lại, có những hộ không có kinh
nghiệm, kinh doanh không có hiệu quả dẫn đến lỗ, hoặc có ruộng đất quá ít so với
nhu cầu của họ hoặc thiếu vốn cho quá trình sản xuất. Trong mọi trường hợp đồng
vốn tín dụng của ngân hàng, đã giúp hộ có khả năng giải quyết được khó khăn trong
sản xuất kinh doanh và góp phần tăng thu nhập cho hộ. Quy mô sản xuất của hộ càng
lớn, thì càng có khả năng đứng vững hơn trong cạnh tranh, bởi lẽ khi có vốn, người
nông dân có thể áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, tăng sản
lượng, tăng tỷ trọng hàng hoá và hạ giá thành sản phẩm. Trên cơ sở đó, họ có khả
năng dễ dàng trong việc tích tụ và tập trung vốn.
c/Tín dụng đã góp phần tận dụng khai thác mọi tiềm năng về đất đai, lao động
và tài nguyên thiên nhiên.
NguyÔnThÞ Thóy – Kinh tÕ N«ng nghiÖp 48
9
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Tiềm năng về phát triển ở nông thôn nước ta là rất lớn, nếu được Nhà nước
quan tâm đúng mức với những chính sách vĩ mô thích hợp, đặc biệt là nếu có chính
sách đầu tư tín dụng hợp lý, thì chắc chắn những khả năng tiềm tàng mà lâu nay chưa
được sử dụng sẽ được động viên khai thác triệt để và phát huy hiệu quả. Sức lao
động được giải phóng kết hợp với đất đai được giao quyền sử dụng lâu dài cho từng
hộ gia đình sẽ đóng góp ngày càng nhiều hơn, phong phú hơn hàng hoá nông sản
thực phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu của đất nước.
Sự thay đổi cơ chế quản lý tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về quan hệ tín dụng.
Cơ chế tín dụng của ngân hàng phải xử lý như thế nào khi hộ nông dân là đơn vị hạch
toán độc lập? Chỉ thị 202/CT của Chủ tịch hội đồng bộ trưởng ngày 28/6/1991, quyết
định 53, 93 và 94/TDNN ngày 12/7/1991 là những chủ trương đúng đắn và kịp thời
nhằm giúp đỡ nông dân vay vốn, có điều kiện để khai thác tiềm năng tại chỗ, giải
phóng sức lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, làm ra nhiều của cải vật chất
cho xã hội, tạo điều kiện mở rộng thị trường nông thôn, tăng sức mua của thị trường
nông thôn, biến nông thôn vừa là nơi tiêu thụ hàng hoá của các ngành sản xuất vật
chất khác, vừa là nơi cung cấp sản phẩm cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu.
d/Tín dụng đã góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho nông dân
tiếp thu công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh.
Trong điều kiện hiện nay, đời sống nông thôn còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở
vật chất kỹ thuật lạc hậu. Muốn cải thiện tình hình đó phải tăng cường đầu tư vốn
phát triển nông thôn. Chính vì lẽ đó, vốn đầu tư của ngân hàng không những tham gia
vào quá trình sản xuất bằng hình thức bổ sung vốn lưu động, mà còn là vốn đầu tư
trung hạn và dài hạn nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến cho quá trình
sản xuất. Các công trình đầu tư nhằm phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất, phân
phối, trao đổi, tiêu dùng đó là: công nghiệp chế biến nông sản phẩm, ngành cơ khí
phục vụ nông nghiệp, dịch vụ “đầu vào”, “đầu ra”, phát triển các ngành nghề mới,
các hệ thống tưới tiêu, công trình thuỷ lợi, hệ thống đường giao thông, mạng lưới
NguyÔnThÞ Thóy – Kinh tÕ N«ng nghiÖp 48
10
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
điện nhằm phục vụ phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Cùng với việc
đầu tư xây dựng và cải tạo những công trình trên Nhà nước còn cần đầu tư xây dựng
các công trình phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ kỹ thuật
để tạo ra những giống cây, con mới đưa vào sản xuất, từ đó tăng năng suất và đem lại
hiệu quả kinh tế.
e/Tín dụng tạo điều kiện phát triển ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới,
góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong nông thôn.
Chính việc xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng các xí nghiệp chế biến nông sản
đã thu hút một số lượng lớn lao động dư thừa trong nông thôn, tạo việc làm cho họ.
Đồng thời dựa vào lợi thế so sánh của nước ta với khu vực và thế giới, giữa các vùng
khác nhau cần thiết phải duy trì và phát triển ngành nghề ở nông thôn. Kinh tế hàng
hoá càng phát triển thì sức mạnh cạnh tranh ngày càng lộ rõ, tất yếu dẫn đến phân hoá
giàu nghèo ở nông thôn, có hộ sẽ phát triển thêm về nông nghiệp, có hộ sẽ rời khỏi
nông nghiệp làm nghề khác như tiểu thủ công nghiệp, các nghề truyền thống. Do đó
các ngành nghề này sẽ được phục hồi và phát triển. Hiện nay luật khuyến khích đầu
tư trong nước được ban hành đã tạo luồng sinh khí mới cho các doanh nghiệp trong
nứơc mạnh dạn đầu tư vào tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doamh, dịch vụ và tạo
điều kiện cho các ngành nghề khác phát triển, trước hết là chăn nuôi và ngành nghề
phục vụ nông nghiệp và công nghiệp chế biến.
Như vậy tín dụng ảnh hưởng gián tiếp và trực tiếp đến sự phát triển của những
ngành nghề truyền thống và ngành nghề mới. Thông qua tín dụng nông nghiệp, tổ
chức tín dụng góp phần thúc đẩy nông nghiệp phát triển từ đó tạo điều kiện cho các
ngành nghề truyền thống và ngành nghề mới phát triển, đồng thời các tổ chức tín
dụng trực tiếp bổ sung vốn kịp thời cho các ngành nghề này phát triển. Những ngành
nghề dịch vụ mới phát triển đã thu hút lao động trong nông thôn, góp phần tăng thu
nhập và cải thiện đời sống ở nông thôn.
NguyÔnThÞ Thóy – Kinh tÕ N«ng nghiÖp 48
11
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
f/Tín dụng đã tạo cho người dân không ngừng nâng cao trình độ sản xuất, tăng
cường hạch toán kinh tế đồng thời tạo tâm lý tiết kiệm tiêu dùng.
Hộ gia đình là một đơn vị kinh tế tự chủ, sản xuất kinh doanh lời ăn lỗ chịu. Do
vậy bắt buộc bản thân hộ gia đình muốn tồn tại và phát triển thì phải đáp ứng được
những yêu cầu mới. Trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ
bão đòi hỏi người nông dân phải không ngừng nâng cao trình độ của mình. Kết quả
cuối cùng đã ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân và gia đình họ. Vì vậy ngoài việc hăng
say lao động, họ phải áp dụng những quy trình kỹ thuật mới vào sản xuất để đem lại
hiệu quả kinh tế cao nhất.
Đặc trưng cơ bản của vốn tín dụng là sự vận động của đồng vốn trên cơ sở
hoàn trả cả vốn và lãi. Cho nên đã kích thích các doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng
phải cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng, nhằm giảm chi phí sản xuất kinh doanh một cách
triệt để, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tạo điều kiện đem lại lợi nhuận cao cho các
doanh nghiệp, đảm bảo hoàn trả tiền vay ngân hàng.
g/Tín dụng góp phần đảm bảo hiệu qủa xã hội, nâng cao cuộc sống tinh thần
vật chất cho người nông dân.
Hoạt động tín dụng thực hiện tốt sẽ góp phần hạn chế nạn cho vay nặng lãi
trong nông thôn. Trước đây chính sách đầu tư tín dụng không được quan tâm thích
đáng nên vốn cho nông dân được cung cấp chủ yếu thông qua thị trường tài chính
không chính thức. Từ năm 1990 về trước khi chưa có chính sách cho nông dân vay
vốn, các hộ nông dân phải tự đi vay với lãi suất cao từ 10- 15%/tháng có khi đến
20%/tháng từ những người hoạt động cho vay nặng lãi ở nông thôn. Chính việc mở
rộng cho các hộ nông dân vay vốn đã góp phần hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi,
người dân đỡ bị bóc lột hơn và kết quả là sau quá trình sản xuất người dân thực sự
được hưởng thành quả lao động của họ. Việc cung ứng vốn tín dụng của ngân hàng
cho những hộ sản xuất thiếu vốn, kể cả hộ giàu và hộ nghèo, đều đòi hỏi phải có tài
NguyÔnThÞ Thóy – Kinh tÕ N«ng nghiÖp 48
12
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
sản thế chấp, đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích. Như vậy đồng vốn của ngân
hàng đã đi sâu vào tận cùng thôn ấp, thúc đẩy nông thôn phát triển, làm cho hộ nghèo
trở nên khá hơn, hộ khá trở nên giàu hơn, đời sống các tầng lớp dân cư trong nông
thôn được nâng cao.
Tóm lại, tín dụng có vai trò quan trọng trong mọi mặt của đời sống kinh tế xã
hội nông thôn. Để phát huy vai trò to lớn đó, nên sử dụng tín dụng như một công cụ
đắc lực để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế nông thôn.
4/ Đặc điểm của sử dụng vốn tín dụng trong nông nghiệp. nông thôn
Để đầu tư vốn cho nông nghiệp nông thôn mang lại hiệu quả cao ,cần thiết phải
hiểu rõ những đặc điểm của đầu tư vốn. Đặc đỉểm của vốn đầu tư cho nông nghiệp
nông thôn , trước hết biểu hiện ở đặc điểm hoạt động của vốn. Do đặc điểm của sản
xuất nông nghiệp , vốn ,sự huy động vốn và sự hoạt động của vốn cũng có những đặc
điểm riêng:
- Nông nghiệp là ngành có nhiều đặc điểm mang tính đặc thù, trong đó tính
nặng nhọc , phức tạp của lao động , tính sinh lời thấp và tính rủi ro cao của sản xuất
là những đặc điểm có tính đặc trưng nhất.
Với những đặc điểm này , nông nghiệp là ngành cần lượng vốn đầu tư lớn ,
nhưng lượng vốn trong nội bộ ngành ít ,sức hút từ các ngành , lĩnh vực khác của nền
kinh tế quốc dân kém. Vì vậy, nguồn vốn đầu tư qua ngân sách , nguồn vốn tín dụng
ưu đãi có vai trò hết sức quan trọng.
-Nông nghiệp là ngành sản xuất sinh học . Vì vậy , ngoài những tư liệu
lao động có nguồn gốc kỹ thuật còn có những tư liệu lao động có nguồn gốc sinh học
(cây trồng vật nuôi). Những tư liệu lao động này, một mặt thay đổi giá trị sử dụng
theo quy luật sinh học , mặt khác chúng không thể có sự khôi phục từng bộ phận như
máy móc thiết bị . Hơn nữa chu kỳ sản xuất của cây trồng , vật nuôi khá phức tạp .
NguyÔnThÞ Thóy – Kinh tÕ N«ng nghiÖp 48
13
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Tùy thuộc từng loại mà chu kỳ sản xuất dài ngắn khác nhau . Những yêu cầu về vốn
theo đặc điểm trên rất nghiêm ngặt . Vì vậy , chính sách đầu tư và cung cấp vốn phải
tuân thủ và phù hợp với từng loại cây trồng vật nuôi theo từng đặc tính sinh học của
nó.
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp , nông thôn lệ thuộc nhiều vào điều
kiện tự nhiên . Bởi vì sự tác động của vốn vào quá trình sản xuất và hiệu quả kinh tế
của nó không phải là trực tiếp mà là gián tiếp thông qua đất , cây trồng vật nuôi . Để
đầu tư vốn có hiệu quả , cơ cấu và lượng vốn phải phù hợp với yêu cầu từng loai đất
đai , từng đối tượng sinh học.
- Ngoài ra tính thời vụ của sản xúât nông nghiệp một mặt làm cho sự tuần
hoàn và luân chuyển vốn chậm chạp , sự cần thiết phải dự trữ đáng kể trong thời gian
tương đối dài vốn lưu động làm cho vốn ứ đọng. Mặt khác , đã tạo ra sự cần thiết tập
trung hóa cao hơn các phương tiện kỹ thuật cho một lao động nông nghiệp. Vì vậy ,
yêu cầu đối với vốn cho nông nghiệp , nông thôn thường phải tập trung một lượng
lớn vào những thời điểm nhất định.
5-Hiệu quả đầu tư vốn tín dụng cho nông nghiệp nông thôn.
5.1) Khái niệm
Hiệu quả tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng(ở đây là các
DNVVN)về vốn vay phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của Ngân hàng.
Hiệu quả cho vay của ngân hàng đạt được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh
của các doanh nghiệp vay vốn.Lơị nhuận từ hoạt động cho vay của ngân hàng có
được thông qua các doanh nghiệp bằng hình thức “gía cả quyền sử dụng vốn”.LãI sẽ
được thu đủ và đều đặn nếu doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Ngược lại, ngân
hàng sẽ không thu được lãI mà vốn cũng có nguy cơ hao hụt .
NguyÔnThÞ Thóy – Kinh tÕ N«ng nghiÖp 48
14

Xem chi tiết: 1106m


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét