Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Dịch vụ còn được hiểu là hoạt động tạo ra các sản phẩm vô hình và
không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn
liền với sản phẩm vật chất cũng có thể là không gắn liền với sản phẩm vật
chất nhủ gửi tiền vào ngân hàng, đi du lịch, dịch vụ khám bệnh có bán thuốc
kèm theo, dịch vụ làm đẹp, dịch vụ bảo hành, dịch vụ tư vấn pháp luật, dịch
vụ đào tạo…
Dịch vụ cũng được định nghĩa là là phần mềm của sản phẩm, là sự hỗ
trợ cho khách hàng trước trong và sau khi bán hàng hoặc dịch vụ là một công
việc cho người khác hay cộng đồng, là một việc mà hiệu quả của nó đáp ứng
một nhu cầu nào đó của con người như: vận chuyển, cung cấp nước, sửa chửa,
bảo dưỡng thiết bị máy móc, dịch vụ tư vấn của luật sư, du lịch…
Có quan điểm khác lại cho rằng: dịch vụ là hoạt động có ích của con
người nhằm tạo ra những sản phẩm dịch vụ, không tồn tại dưới dạng vật
phẩm, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhămg thỏa mãn đầy đủ, kịp
thời, thuận tiện, văn minh các nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội.
Theo cách định nghĩa của Philip kotler thì dịch vụ là mọi hành động và
kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và
không dẫn đến chuyển quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể
có hay không gắn với sản phẩm vật chất cụ thể.
Các định nghĩa trên đều đúng tuy nhiên theo cách chung nhất chúng có
hai cách hiểu sau:
Theo nghĩa rộng, dịch vụ được coi là lĩnh vực kinh tế thứ ba trong nền
kinh tế quốc dân ngoài hai ngành kinh tế là ngành công nghiệp và ngành nông
nghiệp
Theo nghĩa hẹp, dịch vụ là những hoạt động nhằm hỗ trợ cho quá trình
kinh doanh, bao gồm các hỗ trợ trước, trong và sau khi bán , là phần mềm của
sản phẩm được cung ứng cho khách hàng.
Ngoài ra khi tiến hành hoạt động kinh doanh dịch vụ chúng ta cần quan
tâm tới cách tiếp cận về khái niệm dịch vụ theo luật Thương mại.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Theo cách tiếp cận của luật thương mại thì cung ứng dịch vụ là hoạt
động thương mại, theo đó một bên (còn gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa
vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch
vụ (còn gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ
và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.
Từ đó ta có thể hiểu hoạt động cung ứng dịch vụ tư vấn, đào tạo là hoạt
động theo đó bên cung ứng dịch vụ (doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ) là các
chuyên gia tư vấn có nghĩa vụ cung cấp các kiến thức liên quan đến nội dung
mà khách hàng cần tư vấn và nhận thanh toán còn bên sử dụng dịch vụ (khách
hàng) thì tiếp nhận các kiến thức đó và thanh toán theo thỏa thuận.
1.2. Phân loại dịch vụ
Phân loại dịch vụ là một nghiệp vụ rất quan trọng trong hoạt động kinh
doanh dịch vụ. Chúng ta đều thừa nhận rằng do đặc điểm của dịch vụ mà bản
thân nó rất trừu tượng giữa các loại dịch vụ rất khó phân biệt chẳng hạn như
giữa dịch vụ khách sạn và dịch vụ nhà nghỉ, giữa dịch vụ tư vấn và dịch vụ cố
vấn, giữa giám định và giám sát kiểm tra… cần phải xác định được phạm vi
của từng loại và thỏa mãn nhu cầu nào thuộc lớp người nào, tổ chức nào trong
đời sống kinh tế xã hội. Sự phân loại dịch vụ giúp cho các doanh nghiệp xác
đinh đúng đắn và có hiệu quả các chiến lược kinh doanh để khai thác triệt để
các nguồn lực cho sản xuất cung ứng dịch vụ, thu hút khách hàng và thỏa mãn
tối đa nhu cầu của họ. Sau đây là một số cách phân loại chủ yếu
1.2.1. Phân loại theo phương pháp loại trừ
Dịch vụ là một bộ phận của nền kinh tế ngoài ngành công nghiệp và
ngành nông nghiệp. Như vậy bất cứ loại sản xuất nào không rơi vào hai ngành
kinh tế nói trên đều thuộc dịch vụ bao gồm:
• Thương mại
• Vận chuyển, phân phối, lưu kho
• Ngân hàng, bảo hiểm
• Kinh doanh bất động sản
• Dịch vụ bưu chính viễn thông
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
• Dịch vụ công cộng, dịch vụ khối công quyền
• Dịch vụ chăm sóc sức khỏe
• Dịch vụ y tế
• Dịch vụ du lịch, giải trí
• Dịch vụ đào tạo, tư vấn…
1.2.2. Phân loại theo mức độ liên hệ với khách hàng
Hoạt động dịch vụ luôn có sự liên hệ với khách hàng song mức độ liên
hệ đó là khác nhau. Có loại dịch vụ người cung ứng phải thường xuyên liên
lạc trực tiếp với khách hàng thu nhận thông tin để thực hiện dịchvụ. Ngược
lại, có loại dịch vụ liên hệ với khách hàng thấp dịch vụ được thực hiện không
có thông tin phản hồi. Sau đây ta tham khảo theo trình tự các loại dịch vụ từ
mức liên lạc cao tới mức liên lạc thấp
Mức liên lạc cao
a) Dịch vụ thuần túy:
• Chăm sóc sức khỏe
• Dịch vụ khách sạn
• Giao thông công cộng
• Đào tạo
• Nhà hàng
b) Dịch vụ pha trộn
• Ngân hàng
• Dịch vụ về bất động sản
• Dịch vụ máy tính – bưu điện
• Dịch vụ tang lễ
• Du lịch
c) Dịch vụ bao hàm sản xuất
• Hàng không
• Dịch vụ khối công quyền
• Dịch vụ sửa chữa
• Dịch vụ thương nghiệp
Mức liên lạc thấp
1.2.3. Phân loại theo các mảng dịch vụ
Dựa vào những đặc tính riêng biệt của các loại dịch vụ mà chúng ta có
thể phân loại dịch vụ theo các mảng khác nhau.
1.2.4. Phân loại theo WTO
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Theo cách phân loại của WTO thì dịch vụ được chia làm mười hai
ngành dịch vụ chính sau:
• Dịch vụ kinh doanh
• Dịch vụ liên lạc
• Dịch vụ xây dựng và thi công
• Dịch vụ phân phối
• Dịch vụ giáo dục
• Dịch vụ môi trường
• Dịch vụ tài chính
• Các dịch vụ liên quan tới sức khỏe và các dịch vụ xã hội
• Các dịch vụ giải trí và thể thao
• Các dịch vụ vận tải
• Các dịch vụ khác
1.3. Các đặc điểm của hoạt động kinh doanh dịch vụ
Xét về bản chất, sản phẩm dịch vụ có rất nhiều điểm khác biệt so với
sản phẩm vật chất, những điểm khác biệt đó khiến các nhà kinh doanh dịch vụ
khi tiến hành hoạt động kinh doanh không thể bỏ qua. So với sản phẩm vật
chất sản phẩm dịch vụ có những đặc điểm khác biệt sau đây:
Thứ nhất, các dịch vụ đều vô hình. Không giống như các sản phẩm vật
chất, dịch vụ không thể nhìn thấy được, không cảm thấy được, không nghe
thấy được hay không ngửi thấy được trước khi mua chúng. Người đi căng da
mặt không nhìn thấy trước được kết quả trước khi mua dịch vụ đó, cũng như
người đi cắt tóc không thể nhìn thấy trước được kết quả mái tóc của mình sẽ
như thế nào khi mà dịch vụ đó chưa tiến hành. Để giảm bớt mức độ không
chắc chắn người mua sẽ tìm kiếm những dấu hiệu hay bằng chứng về chất
lượng của dịch vụ. Họ sẽ suy diễn chất lượng cuả dịch vụ từ địa điểm. con
người, trang thiết bị, tài liệu thông tin, biểu tượng và giá cả mà họ thấy. Vì
vậy, nhiệm vụ của người cung ứng dịch vụ là vận dụng những bằng chứng để
làm cho cái “ vô hình trở thành cái hữu hình” tức là phải cố gắng đưa lên
được bằng chứng vật chất và hình tượng hóa món hàng của mình.
Thứ nhất, Sản phẩm dịch vụ là các sản phẩm vô hình chúng ta không
thể đánh giá chất lượng dịch vụ thông qua các thông số kỷ thuật hay các tiêu
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
chuẩn đánh giá chất lượng nhất định như các sản phẩm vật chất. Nếu sản
phẩm vật chất chúng ta có thể sờ mó, nhìn thấy, xác định các định các tiêu
chuẩn kỷ thuật. Một trong những bước đầu tiên phải làm để đảm bảo sản xuất
bất cứ sản phẩm nào là viết ra quy cách của sản phẩm với đầy đủ các kích
thước và thuộc tính, một vài mô tả mơ hồ không đủ để người khác tái tác ra
sản phẩm đó. Khách hàng khi đánh giá một sản phẩm vật chất sẽ dựa vào các
chỉ tiêu kỷ thuật hoặc các chỉ tiêu chất lượng một các rõ ràng như khi khách
hàng mua một chiếc xe hơi sẽ nghiên cứu những quy cách của xe bao gồm
hình thức như chiều dài, chiều rộng, màu sắc kích thước của xe và các thuộc
tính của xe như tốc độ, độ tiêu thụ xăng của xe, một số thông số kỷ thuật
khác. Nhưng đối với sản phẩm dịch vụ chúng ta không thể sờ mó hay nhìn
thấy thì việc đánh giá, đo lường hay xác định sản phẩm ấy chủ yếu dựa vào
cảm giác, kinh nghiệm. Khi mua sản phẩm dịch vụ dựa vào kinh nghiệm thì
dù loại hình dịch vụ đó liên quan đến loại hình dịch vụ nào, dù hào hứngm
thư giãn, thơ mộng hay vui nhộn thì việc xác định dịch vụ đó vẫn rất khó
khăn. Ngay cả nếu có những số đo lường khác nhau thì những số đo đó vẫn có
khuynh hướng mô tả các bối cảnh hay điều kiện cung cấp dịch vụ chứ không
phải là xác định thực tế của một dịch vụ. Theo cách mà khách hàng nhận thức
dịch vụ đó như thế nào thì dịch vụ đó cũng được sản xuất theo cùng một cách
trong hai tình huống khác nhau vẫn có những điểm khác biệt, tùy theo tâm
trạng của khách hàng. Một người khách hàng hưng phấn sẽ có khuynh hướng
nhận xét sự kiện nào đó theo cái nhìn thuận lợi hơn là một khách hàng đang
cáu kỉnh. Như vậy vì dịch vụ là sản phẩm vô hình nên chúng ta không thể
kiểm tra chất lượng dịch vụ theo cách phân tích kỷ thuật hay theo tiêu chuẩn
chất lượng nhất định như các sản phẩm hàng hóa vật chất mà việc đánh giá
chất lượng dịch vụ thông qua cảm quan của người nhận dịch vụ.
Thứ hai, hoạt động sản xuất hàng hóa vật chất tạo ra các sản phẩm hàng
hóa vật chất. Các sản phẩm này khi sản xuất ra thì cần có một khoảng thời
gian lưu kho, dự trữ và được bảo quản trước khi được chuyển đến tay người
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tiêu dùng mặt khác người ta có thể dự trữ sản phẩm vật chất để làm phần đệm,
điều chỉnh cho sự thay đổi thất thường của thị trường. Ví dụ khi sản xuất ra
sản phẩm tủ lạnh thì trước khi sản phẩm đó đến tay người tiêu dùng thì nó có
một khoảng thời gian dự trữ trong kho hàng của đơn vị sản xuất, sau đó được
dự trữ trong lĩnh vực lưu thông trước khi tới tay người tiêu dùng nó phải được
bảo quản cẩn thận ở trong kho hàng. Còn đối với sản phẩm dịch vụ là sản
phẩm vô hình nên việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời, sản
phẩm dịch vụ không thể cất giữ được ở trong kho, để làm phần đệm, điều
chỉnh cho sự thay đổi thất thường của nhu cầu thị trường.
Thứ ba, hoạt động sản phẩm vật chất tạo ra những sản phẩm hàng hóa
vật chất. Sản phẩm hàng hóa vật chất có chất lượng cao, hiện đại, tiện dụng,
thỏa mãn tốt các nhu cầu của khách hàng tạo ra uy tín nhãn hiệu cho hãng sản
xuất kinh doanh. Khi lựa chọn mua một sản phẩm hàng hóa vật chất khách
hàng có thể dựa vào thương hiệu, nhãn hiệu… mà mua sản phẩm hàng hóa
không cần biết chủ hãng sản xuất. Cùng một dòng sản phẩm nào đó có thể
thỏa mãn nhu cầu giống nhau hoặc tương tự nhau của một nhóm khách hàng.
Ví dụ với dòng xe BMW X5, màu đen chẳng hạn đã có thể đáp ứng được nhu
cầu của một số lớn khách hàng.Còn đối với sản phẩm dịch vụ lại phụ thuộc
rất lớn vào chất lượng tiếp xúc tương tác qua lại giữa người làm dịch vụ và
người được phục vụ. Chúng ta sẽ thấy trong việc cung cấp dịch vụ tư vấn sức
khỏe sẽ không có hai bệnh nhân hoàn toàn giống nhau và buổi tư vấn của bác
sỹ dài hay ngắn tùy thuộc vào từng bệnh nhân tham vấn. Ngay cả nếu cùng
một bệnh nhân ở hai buổi tư vấn khác nhau thì dịch vụ tư vấn đó cũng khác
nhau đó là do tâm trạng của bác sỹ cũng như bệnh nhân ở hai giai đoạn đó là
khác nhau. Hay đối với dịch vụ làm đầu, tùy từng khách hàng khác nhau mà
sẽ có những dịch vụ như gội đầu chăm sóc tóc khác nhau. Mức độ hài lòng
của khách vào cùng dịch vụ của cùng một người cung ứng cũng khác nhau. Vì
chất lượng dịch vụ phụ thuộc rất lớn vào chất lượng tiếp xúc của người cung
ứng và khách hàng sử dụng dịch vụ nên tâm trạng đóng vai trò hết sức quan
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
trọng cho sự chuyển giao một sản phẩm dịch vụ nào đó. Khi ai đó đang bận
rộn và cảm giác không khỏe thì việc giao dịch đó có thể bị ảnh hưởng. Ngay
cả trong cùng một ngày, như người tiếp tân buổi sáng còn vui vẻ và sẵn sàng
giúp đỡ thì chiều tối đã quá mệt mỏi, bực dọc và chẳng muốn tác động gì để
giúp đỡ ai nữa. Ở đây không ngoại trừ các phương tiện của hoạt động dịch vụ,
những điều kiện và sản phẩm kèm theo, cũng như các dịch vụ bổ sung khác,
nhưng cái đọng lại cho người được dịch vụ vẫn là quan hệ giao tiếp, sự đáp
ứng đầy đủ , kịp thời, thuận tiện và văn minh những nhu cậu, yêu cầu và lòng
mong muốn của khách hàng đối với những dịch vụ và người làm dịch vụ trực
tiếp phục vụ khách hàng.
Thứ tư, trong hoạt động sản xuất vật chất vì nơi sản xuất và nơi tiêu
dùng là khác nhau nên sản phẩm vật chất có thể tạo ra ở nơi này và mang đến
mọi nơi có nhu cầu. Còn dịch vụ thì sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời
và cùng một địa điểm nên hoạt động dịch vụ đòi hỏi phải được đáp ứng đúng
địa điểm cần thiết. Ở những thời điểm, cụ thể khi hoạt động dịch vụ tăng lên
nhanh chóng, cần phải tổ chức hoạt động dịch vụ sao cho đáp ứng đầy đủ, kịp
thời, thuận tiện và văn minh cho khách hàng.
Những đặc điểm được nêu ra ở trên là những điểm khác biệt giữa sản
phẩm vật chất với sản phẩm dịch vụ mà các nhà kinh doanh khi tiến hành hoạt
động kinh doanh dịch vụ cần chú ý để kinh doanh đạt hiệu quả cao.
Ngoài ra đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tư vấn, đào tạo thì
cần chú ý đến những đặc điểm sau của dịch vụ tư vấn, đào tạo. Như các dịch
vụ khác dịch vụ tư vấn cũng mang tính vô hình nhưng điểm khác biệt của
dịch vụ tư vấn với các dịch vụ khác. Đầu tiên, chất lượng của dịch vụ tư vấn
không thể đánh giá ngay sau khi hoạt động cung ứng dịch vụ kết thúc mà nó
còn cần một khoảng thời gian nữa mới có thể biết được ví dụ một trung tâm
dạy nghề sau khi đào tạo ra một học viên thì không thể biết được ngay là học
viên đó có làm tốt công việc mà mình được đào tạo hay không mà còn phải có
thời xem đánh giá qua quá trình làm việc của họa viên đó. Thứ hai, hoạt động
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
cung ứng dịch vụ tư vấn, đào tạo là hoạt động truyền đạt những kiến thức mà
người cung ứng có về những lĩnh vực mà khách hàng cần yêu cầu đến cho
khách hàng, những kiến thức đó tùy theo nhận thức của từng người nó sẽ
được sử dụng khách nhau cho nên chất lượng dịch vụ tư vấn phụ thuộc rất lớn
vào người sử dụng dịch vụ.
1.4. Vai trò của hoạt động kinh doanh dịch vụ
Trong nền kinh tế, dịch vụ là loại hình hoạt động có mục đích phục vụ
cho các nhu cầu của đời sống xã hội, hoặc trợ giúp, hoàn thiện, phát triển quá
trình sản xuất kinh doanh. Mục đích của dịch vụ là để thu lợi nhuận cao thông
qua thỏa mãn nhanh chóng, kịp thời, đồng bộ, văn minh các nhu cầu của
khách hàng.
Trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, bên cạnh quy trình công nghệ
chủ yếu theo thiết kế hoặc nhiệm vụ chính được quy đinh còn cần có hàng
loạt các họat động phụ trợ khác. Những họat động phụ trợ này nhằm phục vụ
và tiếp tục hoàn thiện quá trình sản xuất chính như đóng gói, lắp đặt, sửa
chửa, bảo hành sản phẩm, cung cấp phụ tùng…đó là tất cả loại hình dịch vụ
của nhà sản xuất nhằm mục đích thỏa mãn tốt hơn các nhu cầu của khách
hàng đem lại doanh thu lớn hơn cho doanh nghiệp. Trong cơ chế thị trường,
cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các doanh nghiệp muốn bán nhanh hàng hóa
và chuyển giao luôn cả một số hoạt động dịch vụ cho các doanh nghiệp kinh
doanh thương mại. Đơn vị tiêu dùng lại cần đến đâu mua đến đó và mong
muốn được phục vụ tốt nhất, tiện lợi nhất. Bởi vậy, xu hướng dịch vụ tập
trung trong khâu lưu thông. Dịch vụ thương mại phát triển tỷ lệ thuận với sự
phát triển của sản xuất kinh doanh.
Như chúng ta đã biết, mỗi con người không phải khi sinh ra đã hiểu
biết mà cần phải được đào tạo thì họ mới có những am hiểu nhất định và mỗi
người chỉ am hiểu về một hoặc một số lĩnh vực, họ không thể hiểu hết được
tất cả các lĩnh vực trong xã hội chính vì vậy mà trong một số lĩnh vực muốn
làm tốt họ cần phải tham khảo ý kiến của những chuyên gia về lĩnh vực đó.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Có những ý kiến tư vấn từ các chuyên gia họ có thể xử lý công việc tốt hơn
hay có những ứng xử khôn khéo hơn tạo điều kiện để cho họ hoàn thành công
việc với hiệu quả cao hơn và có cuộc sống tốt hơn. Như vậy dịch vụ tư vấn
đào tạo góp phần giúp cho xã hội phát triển một cách toàn diện và bền vững.
Tóm lại, Dịch vụ nói chung và dịch vụ tư vấn, đào tạo nói riêng có vai
trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó góp phần nâng cao đời
sống xã hội, góp phần giúp cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.
2. NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ
TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
Kinh doanh là việc thực thiện một số hoặc toàn bộ các công đoạn của
quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên
thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận. Khi tiến hành bất cứ hoạt động kinh
doanh nào cũng đòi hỏi phải có các nguồn lực như con người, vốn, công nghệ
và các tài nguyên.
Mục tiêu chính của kinh doanh là thu lợi nhuận. Tuy nhiên để thu được
lợi nhuận lớn thì doanh nghiệp phải thõa mãn tốt nhu cầu của con người. Nhu
cầu của con người là vô cùng phong phú và đa dạng mà nguồn lực của doanh
nghiệp lại có hạn cho nên khi tiến hành hoạt động kinh doanh doanh nghiệp cần
phải xem xét nguồn lực hiện có của doanh nghiệp và nghiên cứu mục tiêu mà
doanh nghiệp cần đạt tới và từ đó quyết định sẽ tiến hành kinh doanh như thế
nào? Để trả lời cho câu hỏi đó doanh nghiệp cần phải trả lời ba câu hỏi sau: Sản
xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất những mặt hàng đó cho ai?
Để trả lời tốt cho những câu hỏi trên, thì doanh nghiệp kinh doanh ở
lĩnh vực dịch vụ phải thực hiện tốt các nội dung sau:
2.1. Nghiên cứu và xác định nhu cầu thị trường về loại dịch vụ mà doanh
nghiệp lựa chọn để kinh doanh
Nhu cầu của thị trường là vô hạn nhưng tiềm lực của doanh nghiệp là
có hạn vì thế cho dù doanh nghiệp đó có quy mô lớn, có tiềm lực tài chính
mạnh thì cũng không thể thỏa mãn tốt và bao quát được toàn bộ thị trường mà
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
doanh nghiệp chỉ có thể thỏa mãn một hoặc một số đoạn thị trường nhất định
bằng nhóm dịch vụ nào đó, vì vậy trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh,
doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trường và xác định thị trường và loại dịch
vụ mà doanh nghiệp sẽ tiến hành kinh doanh. Có rất nhiều loại hàng hóa, dịch
vụ khác nhau mà doanh nghiệp có thể tiến hành kinh doanh. Tuy nhiên doanh
nghiệp phải tiến hành nghiên cứu thị trường và xác định xem kinh doanh mặt
hàng nào là doanh nghiệp có nhiều cơ hội thành công nhất và có khả năng
thoải mãn tốt nhu cầu khách hàng và thu được lợi nhuận một cách tốt nhất.
Nghiên cứu thị trường và xác định nhu cầu thị trường về mặt hàng mà doanh
nghiệp sẽ kinh doanh phải trên cơ sở doanh nghiệp có đủ trình độ chuyên môn
về mặt hàng đó, có đủ tiềm lực tài chính cũng như các điều kiện khác để có
thể thỏa mãn tốt nhu cầu của thị trường từ đó doanh nghiệptiến hành hoạt
động kinh doanh. Việc nghiên cứu thị trường và nhu cầu của khách hàng về
mặt hàng mà doanh nghiệp lựa chọn kinh doanh không phải chỉ tiến hành một
lần trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh mà phải tiến hành thường xuyên
trong quá trình tồn tại và phát triển kinh doanh để nắm bắt được những thay
đổi của nhu cầu từ đó nắm bắt được các cơ hội kinh doanh một cách tốt hơn.
2.2. Xây dựng chiến lược kinh doanh
Sau khi nghiên cựu thị trường và xác định được mặt hàng doanh nghiệp
tiến hành kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải xây dựng và thực hiện kinh
doanh theo chiến lược. Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt doanh nghiệp
tiến hành kinh doanh theo chiến lược. Chiến lược kinh doanh có vai trò hết
sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, nó giúp cho
doanh nghiệp thấy rõ mục đích doanh nghiệp muốn đạt tới cũng như các
bước đi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời nó giúp cho
doanh nghiệp chủ động chuẩn bị tốt hơn các nguồn lực để có thể nắm bắt tốt
hơn các cơ hội xuất hiện trên thị trường và đối phó tốt hơn với những thay đổi
bất lợi của môi trường từ đó doanh nghiệp có thể gặt hái được nhiều thành
công hơn. Muốn xây dựng được chiến lược kinh doanh khả thi doanh nghiệp
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét