chơng I
Lý luận chung về xuất khẩu và vấn đề xuất khẩu
hàng may mặc của Việt Nam
I. khái niệm, các hình thức xuất khẩu và vai trò của xuất
khẩu
1. Khái niệm :
Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi
quốc tế. Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ
thống các quan hệ mua bán trong một nền thơng mại có tổ chức cả bên
trong và bên ngoài nhằm bán sản phẩm, hàng hoá sản xuất trong nớc ra
nớc ngoài thu ngoại tệ, qua đó đẩy mạnh sản xuất hàng hoá phát triển,
chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định từng bớc nâng cao mức sống nhân
dân.
Xuất khẩu hàng hoá nằm trong lĩnh vực phân phối và lu thông hàng
hoá của một quá trình tái sản xuất mở rộng, nhằm mục đích liên kết
sản xuất với tiêu dùng của nớc này với nớc khác. Nền sản xuất xã hội
phát triển nh thế nào phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động kinh doanh
này.
2. Các hình thức xuất khẩu thông dụng ở Việt Nam
a/ Xuất khẩu uỷ thác
Trong phơng thức này, đơn vị có hàng xuất khẩu là bên uỷ thác giao
cho đơn vị xuất khẩu gọi là bên nhận uỷ thác tiến hành xuất khẩu một
hoặc một số lô hàng nhất định với danh nghĩa của mình (bên nhận uỷ
thác) nhng với chi phí của bên uỷ thác. Về bản chất, chi phí trả cho bên
nhận uỷ thác chính là tiền thu lao trả cho đại lý. Theo nghị định 64-
HĐBT, chi phí uỷ thác xuất khẩu không cao hơn 1% của tổng số doanh
thu ngoại tệ về xuất khẩu theo điều kiện FOB tại Việt Nam.
Ưu nhợc điểm của xuất khẩu uỷ thác:
-Ưu điểm: Công ty uỷ thác xuất khẩu không phải bỏ vốn vào kinh
doanh, tránh đợc rủi ro trong kinh doanh mà vẫn thu đợc một khoản lợi
nhuận là hoa hồng cho xuất khẩu. Do chỉ thực hiện hợp đồng uỷ thác
xuất khẩu nên tất cả các chi phí từ nghiên cứu thị trờng, giao dịch đàm
phán ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng không phải chi, dẫn tới
giảm chi phí trong hoạt động kinh doanh của Công ty.
-Nhợc điểm: do không phải bỏ vốn vào kinh doanh nên hiệu quả
kinh doanh thấp không bảo đảm tính chủ động trong kinh doanh. Thị
trờng và khách hàng bị thu hẹp vì Công ty không có liên quan tới việc
nghiên cứu thị trờng và tìm khách hàng.
b/ Xuất khẩu trực tiếp:
Trong phơng thức này, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp
ký kết hợp đồng ngoại thơng, với t cách là một bên phải tổ chức thực
hiện hợp đồng đó. Hợp đồng ký kết giữa hai bên phải phù hợp với luật
lệ quốc gia và quốc tế, đồng thời bảo đảm đợc lợi ích quốc gia và đảm
bảo uy tín kinh doanh của doanh nghiệp. Để thực hiện hợp đồng xuất
khẩu, đơn vị kinh doanh phải tiến hành các khâu công việc:
Giục mở L/C và kiểm tra luận chứng (nếu hợp đồng quy định sử
dụng phơng pháp tín dụng chứng từ), xin giấy phép xuất khẩu, chuẩn bị
hàng hoá làm thủ tục hải quan, giao hàng lên tàu, mua bảo hiểm, làm
thủ tục thanh toán và giải quyết khiếu nại (nếu có).
Ưu nhợc điểm của hình thức xuất khẩu trực tiếp:
-Ưu điểm: Với phơng thức này, đơn vị kinh doanh chủ động trong
kinh doanh, tự mình có thể thâm nhập thị trờng và do vậy có thể đáp
ứng nhu cầu thị trờng, gợi mở, kích thích nhu cầu. Nếu đơn vị tổ chức
hoạt động kinh doanh tốt sẽ đem lại hiệu quả kinh doanh cao, tự khẳng
định mình về sản phẩm, nhãn hiệu dần dần đa đợc uy tín về sản phẩm
trên thế giới.
- Nhợc điểm: Trong điều kiện đơn vị mới kinh doanh đợc mấy năm
thì áp dụng hình thức này rất khó do điều kiện vốn sản xuất hạn chế,
am hiểu thơng trờng quốc tế còn mờ nhạt, uy tín nhãn hiệu sản phẩm
còn xa lạ với khách hàng
c/ Gia công hàng xuất khẩu.
Gia công hàng xuất khẩu là một phơng thức kinh doanh trong đó
một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán
thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra
thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao ( gọi là chi
phí gia công). Tóm lại, gia công xuất khẩu là đa các yếu tố sản xuất
(chủ yếu là nguyên vật liệu) từ nớc ngoài về để sản xuất hàng hoá theo
yêu cầu của bên đặt hàng, nhng không phải để tiêu dùng trong nớc mà
để xuất khẩu thu ngoại tệ chênh lệch do hoạt động gia công đem lại. Vì
vậy, suy cho cùng, gia công xuất khẩu là hình thức xuất khẩu lao động,
nhng là loại lao động dới dạng đợc sử dụng(đợc thể hiện trong hàng
hoá) chứ không phải dới dạng xuất khẩu nhân công ra nớc ngoài.
Gia công xuất khẩu là một phơng thức phổ biến trong thơng mại
quốc tế. Hoạt động này phát triển sẽ khai thác đợc nhiều lợi thế của hai
bên: bên đặt gia công và bên nhận gia công.
3.Vị trí, vai trò của hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán ở
phạm vi quốc tế. Nó không phải là hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả
một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thơng mại có tổ chức
cả bên trong và bên ngoài nhằm bán sản phẩm, hàng hoá sản xuất trong
nớc ra nớc ngoài thu ngoại tệ, qua đó có thể đẩy mạnh sản xuất hàng
hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định từng bớc nâng cao
mức sống nhân dân. Do vậy, xuất khẩu là hoạt động kinh tế đối ngoại
để đem lại những hiệu quả đột biến cao hoặc có thể gây thiệt hại vì nó
phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà chủ thể
trong nớc tham gia xuất khẩu không dễ dàng khống chế đợc.
Xuất khẩu hàng hoá nằm trong lĩnh vực phân phối và lu thông
hàng hoá của một quá trình tái sản xuất mở rộng, nhằm mục đích liên
kết sản xuất với tiêu dùng của nớc này với nớc khác. Nền sản xuất xã
hội phát triển nh thế nào phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động kinh doanh
này.
Đối với nớc ta, nền kinh tế đang bớc đầu phát triển, cơ sở vật chất kỹ
thuật còn thấp kém, không đồng bộ, dân số phát triển nhanh nên việc
đẩy mạnh xuất khẩu thu ngoại tệ cải thiện đời sống và phát triển kinh tế
là cực kỳ quan trọng. Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng phát triển quan hệ
đối ngoại và kinh tế đối ngoại đặc biệt hớng mạnh vào xuất khẩu hàng
hoá là một chủ chơng đúng đắn phù hợp với quy luật kinh tế khách
quan. Hơn bao giờ hết, xuất khẩu hàng hoá thực sự có vai trò quan
trọng, cụ thể là:
Thứ nhất: Hoạt động xuất khẩu tạo nguồn vốn ngoại tệ quan
trọng để đảm bảo nhu cầu nhập khẩu.
Trong kinh doanh quốc tế, xuất khẩu không phải là chỉ để thu ngoại
tệ về, mà là với mục đích đảm bảo cho nhu cầu nhập khẩu hàng hoá
dịch vụ khác nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng, tăng trởng nền kinh tế
và tiến tới xuất siêu (xuất khẩu > nhập khẩu), tích luỹ ngoại tệ (thực
chất là đảm bảo chắc chắn hơn nhu cầu nhập khẩu trong tơng lai).
Xuất khẩu và nhập khẩu trong thơng mại quốc tế vừa là điều kiện,
vừa là tiền đề của nhau xuất khẩu để nhập khẩu và nhập khẩu để phát
triển xuất khẩu. Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế nớc ta hiện nay, để
phát triển kinh tế, tránh đợc nguy cơ tụt hậu với thế giới, đồng thời còn
tìm cách đuổi kịp thời đại, Đảng và Nhà nớc ta đã đề ra công cuộc công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc. Trong đó nhập khẩu máy móc, thiết
bị, công nghệ hiện đại là một điều kiện tiên quyết. Muốn nhập khẩu,
chúng ta phải có ngoại tệ, có các nguồn ngoại tệ sau:
- Xuất khẩu hàng hoá. dịch vụ.
- Viện trợ đi vay, đầu t
- Liên doanh đầu t nớc ngoài với ta.
- Các dịch vụ thu ngoại tệ: ngân hàng, du lịch
Có thể thấy rằng, trong các nguồn trên thì xuất khẩu hàng hoá, dịch
vụ là nguồn quan trọng nhất vì: nó chiếm tỷ trọng lớn, đồng thời là khả
năng bảo đảm trả đợc các khoản đi vay, viện trợ trong tơng lai. Nh
vậy cả về dài hạn và ngắn hạn, xuất khẩu luôn là câu hỏi quan trọng
cho nhập khẩu.
Thứ hai: Hoạt động xuất khẩu phát huy đợc các lợi thế của đất
nớc.
Để xuất khẩu đợc, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu phải lựa
chọn đợc những ngành nghề, mặt hàng có tổng chi phí (chi phí sản
xuất và chi phí xuất khẩu) nhỏ hơn giá trị trung bình trên thị trờng thế
giới. Họ phải dựa vào những ngành hàng, những mặt hàng khai thác đ-
ợc các lợi thế của đất nớc cả về tơng đối và tuyệt đối. Ví dụ nh trong
các mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của ta thì dầu mỏ, thuỷ sản, gạo, than
đá là những mặt hàng khai thác lợi thế tuyệt đối nhiều hơn (vì chỉ một
số nớc có điều kiện để sản xuất các mặt hàng này). Còn hàng may mặc
khai thác chủ yếu lợi thế so sánh về giá nhân công rẻ. Tuy nhiên, phân
biệt lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh chỉ mang ý nghĩa tơng đối.
Hoạt động xuất khẩu vừa thúc đẩy thai thác các lợi thế của đất nớc
vừa làm cho việc khai thác đó có hiệu quả hơn vì khi xuất khẩu, các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu có ngoại tệ để nhập máy móc, thiết bị
tiên tiến đa năng suất lao động lên cao. Các lợi thế cần khai thác ở nớc
ta là nguồn lao động dồi dào, cần cù, giá thuê rẻ, nguồn tài nguyên
thiên nhiên phong phú và địa thế địa lý đẹp.
Thứ ba: Hoạt động xuất khẩu góp phần làm chuyển dịch cơ cấu
sản xuất, định hớng sản xuất, thúc đẩy tăng trởng kinh tế.
Chúng ta biết rằng có hai xu hớng xuất khẩu: xuất khẩu đa dạng và
xuất khẩu mũi nhọn.
Xuất khẩu đa dạng là có mặt hàng nào xuất khẩu đợc thì xuất khẩu
nhằm thu đợc nhiều ngoại tệ nhất, nhng với mỗi mặt hàng thì lại nhỏ bé
về quy mô, chất lợng thấp (vì không đợc tập trung đầu t) nên không
hiệu quả.
Xuất khẩu hàng mũi nhọn: Tuân theo quy luật lợi thế so sánh của
David Ricardo tức là tập trung vào sản xuất và xuất khẩu những mặt
hàng mà mình có điều kiện nhất, có lợi thế so sánh hay chính là việc
thực hiện chuyên môn hoá và phân công lao động quốc tế. Khi đó, nớc
ta có khả năng chiếm lĩnh thị trờng, trở thành "độc quyền" mặt hàng đó
và thu lợi nhuận siêu ngạch. Xuất khẩu mũi nhọn có tác dụng nh đầu
của một con tàu, tuy nhỏ bé nhng nó có động cơ, do đó nó có thể kéo
cả đoàn tàu tiến lên. Hiện nay, đây là hớng xuất khẩu chủ yếu của nớc
ta, có kết hợp với xuất khẩu đa dạng để tăng thu ngoại tệ.
Và khi mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn đem lại hiệu quả cao thì các
doanh nghiệp sẽ tập trung đầu t để phát triển ngành hàng đó, dẫn đến
phát triển các ngành hàng có liên quan. Ví dụ: Khi ngành may xuất
khẩu phát triển làm cho ngành dệt cũng phát triển để cung cấp nguyên
vật liệu cho ngành may dẫn đến ngành trồng bông, đay cũng phát triển
để cung cấp nguyên vật liệu cho ngành dệt.
Hơn nữa, xu hớng xuất khẩu là mũi nhọn làm thay đổi cơ cấu các
ngành sản xuất trong nền kinh tế vì cơ cấu một nền kinh tế chính là số
lợng các ngành sản xuất và tỷ trọng của chúng so với tổng thể.
Rõ ràng, tỷ trọng ngành hàng mũi nhọn là tăng lên và tăng mạnh
còn trong nội bộ ngành đó thì những khâu, những loại sản phẩm a
chuộng trên thị trờng thế giới cũng sẽ phát triển hơn. Tức là xuất khẩu
hàng mũi nhọn làm thay đổi cơ cấu ngành và cả cơ cấu trong nội bộ
một ngành theo hớng khai thác tối u lợi thế so sánh của đất nớc.
Mặt khác, trên thị trờng thế giới yêu cầu về hàng hoá dịch vụ ở mức
chất lợng cao, cạnh tranh gay gắt. Chỉ có các doanh nghiệp đủ mạnh ở
mỗi nớc mới tham gia thị trờng thế giới. Do đó, các doanh nghiệp kinh
doanh xuất nhập khẩu phải nâng cao chất lợng sản phẩm, giảm chi phí
để tồn tại và phát triển.
Toàn bộ các tác động trên làm cho nền kinh tế phát triển tăng trởng
theo hớng tích cực. Đó là ý nghĩa kinh tế của hoạt động xuất khẩu.
Thứ t: Giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao động, tạo thu
nhập và tăng mức sống.
Về ngắn hạn, để tập trung phát triển các ngành hàng xuất khẩu thì
phải cần thêm lao động, còn để xuất khẩu có hiệu quả thì phải tận dụng
đợc lợi thế lao động nhiều, giá rẻ ở nớc ta. Chính vì thế mà chúng ta
chủ trơng phát triển ngành nghề cần nhiều lao động nh ngành may
mặc. Với một đất nớc hơn 70 triệu dân, tỷ lệ thất nghiệp tơng đối cao
thì đây là một vấn đề có ý nghĩa rất lớn trong điều kiện nớc ta hiện nay.
Thứ năm: Hoạt động xuất khẩu nâng cao uy tín nớc ta trên thị tr-
ờng thế giới tăng cờng quan hệ kinh tế đối ngoại.
Hoạt động xuất khẩu đem lại ngoại tệ, góp phần làm cân bằng cán
cân thanh toán, là một trong bốn điều kiện đánh giá nền kinh tế của
một nớc: GDP, lạm pháp, thất nghiệp và cán cân thanh toán. Cao hơn
nữa là xuất siêu, tăng tích luỹ ngoại tệ, luôn đảm bảo khả năng thanh
toán với đối tác, tăng đợc tín nhiệm. Qua hoạt động xuất khẩu, hàng
hoá Việt Nam đợc bầy bán trên thị trờng thế giới, khuyếch trơng đợc
tiếng vang và sự hiểu biết.
Hoạt động xuất khẩu làm cho các quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn, làm
tiền đề thúc đẩy các hoạt động kinh tế đối ngoại khác nh dịch vụ du
lịch, ngân hàng, đầu t, hợp tác, liên doanh
Tóm lại : phát triển hoạt động xuất khẩu là một chiến lợc để phát
triển nền kinh tế nớc ta.
II. xuất khẩu hàng may mặc của việt nam.
1. Vai trò của XK hàng may mặc đối với Việt Nam
Trớc khi tìm hiểu vai trò của xuất khẩu chúng ta phải xác định đợc
nhiệm vụ của chúng đó là:
- Phải biết khai thác có hiệu quả lợi thế của đất nớc, kích thích các
ngành kinh tế phát triển.
- Phải góp phần tăng tích luỹ, mở rộng sản xuất tăng thu nhập cho
nền kinh tế quốc dân.
- Xuất khẩu là cải thiện đời sống nhân dân thông qua việc tạo công
ăn việc làm, tạo nguồn thu nhập.
- Phải biết khai thác những thị trờng hiện có và quan tâm tới thị tr-
ờng cha đợc khai thác.
- Lợi dụng khối lợng mua hàng lớn lao của nớc ngoài.
- Tìm thị trờng cho sản phẩm khi lợng bán giảm sút.
- Biết đợc những phơng pháp kỹ thuật tiên tiến đợc sử dụng ở nớc
ngoài.
- Theo dõi sự cạnh tranh của các đối thủ có sản phẩm cùng loại trên
thị trờng.
Ngoài ra hoạt động kinh doanh xuất khẩu còn phải có nhiệm vụ góp
phần thực hiện tốt chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nớc: Đa
dạng hoá và đa phơng hoá quan hệ quốc tế, tăng cờng hợp tác khu vực
.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ kể trên thì công tác xuất khẩu phải nhận
rõ các vai trò quan trọng sau:
- Thu ngoại tệ về cho đất nớc, đây là nguồn vốn quan trọng để thoả
mãn nhu cầu nhập khẩu và tích luỹ phát triển sản xuất. Thật vậy, nhập
khẩu cũng nh vốn đầu t của một nớc thờng dựa vào ba nguồn chủ yếu là
viện trợ, đi vay, xuất khẩu.
- Xuất khẩu là công cụ giải quyết thất nghiệp trong nớc; theo
International Trade 1980-1990 ở Mỹ và các nớc công nghiệp phát triển
cứ xuất khẩu 1tỷ USD thì tạo đợc 40 nghìn việc làm trong nớc, còn ở
các nớc t bản đang phát triển khác có thể tạo ra 45-50 nghìn chỗ việc
làm. ở nớc ta nền công nghiệp còn lạc hậu, năng suất lao động thấp
nên xuất khẩu 1 tỷ USD thì sẽ tạo đợc trên 50 nghìn chỗ làm việc trong
nớc.
- Xuất khẩu làm tăng hiệu quả sản xuất trong nớc và tăng hiệu quả
sử dụng vốn thông qua tác động ngợc chiều đối với việc đổi mới trang
thiết bị hiện đại và phơng thức quản lý tiên tiến.
- Khai thác các tiềm năng, phát huy các lợi thế của đất nớc, kích
thích các ngành lts phát triển cả về quy mô lẫn chiều sâu. Đặc biệt là
sự tác động đến sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế theo hớng ngày càng
sử dụng có hiệu quả các lợi thế đất nớc. Phát triển các ngành công
nghiệp, áp dụng kỹ thuật tiên tiến giúp có thêm nguồn lức công nghiệp
mới, tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí lao động xã hội.
- Tạo điều kiện mở rộng thị trờng tiêu thụ hàng hoá của quốc gia.
- Đẩy mạnh xuất khẩu còn có vai trò tăng cờng sự hợp tác quốc tế
giữa các nớc, nâng cao địa vị và uy tín của Việt Nam trên thơng trờng
quốc tế. Nhờ có những hàng xuất khẩu mà nhiều Công ty nớc ngoài biết
đến năng lực của ta và sẵn sàng thiết lập quan hệ buôn bán và đầu t.
Nh vậy, xuất khẩu nó không chỉ đóng vai trò xúc tác, hỗ trợ phát
triển mà nó có thể thành yếu tố bên trong của sự phát triển; trực tiếp
tham gia vào việc giải quyết các vấn đề bên trong của nền kinh tế quốc
dân nh vốn, kỹ thuật, lao động, nguyên liệu, thị trờng
2. Về thị trờng may mặc Việt Nam.
2.1. thị trờng EU:
Thị trờng EU với dân số 340 triệu là nơi tiêu thụ lớn và đa dạng các
loại quần áo. Mức tiêu thụ thị trờng này là khá cao: 17 kg / ngời / năm.
Hàng hoá từ các nớc nh Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Hồng Kông, Đài Loan
chiếm khá nhiều. Hàng năm EU nhập khoảng 63 tỷ USD quần áo vừa
qua hạn ngạch, EU dành cho công nghệ dệt may ớc tính trị giá khoảng
450 triệu USD và hiệp định ký cho giai đoạn tới sẽ tăng 40% và so với
giá trị hiệp định cũ. Đây là thị trờng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam
nhng vừa qua trong năm 2000-2001 nền kinh tế EU cũng có khủng
hoảng do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng châu á nên kim ngạch Xuất
khẩu sang EU có giảm xút còn hạn ngạch gia công thuần tuý vẫn giữ
nguyên. Qua 10 năm thực hiện hiệp định buôn bán hnàg dệt may với
EU sản xuất hàng may mặc với Việt Nam sang thị trờng này đã có bơcs
tiến vững chắc. Số liệu theo dõi ở bảng dới đây
Bảng 5: Một số chủng loại hàng đạt mức xuất khẩu cao của Việt Nam
vào EU qua các năm (Đơn vị: Triệu chiếc)
Tên hàng Chủng
loại
2000 2001 2002
Jacket Cat 21 8,9 9,4 11,7
T- Shirt Cat 4 2,9 3,71
áo len Cat 5 1,65 1,81
Quần Cat 6 1,65 2,4
áo sơ mi nữ Cat 7 0,91 1,49
áo khoách nữ Cat 15 0,13 0,17
áo dài nữ Cat 26 0,19 0,39
Váy ngắn Cat 27 0,14 0,23
(Nguồn: Tổng Công ty Dệt-May Việt Nam.)
Cũng nh các năm trớc đây mặt hàng áo Jacket luôn chiếm tỷ trọng
lớn trong cơ cấu xuất khẩu may mặc đi EU và thờng chiếm 50% trong
tổng kim ngạch. Chất lợng hàng may mặc Việt Nam đã đợc khách hàng
chấp nhận, chỉ tính riêng năm 2000 hàng dệt-may Việt Nam đã xuất
sang tất cả các nớc EU với giá trị hàng trăm triệu USD, đứng đầu là
Đức ( 150 triệu USD), Pháp (60 triệu USD), Tây Ban Nha ( 16 triệu
USD), Bỉ ( 10 triệu USD), Thuỵ Điển (7,5 triệu USD), Bồ Đào Nha ( 1,3
triệu USD) đã chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc
Việt Nam
Thị trờng may mặc EU có tiềm năng và triển vọng rất lớn đối với
các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, để có đợc điều đó, các doanh
nghiệp Việt Nam phải tuân thủ những quy định khá nghiêm ngặt khi
xuất khẩu vào thị trờng này nh:
- Không đợc mua bán, chuyển nhợng hạn ngạch để xuất khẩu các
mặt hàng có xuất xứ từ các nớc khác vào EU.
- Các doanh nghiệp Việt Nam không đợc lợi dụng thuế u đãi, giá
nhân công trong nớc rẻ để bán hàng rẻ hơn mức giá hiện hành gây bất
lợi cho các nhà sản xuất cùng loại hàng đó hoặc các mặt hàng trực tiếp
bị cạnh tranh của EU. Có thể sẽ bị áp dụng quy định cụ thể đã đợc hai
bên thoả thuận.
- Các doanh nghiệp Việt Nam không đợc phép bán hàng cho nớc thứ
ba để tái xuất vào EU.
- Đối với hàng gia công tại Việt Nam khi xuất sang EU phải ghi rõ
phí gia công, giá trị nguyên vật liệu mua tại Việt Nam để làm căn cứ
giảm thuế nhập khẩu vào EU.
Trong hiệp định cũng quy định rõ danh mục hàng hoá và kim
ngạch mà Việt Nam đa vào EU ( tổng cộng 151 nhóm mặt hàng với
108 nhóm theo hạn ngạch và 43 nhóm tự do). Hạn ngạch năm trớc
không dùng hết có thể chuyển sang năm sau. Đặc biệt trong hiệp định
này còn quy định hàng năm Việt Nam và EU sẽ xem xét khả năng xuất
khẩu của Việt Nam để nới lỏng hạn ngạch cấp cho Việt Nam. Bởi vậy,
đây là thị trờng tiềm năng lớn, các doanh nghiệp của ta cần tuân thủ tốt
các quy định này, tránh làm tổn hại đến quan hệ buôn bán giữa nớc ta
và cộng đồng kinh tế Châu Âu.
1.2. Thị trờng Nhật Bản
Nhật Bản là một thị trờng nhập khẩu may mặc lớn thứ ba thế giới và
đây là thị trờng phi hạn ngạch. Nhng đây cũng là một thị trờng khó tính
với những đòi hỏi khắt khe cả về chất lợng và giá cả, họ thờng yêu cầu
kiểm tra chất lợng chi tiết và quan tâm nhiều tới mẫu mốt. Ví dụ nh:
- Đồ lót, tất: mốt chiếm 70,5%
- Quần áo nữ: 56,4%là mốt; 37,5% là giá và còn lại là phẩm chất.
- Comple nam: 50% là phẩm chất; 43,7% là mốt và còn lại là giá
cả.
Với dân số khoảng 120 triệu ngời và mức thu nhập bình quân đầu
ngời 26 nghìn USD/năm thì nhu cầu về may mặc là không nhỏ, hàng
năm Nhật Bản nhập khẩu khoảng 7-8 tỷ USD hàng may mặc. Năm
1994 hàng may Việt Nam xuất sang Nhật xấp xỉ 130 triệu USD, năm
1996 xuất sang Nhật chiếm 90% kim ngạch của mảng thị trờng không
hạn ngạch và đạt 500 triệu USD. Mặt khác, xuất sang Nhật thờng là áo
Jacket, quần áo sơ mi do các đơn vị phía Bắc gia công, áo Kimono do
các đơn vị phía Nam thực hiện.
Đây tuy là thị trờng đòi hỏi cao song cũng đầy hứa hẹn, nếu nh đầu
t tốt, nâng cao đợc chất lợng, mẫu mã phong phú, màu sắc đa dạng,
nắm vững thị hiếu thì có khả năng hàng may mặc của ta sẽ phát triển
mạnh ở thị trờng này.
1.3. Thị trờng Hoa Kỳ và Bắc Mỹ
Mỹ là thị trờng khá hấp dẫn, lý tởng của ngành dệt-may vì dân số
Mỹ khá đông, hiện có 253 triệu ngời, đa số sống ở thành thị có mức thu
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét