Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Hiệp định chung về thương mại dịch vụ

(b) đăng ký, công nhận và tiếp thu các tiêu chuẩn
chuyên môn; và
(c) sẵn sàng cung cấp công nghệ dịch vụ.
3. Các Thành viên chậm phát triển được ưu tiên đặc
biệt trong việc thực hiện khoản 1 và 2. Những khó
khăn nghiêm trọng của các nước chậm phát triển
trong việc chấp nhận các cam kết cụ thể đã được
đàm phán, có tính đến tình trạng kinh tế đặc biệt,
nhu cầu phát triển, thương mại và tài chính của họ.
Điều V Hội nhập kinh tế
1. Hiệp định này không ngăn cản bất kỳ Thành viên
nào gia nhập hoặc ký kết một Hiệp định tự do hóa
thương mại dịch vụ giữa hai hoặc nhiều Thành viên,
với điều kiện là hiệp định đó:
(a) có phạm vi thuộc về lĩnh vực chủ yếu1, và
(b) không quy định hoặc xóa bỏ mọi sự phân biệt đối
xử giữa hai hoặc nhiều bên, theo tinh thần của Điều
XVII, trong những lĩnh vực được nêu tại điểm (a),
thông qua:
(i) xóa bỏ những biện pháp phân biệt đối xử hiện có,
và/hoặc
(ii) cấm những biện pháp phân biệt đối xử mới hoặc
áp dụng thêm các biện pháp này
dù là tại thời điểm hiệp định đó có hiệu lực hoặc trên
cơ sở một lộ trình hợp lý, ngoại trừ những biện pháp
được phép áp dụng theo các Điều XI, XII, XIV và
XIV bis .
2. Khi đánh giá xem các điều kiện nêu tại điểm 1 (b)
có được đáp ứng không, có thể xem xét mối quan hệ
giữa hiệp định với tiến trình hội nhập kinh tế hoặc tự
do hóa thương mại rộng hơn giữa các nước liên
quan.
3. (a) Trong trường hợp những nước đang phát triển
là thành viên của một hiệp định thuộc loại nêu tại
khoản 1, thì những điều kiện nêu tại khoản 1, đặc
biệt là những điều kiện liên quan tới điểm (b) của
khoản này, , có thể được xem xét một cách linh hoạt
phù hợp với trình độ phát triển của những nước
liên quan, cả về tổng thể, trong từng lĩnh vực và
tiểu lĩnh vực.
(b) Cho dù có các quy định tại khoản 6, trong
trường hợp một hiệp định thuộc loại nêu tại khoản
1 chỉ liên quan đến các nước đang phát triển thì sự
đối xử thuận lợi hơn có thể dành cho các pháp
nhân thuộc sở hữu hoặc kiểm soát của các thể nhân
thuộc các bên tham gia hiệp định này.
4. Bất kỳ hiệp định nào nêu tại khoản 1 sẽ được
xây dựng nhằm tạo thuận lợi cho thương mại giữa
các bên tham gia hiệp định và không tạo ra mức trở
ngại chung cao hơn mức đã áp dụng trước khi các
hiệp định đó được ký kết trong thương mại dịch vụ
với bất kỳ Thành viên nào không tham gia hiệp
định, dù trong từng ngành hoặc phân ngành dịch
vụ.
5. Khi ký kết, mở rộng hoặc sửa đổi cơ bản bất kỳ
hiệp định nào nêu tại khoản 1, Thành viên có ý
định rút lại hoặc sửa đổi cam kết cụ thể trái với các
cam kết đã nêu tại Danh mục của mình, thì Thành
viên đó phải thông báoít nhất 90 ngày trước khi rút
lại hoặc sửa đổi, và sẽ áp dụng các thủ tục quy
định tại khoản 2, 3 và 4 của Điều XXI.
6. Nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ Thành viên nào
khác, là pháp nhân thành lập theo luật pháp của
một bên tham gia một Hiệp định nêu tại khoản 1
được hưởng sự đối xử theo Hiệp định nói trên, với
điều kiện là nhà cung cấp dịch vụ đó có hoạt động
kinh doanh đáng kể trên lãnh thổ của các bên tham
gia hiệp định này.
7. (a) Thành viên là các Bên tham gia vào bất kỳ
hiệp định nào nêu tại khoản 1 phải ngay lập tức
thông báo về các hiệp định đó và về bất kỳ sự mở
rộng nào hoặc bất kỳ sửa đổi cơ bản nào của hiệp
định này cho Hội đồng Thương mại Dịch vụ. Khi
Hội đồng yêu cầu, các Thành viên đó phải cung
cấp ngay các thông tin liên quan. Hội đồng có thể
thành lập một nhóm công tác để xem xét hiệp định
này hoặc mở rộng hoặc sửa đổi của hiệp định và báo
cáo với Hội đồng về sự phù hợp của hiệp định đó với
Điều này.
(b) Các Thành viên là các bên tham gia vào bất kỳ
hiệp định nào nêu tại khoản 1 thực hiện trên cơ sở
một lịch trình, thì Thành viên đó phải báo cáo định
kỳ cho Hội đồng Thương mại Dịch vụ về việc thực
hiện hiệp định nói trên. Trong trường hợp xét thấy
cần thiết, Hội đồng có thể thành lập ban công tác để
xem xét các báo cáo đó.
(c) Trên cơ sở báo cáo của ban công tác nêu tại điểm
(a) và (b), Hội đồng có thể đưa ra khuyến nghị với
các bên, nếu xét thấy phù hợp.
8. Một Thành viên là bên tham gia bất kỳ hiệp định
nào nêu tại khoản 1 không được yêu cầu đền bù đối
với những quyền lợi thương mại mà bất kỳ một
Thành viên nào khác có được từ hiệp định đó.
Điều V (b): Các hiệp định về hội nhập thị trường
lao động
Hiệp định này không ngăn cản bất kỳ một Thành
viên nào trở thành thành viên của một hiệp định về
thiết lập thị trường lao động hội nhập hoàn toàn[2]
giữa các thành viên của hiệp định, với điều kiện là
hiệp định này:
(a) miễn áp dụng yêu cầu liên quan tới cư trú và giấy
phép lao động đối với công dân của các bên tham gia
hiệp định;
(b) được thông báo cho Hội đồng Thương mại Dịch
vụ.
Điều VI: Các quy định trong nước
1. Trong những lĩnh vực đã cam kết cụ thể, mỗi
Thành viên phải đảm bảo rằng tất cả các biện pháp
áp dụng chung tác động đến thương mại dịch vụ
được quản lý một cách hợp lý, khách quan và bình
đẳng.
2. (a) Ngay khi có thể, mỗi Thành viên phải duy trì
hoặc thành lập các tòa án tư pháp, trọng tài hoặc tòa
án hành chính hoặc thủ tục để xem xét nhanh chóng
và đưa ra các biện pháp khắc phục đối với các
quyết định hành chính có tác động đến thương mại
dịch vụ theo yêu cầu của nhà cung cấp dịch vụ
chịu tác động. Khi những thủ tục này không độc
lập với cơ quan có thẩm quyền đưa ra quyết định
hành chính có liên quan, Thành viên này phải đảm
bảo rằng các thủ tục trên thực tế được xem xét một
cách khách quan và bình đẳng.
(b) Các quy định của điểm (a) không được hiểu là
nhằm yêu cầu các Thành viên phải thành lập
những tòa án hoặc thủ tục trái với thể chế hoặc bản
chất hệ thống pháp luật của Thành viên đó.
3. Trong trường hợp thủ tục phê duyệt được yêu
cầu đối với việc cung cấp một dịch vụ đã có cam
kết cụ thể thì sau khi nhận được đơn xin cấp phép
được coi là đầy đủ theo quy định của pháp luật
trong nước, cơ quan có thẩm quyền của một Thành
viên sẽ thông báo cho người nộp đơn về quyết định
của mình trong khoảng thời gian hợp lý. Nếu
người nộp đơn có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền
của Thành viên đó sẽ phải cung cấp không chậm
trễ thông tin về hiện trạng của đơn xin phép.
4. Nhằm đảm bảo để các biện pháp liên quan tới
yêu cầu chuyên môn, thủ tục, tiêu chuẩn kỹ thuật
và yêu cầu cấp phép không tạo ra những trở ngại
không cần thiết cho thương mại dịch vụ, thông qua
những cơ quan thích hợp có thể được thành lập,
Hội đồng Thương mại Dịch vụ sẽ phát triển bất kỳ
nguyên tắc cần thiết nào. Những nguyên tắc đó
nhằm đảm bảo rằng các yêu cầu này:
(a) dựa trên những tiêu chí khách quan và minh
bạch, như năng lực và khả năng cung cấp dịch vụ;
(b) không phiền hà hơn mức cần thiết để đảm bảo
chất lượng dịch vụ;
(c) trong trường hợp áp dụng thủ tục cấp phép,
không trở thành hạn chế về cung cấp dịch vụ.
5. (a) Trong những lĩnh vực mà Thành viên đã cam
kết cụ thể, thì trong thời gian chưa áp dụng các
nguyên tắc được đề ra trong những lĩnh vực này phù
hợp với khoản 4, Thành viên đó không được áp dụng
các yêu cầu về cấp phép và chuyên môn và các tiêu
chuẩn kỹ thuật làm vô hiệu hoặc giảm bớt mức cam
kết đó theo cách thức:
(i) không phù hợp với các tiêu chí đã được nêu tại
điểm 4(a), (b) hoặc (c); và
(ii) tại thời điểm các cam kết cụ thể trong các lĩnh
vực đó được đưa ra, các Thành viên đã không có ý
định áp dụng các biện pháp này
(b) Khi xác định liệu một Thành viên có tuân thủ các
nghĩa vụ quy định tại điểm5(a) hay không, cần tính
đến các tiêu chuẩn của các tổ chức quốc tế liên
quan[3] được Thành viên đó áp dụng.
6. Trong những lĩnh vực có các cam kết cụ thể liên
quan đến dịch vụ nghề nghiệp, mỗi Thành viên phải
quy định những thủ tục phù hợp để kiểm tra năng lực
chuyên môn của người cung cấp dịch vụ chuyên
nghiệp của các Thành viên khác.
Điều VII: Công nhận
1. Nhằm mục đích thực hiện toàn bộ hoặc một phần
các tiêu chuẩn, tiêu chí đối với việc phê duyệt, cấp
phép hoặc chứng nhận của các nhà cung cấp dịch vụ
và theo các quy định của khoản 3, một Thành viên
có thể công nhận trình độ học vấn, kinh nghiệm, khả
năng đáp ứng các yêu cầu, giấy phép hoặc chứng chỉ
do một nước cụ thể cấp. Việc công nhận này có thể
đạt được thông qua một quá trình hài hòa hóa hoặc
nếu không có thể dựa trên một hiệp định hoặc thỏa
thuận với nước có liên quan hoặc mặc nhiên cho
hưởng .
2. Thành viên là một bên của hiệp định hoặc thỏa
thuận được nêu tại khoản 1, bất kể Hiệp định hoặc
thỏa thuận đó đang có hiệu lực hoặc sẽ có hiệu lực
trong tương lai, phải tạo cơ hội đầy đủ cho những
Thành viên có quan tâm khác được đàm phán gia
nhập hiệp định hoặc thỏa thuận này hoặc đàm phán
về những hiệp định tương đương. Nếu một Thành
viên mặc nhiên cho hưởng sự công nhận, Thành viên
đó sẽ tạo cơ hội thích hợp cho bất kỳ Thành viên
nào khác chứng minh rằng trình độ học vấn, kinh
nghiệm, giấy phép, chứng chỉ hoặc việc đáp ứng
các yêu cầu mà phải được công nhận tại lãnh thổ
của Thành viên khác.
3. Khi áp dụng các tiêu chuẩn, tiêu chí để cấp phép
hoặc chứng nhận người cung cấp dịch vụ, Thành
viên sẽ không cho hưởng việc công nhận theo cách
mà có thể tạo ra sự phân biệt đối xử, hoặc hạn chế
trá hình với thương mại dịch vụ.
4. Mỗi Thành viên sẽ:
(a) trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày Hiệp định
WTO có hiệu lực đối với Thành viên đó, thông báo
cho Hội đồng Thương mại Dịch vụ về các biện
pháp công nhận hiện hành và nêu rõ các biện pháp
đó có dựa trên cơ sở những hiệp định hoặc thỏa
thuận được nêu tại khoản 1 hay không;
(b) thông báo trước càng sớm càng tốt cho Hội
đồng Thương mại Dịch vụ về việc bắt đầu tiến
hành đàm phán hiệp định hoặc thỏa thuận nêu tại
khoản 1, nhằm tạo cơ hội thích hợp cho bất kỳ
Thành viên khác nào thể hiện ý định tham gia đàm
phán trước khi các cuộc đàm phán đi vào giai đoạn
chi tiết;
(c) khẩn trương thông báo cho Hội đồng Thương
mại Dịch vụ về việc áp dụng một biện pháp công
nhận mới hoặc điều chỉnh đáng kể những biện
pháp hiện hành và nêu rõ biện pháp đó có dựa trên
cơ sở những hiệp định hoặc thỏa thuận được nêu
tại khoản 1 hay không;
5. Khi có điều kiện thích hợp, việc công nhận sẽ
được căn cứ vào các tiêu chí đa biên được thừa
nhận. Khi thích hợp, các Thành viên sẽ phối hợp
với các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ
liên quan để xây dựng và thông qua những tiêu
chuẩn, tiêu chí quốc tế chung đối với việc công
nhận và những tiêu chuẩn quốc tế chung đối với
việc hành nghề thương mại dịch vụ và nghề nghiệp
có liên quan.
Điều VIII: Độc quyền và các nhà cung cấp dịch
vụ độc quyền
1. Mỗi Thành viên phải đảm bảo rằng bất kỳ nhà
cung cấp dịch vụ độc quyền nào trên lãnh thổ của
mình không hành động trái với các nghĩa vụ của
Thành viên đó theo quy định tại Điều II và các cam
kết cụ thể, khi cung cấp dịch vụ độc quyền trên thị
trường liên quan.
2. Nếu một nhà cung cấp dịch vụ độc quyền cạnh
tranh, trực tiếp hoặc thông qua các công ty trực
thuộc trong việc cung cấp dich vụ ngoài phạm vi độc
quyền của mình và thuộc các cam kết cụ thể của
Thành viên đó, thì Thành viên đó sẽ đảm bảo rằng
nhà cung cấp dịch vụ sẽ không lạm dụng vị trí độc
quyền của họ để tiến hành hoạt động trái với các cam
kết trên lãnh thổ của Thành viên đó.
3. Theo yêu cầu của một Thành viên có lý do để tin
rằng một người cung cấp dịch vụ độc quyền của bất
kỳ một Thành viên nào khác đang hành động không
phù hợp với quy định tại khoản 1 và 2, Hội đồng
Thương mại Dịch vụ có thể yêu cầu Thành viên đã
thành lập, duy trì hoặc cho phép người cung cấp dịch
vụ này thông báo những thông tin cụ thể về các hoạt
động liên quan.
4. Kể từ ngày Hiệp định WTO có hiệu lực, nếu một
Thành viên cho phép độc quyền về cung cấp một
dịch vụ trong danh mục cam kết cụ thể, thì Thành
viên đó phải thông báo cho Hội đồng Thương mại
Dịch vụ chậm nhất là ba tháng trước khi dự kiến
thực hiện việc cho phép độc quyền và sẽ áp dụng các
quy định tại các khoản 2, 3 và 4.
5. Các quy định của Điều này cũng được áp dụng đối
với các trường hợp của người cung cấp dịch vụ độc
quyền, trong trường hợp một Thành viên, chính thức
hoặc thực tế, (a) cho phép hoặc thành lập một số
lượng nhỏ những người cung cấp dịch vụ và (b) hạn
chế đáng kể sự cạnh tranh giữa những người cung
cấp đó trên lãnh thổ của mình.
Điều IX: Thông lệ kinh doanh
1. Các Thành viên thừa nhận rằng việc hành nghề
kinh doanh nhất định của các nhà cung cấp dịch
vụ, trừ những thông lệ được nêu tại Điều VIII, có
thể hạn chế sự cạnh tranh và qua đó hạn chế
thương mại dịch vụ.
2. Khi có yêu cầu của Thành viên khác, một Thành
viên phải tham gia quá trình tham vấn để xoá bỏ
những thông lệ nêu tại khoản 1. Thành viên này
phải xem xét các yêu cầu một cách đầy đủ cảm
thông và sẽ hợp tác thông qua việc cung cấp những
thông tin không phổ biên có liên quan tới vấn đề
đã được công bố công khai. Thành viên được yêu
cầu cũng phải cung cấp các thông tin khác sẵn có
cho Thành viên yêu cầu theo pháp luật của mình và
theo thỏa thuận thoả đáng về việc Thành viên yêu
cầu phải đảm bảo tính bảo mật thông tin đó.
Điều X: Các biện pháp tự vệ khẩn cấp
1. Sẽ có các cuộc đàm phán đa biên về các biện
pháp tự vệ khẩn cấp được tiến hành dựa trên
nguyên tắc không phân biệt đối xử. Kết quả của
các cuộc đàm phán này sẽ có hiệu lực chậm nhất là
ba năm, kể từ ngày Hiệp định thành lập WTO có
hiệu lực.
2. Trong thời gian trước khi các kết quả đàm phán
nêu tại khoản 1 có hiệu lực, bất kỳ Thành viên nào
có thể thông báo cho Hội đồng Thương mại Dịch
vụ về ý định sửa đổi hoặc rút lại một cam kết cụ
thể sau thời gian một năm, kể từ ngày cam kết đó
có hiệu lực' các quy định của khoản 1 điều XXI
không áp dụng trong trường hợp này; với điều kiện
Thành viên đó phải chứng minh với Hội đồng rằng
việc sửa đổi hoặc rút lại cam kết không thể chờ
đến khi hết thời hạn ba năm quy định tại khoản 1
Điều XXI.
3. Các quy định của khoản 2 sẽ được ngừng áp
dụng sau ba năm, kể từ ngày Hiệp định WTO có
hiệu lực.
Điều XI: Các khoản thanh toán và chuyển tiền ra
nước ngoài
1. Trừ các trường hợp được quy định tại Điều XII,
một Thành viên không được áp dụng những hạn chế
đối với việc chuyển tiền quốc tếvà thanh toán các
giao dịch vãng lai liên quan tới các cam kết cụ thể.
2. Các quy định của Hiệp định này không ảnh hưởng
tới quyền và nghĩa vụ của các thành viên Quỹ tiền tệ
quốc tế theo Điều lệ của Quỹ, gồm cả việc sử dụng
các hoạt động ngoại hối phù hợp với Điều lệ, với
điều kiện Thành viên đó không áp đặt các hạn chế
đối với về bất kỳ giao dịch vốn nào trái với các cam
kết cụ thể liên quan đến giao dịch này, trừ trường
hợp được quy định tại Điều XII hoặc theo yêu cầu
của Quỹ.
Điều XII: Hạn chế để bảo vệ cán cân thanh toán
1. Trong trường hợp cán cân thanh toán và tài chính
đối ngoại gặp khó khăn nghiêm trọng hoặc bị đe dọa
gặp khó khăn nghiêm trọng, một Thành viên có thể
thông qua hoặc duy trì các hạn chế về thương mại
dịch vụ trong những lĩnh vực đã cam kết cụ thể, bao
gồm cả việc thanh toán hoặc chuyển tiền trong các
giao dịch liên quan đến các cam kết cụ thể đó. Thừa
nhận rằng trong quá trình phát triển hoặc chuyển đổi
kinh tế, những sức ép nhất định đối với cán cân
thanh toán có thể dẫn tới sự cần thiết phải sử dụng
các hạn chế để đảm bảo việc duy trì mức độ dự trữ
tài chính phù hợp với yêu cầu thực hiện các chương
trình phát triển kinh tế hoặc chuyển đổi kinh tế.
2. Những hạn chế nêu tại khoản 1:
(a) không được phân biệt đối xử giữa các Thành
viên;
(b) phải phù hợp với Điều lệ của Quỹ tiền tệ quốc tế;
(c) không được gây tổn hại không cần thiết cho lợi
ích thương mại, kinh tế và tài chính của bất kỳ
Thành viên nào khác;
(d) không được vượt quá mức cần thiết để giải quyết
những trường hợp được mô tả tại khoản 1,
(e) chỉ mang tính chất tạm thời và được loại bỏ dần
khi những trường hợp nêu tại khoản 1 đã được cải
thiện.
3. Khi xác định tác động của những hạn chế đó,
các Thành viên có thể dành ưu tiên cho việc cung
cấp dịch vụ có tính chất trọng yếu hơn đối với các
chương trình kinh tế hoặc phát triển của mình. Tuy
nhiên, các hạn chế đó sẽ không được thông qua
hoặc duy trì nhằm mục đích bảo hộ một ngành
dịch vụ cụ thể.
4. Các hạn chế được thông qua hoặc duy trì theo
khoản 1, hoặc bất kỳ sự thay đổi nào phải được
thông báo kịp thời cho Đại hội đồng.
5. (a) Các Thành viên áp dụng các những quy định
của Điều này phải khẩn trương tham vấn về các
hạn chế áp dụng theo Điều này với Hội đồng về
các hạn chế cán cân thanh toán.
(b) Hội nghị Bộ Trưởng sẽ xây dựng các thủ tục[4]
tham vấn định kỳ với mục đích đưa ra những
khuyến nghị đó với Thành viên liên quan trong
trường hợp xét thấy cần thiết.
(c) Các cuộc tham vấn này sẽ đánh giá tình trạng
cán cân thanh toán của Thành viên liên quan và các
hạn chế được thông qua hoặc duy trì theo quy định
của Điều này, có xét đến các yếu tố như:
(i) bản chất và mức độ của cán cân thanh toán và
các khó khăn về tài chính đối ngoại;
(ii) môi trường thương mại và kinh tế đối ngoại
của Thành viên tham vấn;
(iii) các biện pháp khắc phục khác có thể áp dụng.
(d) Các cuộc tham vấn xem xét sự phù hợp của các
hạn chế với yêu cầu của khoản 2, đặc biệt là việc
từng bước xóa bỏ các hạn chế phù hợp với đoạn
2(e).
(e) Trong các cuộc tham vấn đó, tất cả các số liệu
thống kê hoặc dữ liệu khác liên quan đến ngoại
hối, dự trữ tiền tệ và cán cân thanh toán do Quỹ
tiền tệ quốc tế trình bày, sẽ được chấp nhận và kết
luận được dựa trên cơ sở sự đánh giá của Quỹ về cán
cân thanh toán và tình trạng tài chính đối ngoại của
Thành viên tham vấn.
6. Trong trường hợp một Thành viên không phải là
thành viên của Quỹ tiền tệ quốc tế muốn áp dụng các
quy định của Điều này, thì Hội nghị Bộ Trưởng quy
định về trình tự xem xét và các thủ tục cần thiết
khác.
Điều XIII: Mua sắm của Chính phủ
1. Điều II, XVI và XVII sẽ không áp dụng đối với
các luật, quy định hoặc yêu cầu điều chỉnh việc mua
sắm của các cơ quan chính phủ về các dịch vụ phục
vụ cho hoạt động của chính phủ và không nhằm mục
đích thương mại hoặc dùng cho việc cung cấp dịch
vụ mang tính thương mại.
2. Sẽ có các cuộc đàm phán đa biên về mua sắm
Chính phủ trong dịch vụ theo Hiệp định này trong
vòng hai năm kể từ ngày Hiệp định WTO có hiệu
lực.
Điều XIV: Những ngoại lệ chung
Theo các yêu cầu về việc không áp dụng các biện
pháp có thể tạo ra sự phân biệt đối xử tùy tiện và
không có cơ sở giữa các nước hoặc trở thành một
hạn chế trá hình trong thương mại dịch vụ, không có
qui định nào của Hiệp định này ngăn cản các Thành
viên thông qua hoặc thực thi các biện pháp:
(a) cần thiết để bảo vệ đạo đức công cộng hoặc duy
trì trật tự công cộng[5];
(b) cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của
con người, động vật hoặc thực vật;
(c) cần thiết để đảm bảo việc tuân thủ luật pháp hoặc
quy định không trái với các quy định của Hiệp định
này, bao gồm cả các quy định liên quan đến:
(i) ngăn ngừa các hành vi lừa đảo và gian lận hoặc
để giải quyết hậu quả của việc không thanh toán hợp
đồng dịch vụ;
(ii) bảo vệ bí mật đời tư của những cá nhân trong
việc xử lý hoặc phổ biến những thông tin cá nhân
và đảm bảo tính bảo mật lý lịch hoặc tài khoản của
cá nhân;
(iii) an toàn;
(d) không phù hợp với Điều XVII, miễn là sự đối
xử khác biệt nhằm đảm bảo thực hiện việc đánh
thuế hoặc thu thuế trực tiếp một cách công bằng và
hiệu quả[6] đối với dịch vụ hoặc người cung cấp
dịch vụ của các Thành viên khác;
(e) không phù hợp với Điều II, với điều kiện sự đối
xử khác biệt là kết quả của một hiệp định về tránh
đánh thuế hai lần hoặc các quy định của bất kỳ
hiệp định hoặc thỏa thuận quốc tế nào về tránh
đánh thuế hai lần có giá trị ràng buộc đối với
Thành viên đó.
Điều XIV bis: Ngoại lệ về an ninh
1. Không có quy định nào của Hiệp định này được
hiểu là:
(a) đòi hỏi bất kỳ Thành viên nào phải cung cấp
thông tin mà việc tiết lộ được coi là trái với các lợi
ích an ninh thiết yếu của mình;
(b) ngăn cản bất kỳ Thành viên nào thực hiện bất
kỳ hành động nào được coi là cần thiết để bảo vệ
lợi ích an ninh thiết yếu của mình:
(i) liên quan tới việc cung cấp những dịch vụ được
thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm mục đích,
hậu cần cho một cơ sở quân sự;
(ii) liên quan tới việc tách hoặc làm giàu vật liệu
hạt nhân hoặc những vật liệu có chứa hạt nhân;
(iii) thực hiện trong thời kỳ chiến tranh hoặc tình
trạng khẩn cấp khác trong quan hệ quốc tế; hoặc
(c) ngăn cản bất kỳ Thành viên nào áp dụng bất kỳ
hành động nào phù hợp với các nghĩa vụ theo Hiến
chương Liên Hợp Quốc về gìn giữ hòa bình và an
ninh quốc tế.
2. Hội đồng Thương mại Dịch vụ phải được thông
báo đầy đủ nhất trong phạm vi có thể về những biện
pháp được áp dụng theo quy định của điểm 1(b) và
(c) và về việc chấm dứt các biện pháp đó.
Điều XV: Trợ cấp
1. Các Thành viên thừa nhận rằng, trong những
trường hợp nhất định, trợ cấp có thể có tác động bóp
méo thương mại dịch vụ. Các Thành viên phải tham
gia đàm phán nhằm phát triển những nguyên tắc đa
biên cần thiết để ngăn ngừa những tác động bóp méo
thương mại[7]. Các cuộc đàm phán đó cũng sẽ đề
cập đến tính thích hợp của thủ tục đối kháng. Các
cuộc đàm phán đó công nhận vai trò của trợ cấp đối
với các chương trình phát triển của các nước đang
phát triển và có tính đến nhu cầu của các Thành viên,
đặc biệt là các Thành viên đang phát triển, về sự linh
hoạt trong lĩnh vực này. Để tiến hành các cuộc đàm
phán, các Thành viên phải trao đổi thông tin về mọi
khoản trợ cấp liên quan tới thương mại dịch vụ được
dành cho những người cung cấp dịch vụ trong nước.
2. Bất kỳ Thành viên nào cho rằng mình bị làm tổn
hại bởi trợ cấp của Thành viên khác có thể yêu cầu
tham vấn với Thành viên áp dụng trợ cấp về vấn đề
này. Những yêu cầu này phải được xem xét một cách
cảm thông.
Phần III: Cam kết cụ thể
Điều XVI: Tiếp cận thị trường
1. Đối với việc tiếp cận thị trường theo các phương
thức cung cấp dịch vụ nêu tại Điều I, mỗi Thành
viên phải dành cho dịch vụ hoặc người cung cấp dịch
vụ của các Thành viên khác sự đối xử không kém
thuận lợi hơn sự sự đối xử theo những điều kiện,
điều khoản và hạn chế đã được thỏa thuận và quy
định tại Danh mục cam kết cụ thể[8].
2. Trong những lĩnh vực đã cam kết mở cửa thị
trường, các Thành viên không được duy trì hoặc ban
hành những biện pháp sau đây, dù là ở quy mô vùng
hoặc trên toàn lãnh thổ, trừ trường hợp có quy định
khác trong Danh mục cam kết:
(a) hạn chế số lượng nhà cung cấp dịch vụ dù dưới
hình thức hạn ngạch theo số lượng, độc quyền,
toàn quyền cung cấp dịch vụ hoặc yêu cầu đáp ứng
nhu cầu kinh tế;
(b) hạn chế tổng trị giá các giao dịch về dịch vụ
hoặc tài sản dưới hình thức hạn ngạch theo số
lượng, hoặc yêu cầu phải đáp ứng nhu cầu kinh tế;
(c) hạn chế tổng số các hoạt động dịch vụ hoặc
tổng số lượng dịch vụ đầu ra tính theo số lượng
đơn vị dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu về
nhu cầu kinh tế[9];
(d) hạn chế về tổng số thể nhân có thể được tuyển
dụng trong một lĩnh vực dịch vụ cụ thể hoặc một
nhà cung cấp dịch vụ được phép tuyển dụng cần
thiết hoặc trực tiếp liên quan tới việc cung cấp một
dịch vụ cụ thể dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu
cầu về nhu cầu kinh tế;
(e) các biện pháp hạn chế hoặc yêu cầu các hình
thức pháp nhân cụ thể hoặc liên doanh thông qua
đó người cung cấp dịch vụ có thể cung cấp dịch
vụ;
(f) hạn chế về tỷ lệ vốn góp của bên nước ngoài
bằng việc quy định tỷ lệ phần trăm tối đa cổ phần
của bên nước ngoài hoặc tổng trị giá đầu tư nước
ngoài tính đơn hoặc tính gộp.
Điều XVII: Đối xử quốc gia
1. Trong những lĩnh vực được nêu trong Danh mục
cam kết, và tùy thuộc vào các điều kiện và tiêu
chuẩn được quy định trong Danh mục đó, liên
quan tới tất cả các biện pháp có tác động đến việc
cung cấp dịch vụ, mỗi Thành viên phải dành cho
dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của bất kỳ
Thành viên nào khác sự đối xử không kém thuận
lợi hơn sự đối xử mà Thành viên đó dành cho dịch
vụ và nhà cung cấp dịch vụ của mình[10].
2. Một Thành viên có thể đáp ứng những yêu cầu
quy định tại khoản 1 bằng cách dành cho dịch vụ
hoặc nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ một Thành
viên nào khác một sự đối xử tương tự về hình thức
hoặc sự đối xử khác biệt về hình thức mà thành viên
đó dành cho dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch vụ của
mình.
3. Sự đối xử tương tự hoặc khác biệt về hình thức
được coi là kém thuận lợi hơn nếu nó làm thay đổi
điều kiện cạnh tranh có lợi cho dịch vụ hay nhà cung
cấp dịch vụ của Thành viên đó so với dịch vụ hoặc
nhà cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ Thành viên
nào khác.
Điều XVIII: Cam kết bổ sung
Các Thành viên có thể đàm phán những cam kết về
các biện pháp có tác động tới thương mại dịch vụ
không thuộc phạm vi danh mục nêu tại Điều XVI và
XVII, kể cả các cam kết về tiêu chuẩn chuyên môn,
chuẩn mực hoặc những vấn đề liên quan tới cấp
phép. Những cam kết đó được ghi vào Danh mục
cam kết của mỗi Thành viên.
Phần IV: Tự do hóa từng bước
Điều XIX: Đàm phán về những cam kết cụ thể
1. Phù hợp với những mục tiêu của Hiệp định này,
các Thành viên sẽ tiến hành những vòng đàm phán
liên tiếp, bắt đầu không chậm hơn năm năm kể từ
ngày Hiệp định WTO có hiệu lực và định kỳ sau đó,
nhằm đạt được mức độ tự do hóa ngày càng cao hơn.
Các cuộc đàm phán đó sẽ hướng tới việc giảm hoặc
triệt tiêu các tác động có hại đối với thương mại dịch
vụ của các biện pháp như là công cụ để thực hiện
việc tiếp cận thị trường thực tế. Tiến trình đó được
tiến hành nhằm tăng lợi ích của tất cả các bên tham
gia trên cơ sở cùng có lợi và đảm bảo cân bằng tổng
thể giữa quyền lợi và nghĩa vụ.
2. Tiến trình tự do hóa được tiến hành với sự quan
tâm đúng mức đến các mục tiêu chính sách quốc gia
và trình độ phát triển của mỗi Thành viên riêng biệt,
xét cả tổng thể nền kinh tế hoặc trong từng lĩnh vực
riêng biệt. Sự linh hoạt thích đáng cho các Thành
viên đang phát triển trong việc mở cửa thị trường với
ít lĩnh vực hơn, tự do hóa ít loại hình giao dịch hơn,
dần dần mở rộng việc tiếp cận thị trường phù hợp
với tình hình phát triển, và khi mở cửa thị trường
cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài, đi kèm
với các điều kiện để tiếp cận thị trường trên nhằm
đạt được những mục tiêu nêu tại Điều IV.
3. Đối với mỗi vòng đàm phán, hướng dẫn và thủ
tục đàm phán sẽ được xây dựng. Để xây dựng
được những hướng dẫn đó, Hội đồng Thương mại
Dịch vụ thực hiện đánh giá tổng thể và theo từng
lĩnh vực thương mại dịch vụ trên cơ sở mục tiêu
của Hiệp định này, kể cả những mục tiêu được nêu
tại khoản 1 của Điều IV. Hướng dẫn đàm phán
phải thiết lập các phương thức thực hiện việc tự do
hóa do các Thành viên chủ động tiến hành kể từ
các vòng đàm phán trước đó, cũng như việc đối xử
đặc biệt dành cho các Thành viên kém phát triển
nhất theo quy định tại khoản 3 Điều IV.
4. Tiến trình tự do hóa từng bước được đẩy mạnh
thông qua từng vòng đàm phán bằng cả đàm phán
song phương, nhiều bên hoặc đa biên theo hướng
tăng mức độ chung của các cam kết cụ thể được
các Thành viên đưa ra theo Hiệp định này.
Điều XX: Danh mục các cam kết cụ thể
1. Các Thành viên sẽ đưa ra danh mục các cam kết
cụ thể theo quy định tại Phần III của Hiệp định
này. Mỗi Danh mục cam kết, trong những lĩnh vực
cụ thể phải quy định:
(a) điều khoản, giới hạn và điều kiện tiếp cận thị
trường;
(b) điều kiện và tiêu chuẩn về đối xử quốc gia;
(c) việc thực hiện những cam kết bổ sung;
(d) lộ trình thực hiện các cam kết đó, nếu có thể;

(e) thời hạn các cam kết đó có hiệu lực.
2. Các biện pháp không phù hợp với cả hai Điều
XVI và XVII được ghi vào cột dành cho Điều
XVI. Trong trường hợp này hạng mục đó cũng
được coi là đặt một điều kiện hoặc tiêu chuẩn cho
Điều XVII.
3. Danh mục các cam kết cụ thể được kèm theo Hiệp
định này và là một bộ phận không thể tách rời của
Hiệp định.
Điều XXI: Sửa đổi các Danh mục
1. (a) Các Thành viên (trong Điều này gọi là "Thành
viên sửa đổi") có thể sửa đổi hoặc rút lại bất kỳ cam
kết nào trong Danh mục của mình, vào bất kỳ thời
điểm nào sau ba năm, kể từ ngày các cam kết đó có
hiệu lực, phù hợp với các quy định của Điều này.
(b) Thành viên sửa đổi phải thông báo cho Hội đồng
Thương mại Dịch vụ về ý định sửa đổi hoặc rút lại
một cam kết theo quy định của Điều này chậm nhất
là ba tháng trước ngày dự định thực hiện việc sửa
đổi hoặc rút lại.
2. (a) Theo yêu cầu của bất kỳ Thành viên nào có thể
bị thiệt hại về quyền lợi theo Hiệp định này (trong
Điều này được gọi là "Thành viên bị thiệt hại") do ý
định sửa đổi hoặc rút lại thông báo theo quy định của
đoạn 1 (b), Thành viên sửa đổi phải tiến hành đàm
phán nhằm đạt được thỏa thuận về việc điều chỉnh
đền bù cần thiết. Trong các cuộc đàm phán và thỏa
thuận đó, các Thành viên có liên quan phải cố gắng
để mức độ tổng thể các cam kết có lợi chung không
kém thuận lợi hơn cho thương mại so với các mức
cam kết trong Danh mục đã có được trước phiên
đàm phán đó.
(b) Những điều chỉnh đền bù đó được áp dụng trên
cơ sở đối xử tối huệ quốc.
3. (a) Nếu không đạt được một thỏa thuận giữa
Thành viên sửa đổi và Thành viên bị thiệt hại trước
khi kết thúc thời hạn quy định để đàm phán, Thành
viên bị thiệt hại có thể đưa vấn đề ra cơ quan trọng
tài. Bất kỳ Thành viên bị thiệt hại nào muốn thực thi
quyền có thể được hưởng đền bù phải tham dự phiên
trọng tài này.
(b) Nếu không có Thành viên bị thiệt hại nào yêu
cầu giải quyết tại trọng tài, Thành viên sửa đổi
được tự do thực hiện việc sửa đổi hoặc rút lại cam
kết.
4. (a) Thành viên sửa đổi không được sửa đổi hay
rút lại cam kết của mình cho đến khi đã thực hiện
việc điều chỉnh đền bù phù hợp với kết luận của
trọng tài.
(b) Nếu Thành viên sửa đổi thực hiện việc sửa đổi
hay rút lại và không tuân thủ đúng với kết luận của
trọng tài thì bất kỳ Thành viên bị thiệt hại nào đã
tham gia phiên trọng tài có thể sửa đổi hay rút lại
những lợi ích tương đương đáng kể phù hợp với
kết qủa trọng tài. Cho dù có các quy định của Điều
II, việc sửa đổi hay rút lại cam kết này có thể chỉ
áp dụng duy nhất với bên sửa đổi.
5. Hội đồng Thương mại Dịch vụ sẽ thiết lập
những thủ tục để điều chỉnh hay sửa đổi các Danh
mục. Bất kỳ Thành viên nào đã thực hiện sửa đổi
hay rút lại cam kết nêu trong Danh mục theo Điều
này sẽ điều chỉnh Danh mục của mình theo thủ tục
đó.
Phần V: những quy định về thể chế
Điều XXII : Tham vấn
1. Các Thành viên phải xem xét một cách cảm
thông tới, và tạo điều kiện đầy đủ cho, quá trình
tham vấn có sự kháng nghị của bất kỳ một Thành
viên nào khác về bất kỳ vấn đề gì tác động đến
việc thực thi Hiệp định này. Thỏa thuận về Giải
quyết Tranh chấp (DSU) sẽ được áp dụng cho
những tham vấn nêu trên.
2. Hội đồng Thương mại Dịch vụ hoặc Cơ quan
giải quyết tranh chấp (DSB), khi được một Thành
viên yêu cầu, có thể tham vấn với bất kỳ một hay
nhiều Thành viên nào về các vấn đề chưa thể tìm
được giải pháp thỏa đáng thông qua tham vấn theo
quy định của khoản 1.
3. Các Thành viên không thể viện dẫn Điều XVII, dù
là theo Điều này hay Điều XXIII, đối với một biện
pháp được một Thành viên khác áp dụng trong
khuôn khổ hiệp định quốc tế giữa họ về tránh đánh
thuế hai lần. Trong trường hợp các Thành viên
không nhất trí rằng liệu biện pháp đó có thuộc diện
điều chỉnh của hiệp định về tránh đánh thuế hai lần
giữa họ hay không, các bên có thể đưa vấn đề ra giải
quyết tại Hội đồng Thương mại Dịch vụ[11]. Hội
đồng sẽ đưa vấn đề ra trọng tài giải quyết. Quyết
định của trọng tài là chung thẩm và ràng buộc các
Thành viên.
Điều XXIII: Giải quyết tranh chấp và thi hành
quyết định
1. Nếu một Thành viên cho rằng bất kỳ Thành viên
nào khác không tiến hành nghĩa vụ hoặc các cam kết
cụ thể theo Hiệp định này, Thành viên đó, với mục
đích đạt được một giải pháp hai bên cùng nhất trí, có
thể đưa vấn đề ra DSB.
2. Nếu xét thấy tình huống đã nghiêm trọng tới mức
cần có một hành động, DSB có thể cho phép (các)
Thành viên đình chỉ việc thực thi những nghĩa vụ và
cam kết cụ thể theo quy định tại Điều 22 của DSU.
3. Nếu bất kỳ một Thành viên nào cho rằng bất kỳ
lợi ích nào mà mình có thể được hưởng một cách
hợp lý từ những cam kết cụ thể của một Thành viên
khác theo Phần III của Hiệp định này đã bị triệt tiêu
hay suy giảm mà nguyên nhân là do việc áp dụng bất
kỳ biện pháp nào dù không trái với các quy định
Hiệp định này, thì Thành viên đó có thể khiếu nại lên
DSB. Nếu DSB xác định rằng biện pháp đó đã triệt
tiêu hoặc làm suy giảm quyền lợi như đã trình bầy,
Thành viên bị thiệt hại có quyền được hưởng sự điều
chỉnh hai bên cùng nhất trí trên cơ sở khoản 2 Điều
XXII, sự điều chỉnh đó có thể bao gồm cả việc sửa
đổi hoặc rút lại biện pháp đó. Trong trường hợp
không đạt được thỏa thuận giữa các Thành viên liên
quan, Điều 22 của DSU sẽ được áp dụng.
Điều XXIV: Hội đồng Thương mại Dịch vụ
1. Hội đồng Thương mại Dịch vụ thực hiện những
chức năng được giao để tạo thuận lợi cho việc thực
hiện Hiệp định này và thúc đẩy những mục tiêu đề
ra. Hội đồng có thể thiết lập những cơ quan trực
thuộc nếu thấy thích hợp để hòan thành các chức
năng được giao một cách hiệu quả.
2. Trừ khi Hội đồng quyết định khác, các Thành
viên có thể cử đại diện tham gia Hội đồng và các
cơ quan của Hội đồng.
3. Chủ tịch Hội đồng do các Thành viên bầu ra.
Điều XXV: Hợp tác kỹ thuật
1. Các nhà cung cấp dịch vụ của các Thành viên có
nhu cầu được trợ giúp kỹ thuật sẽ có thể tiếp cận
dịch vụ của những điểm liên lạc được được nêu tại
khoản 2 Điều IV.
2. Trợ giúp kỹ thuật đối với các nước đang phát
triển sẽ được thực hiện theo cấp độ đa biên do Ban
Thư ký tiến hành và sẽ được Hội đồng Thương
mại Dịch vụ quyết định.
Điều XXVI: Quan hệ với các tổ chức quốc tế
khác
Đại Hội đồng tiến hành những thoả thuận thích
hợp về tham vấn và hợp tác với Liên Hợp Quốc và
các cơ quan chức năng của Liên Hợp Quốc, cũng
như các tổ chức quốc tế liên chính phủ liên quan
tới dịch vụ.
Phần VI: Điều khoản cuối cùng
Điều XXVII: Khước từ quyền lợi
Một Thành viên có thể khước từ những quyền lợi
của Hiệp định này:
(a) đối với việc cung cấp dịch vụ, nếu Thành viên
đó chứng minh được rằng dịch vụ được cung cấp
từ hoặc trên lãnh thổ của một nước không phải
Thành viên hoặc của một Thành viên mà Thành
viên khước từ quyền lợi không áp dụng Hiệp định
WTO ;

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét