Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tỉnh Bình Thuận thời kỳ 2005-2010



-5-

* Đầu tư tài sản vật chất và sức lao động : người có tiền bỏ tiền ra để tiến
hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản
xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc
làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó chính là việc bỏ tiền
ra xây d
ựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và
lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi
phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm
lực hoạt động của các cơ sở đang hoạt động và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế
xã hội.

Phân loại đầu tư:
* Theo chức năng quản trị vốn đầu tư: có đầu tư trực tiếp và đầu tư gián
tiếp. Đầu tư trực tiếp là phương thức đầu tư, trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham
gia quản trị vốn đã bỏ ra. Đầu tư gián tiếp cũng là phương thức đầu tư, trong đó
chủ đầu tư không tr
ực tiếp tham gia quản trị vốn đã bỏ ra.
* Theo tính chất sử dụng vốn đầu tư: có đầu tư phát triển và đầu tư dịch
chuyển. Đầu tư phát triển là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn
nhằm gia tăng giá trị tài sản. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư phát triển
có vai trò quan trọng hàng đầu, là phương thứ
c căn bản để tái sản xuất mở rộng,
tăng thu nhập quốc dân, tạo ra việc làm và thu nhập cho người lao động.
Đầu tư chuyển dịch là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn
nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị tài sản. Đầu tư chuyển dịch có ý nghĩa
quan trọng trong hình thành và phát triển thị trường vốn, thị trườ
ng chứng khoán,
thị trường hối đoái… hỗ trợ cho hoạt động đầu tư phát triển.
* Theo ngành đầu tư: có 4 loại
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây
dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật (năng lượng, thông tin liên lạc, giao thông, cấp thoát
nước…)và xã hội (trường học, bệnh viện, nhà trẻ, cơ sở v
ăn hóa, thể thao giải
trí…). Đối với các nước đang phát triển, cơ sở hạ tầng rất yếu kém và mất cân đối
nghiêm trọng. Cơ sở hạ tầng cần được đầu tư phát triển, đi trước một bước, tạo
tiền đề để phát triển các lĩnh vực kinh tế khác.
Đầu tư phát triển công nghiệp là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng
các công trình công nghiệp. Trong công cuộc phát triển ở nước ta hiện nay theo
hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đầu tư công nghiệp là chính yếu, nhằm gia
tăng giá trị sản lượng công nghiệp trong GDP.


-6-

Đầu tư phát triển nông nghiệp là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây
dựng các công trình nông nghiệp. Việt Nam từ điểm xuất phát là một nước nông
nghiệp, với lợi thế so sánh trong nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực, cho
nên đầu tư phát triển nông nghiệp có ý nghĩa chiến lược, lâu dài nhằm đảm bảo an
toàn lương thực quốc gia và giá trị sản lượng nông nghiệp hợp lý trong GDP.
Đầ
u tư phát triển dịch vụ là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng các
công trình dịch vụ ( thương mại, khách sạn – du lịch, dịch vụ khác…). Trong bối
cảnh hội nhập, toàn cầu hóa kinh tế ngày càng cao, đầu tư dịch vụ là xu thế phát
triển, nhằm gia tăng tỷ trọng giá dịch vụ trong GDP ở Việt Nam trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
* Theo tính chất đầu tư: có 3 loại
Đầu tư
mới là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, nhằm hình thành các công
trình mới. Đầu tư mới đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, trình độ công nghệ và quản lý
mới, song nó có ý nghĩa quyết định trong thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Đầu tư chiều sâu là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, nhằm cải tạo, mở
rộng, nâng cấ
p, hiện đại hóa, đồng bộ hóa dây chuyền sản xuất, dịch vụ, trên cơ
sở các công trình đã có sẵn. Đầu tư chiều sâu đòi hỏi ít vốn, thời gian thu hồi vốn
nhanh, công nhân quen tay nghề, bộ máy quản lý quen nghiệp vụ. Hình thức này
được ưu tiên đối với các nước đang phát triển, trong điều kiện còn thiếu vốn-công
nghệ-quản lý.
Tận dụng năng lực sản xuất - d
ịch vụ là hình thức tận dụng 100% công suất
thiết kế của năng lực sản xuất đã có trên quan điểm tiết kiệm và hiệu quả.
* Theo nguồn vốn: vốn trong nước (ngân sách, tín dụng do nhà nước bảo
lãnh, doanh nghiệp nhà nước, các nguồn khác) và vốn ngoài nước.
Vai trò của đầu tư trong quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa:
Đầu tư là phương tiện để chuyển dịch và phát triển cơ cấu kinh tế
, giải
quyết quan hệ cung - cầu về vốn trong phát triển, góp phần xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật và nguồn lực mới cho phát triển. Đồng thời, đầu tư giải quyết quan
hệ cung cầu về sản phẩm, dịch vụ trên thị trường, cân đối quan hệ giữa sản xuất
và tiêu dùng trong xã hội; góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho nhân dân, cả
i biến bộ mặt kinh tế - xã hội của đất nước.

1.1.2. Đặc điểm về đầu tư:
Thứ nhất, đầu tư được coi là yếu tố khởi đầu cơ bản của sự phát triển và
sinh lời. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố tạo nên tăng trưởng và sinh lời, trong đó có


-7-

yếu tố đầu tư. Nhưng để bắt đầu một quá trình sản xuất hoặc tái mở rộng quá trình
này, trước hết phải có vốn đầu tư. Nhờ sự chuyển hóa vốn đầu tư thành vốn kinh
doanh tiến hành hoạt động, từ đó tăng trưởng và sinh lời. Trong các yếu tố tạo ra
sự tăng trưởng và sinh lời này vốn đầu tư được coi là một trong những yế
u tố cơ
bản. Đặc điểm này không chỉ nói lên vai trò quan trọng của đầu tư trong việc phát
triển kinh tế mà còn chỉ ra động lực quan trọng kích thích các nhà đầu tư nhằm
mục đích sinh lời. Tuy nhiên, động lực này thường vấp phải những lực cản bởi
một số đặc điểm khác.
Thứ hai, đầu tư đòi hỏi một khối lượng vốn l
ớn, khối lượng vốn đầu tư lớn
thường là tất yếu khách quan nhằm tạo ra những điều kiện vật chất kỹ thuật cần
thiết đảm bảo cho tăng trưởng và phát triển kinh tế như: xây dựng một hệ thống
cơ sở hạ tầng , xây dựng các cơ sở công nghiệp luyện kim, chế tạo máy, công
nghiệp hóa dầu, công nghiệp lương thự
c thực phẩm, ngành điện năng…
Vì sử dụng một khối lượng vốn khổng lồ, nên nếu sử dụng vốn kém hiệu
quả sẽ gây nhiều phương hại đến sự phát triển kinh tế xã hội. Đặc biệt, sử dụng
vốn đầu tư nước ngoài với khối lượng vốn lớn và kém hiệu quả thì gánh nợ nước
ngoài ngày càng chồng chất vì không có khả n
ăng trả nợ, tình hình tài chính khó
khăn sẽ dẫn đến khủng hoảng tài chính tiền tệ. Các cơn lốc khủng hoảng tài chính
tiền tệ ở Mêhicô và các nước Đông Nam Á vừa qua là những điển hình về tình
trạng này.
Thứ ba, quá trình đầu tư XDCB phải trải qua một quá trình lao động rất dài
mới có thể đưa vào sử dụng được và thời gian thu hồi vốn đòi hỏi nhiều năm
tháng vì s
ản phẩm XDCB mang tính đặc biệt và tổng hợp. Sản xuất không theo
một dây chuyền hàng loạt mà mỗi công trình, dự án có kiểu cách, tính chất khác
nhau lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố điều kiện tự nhiên, địa điểm hoạt động thay
đổi liên tục và phân tán, thời gian khai thác và sử dụng thường là 10 năm, 20 năm,
50 năm hoặc lâu hơn tùy thuộc vào tính chất dự án.
Quá trình thực hiện dự án gồm ba giai đ
oạn: chuẩn bị dự án, thực hiện dự
án và khai thác dự án.
- Giai đoạn chuẩn bị dự án, giai đoạn thực hiện dự án là tất yếu, những giai
đoạn này kéo dài mà không tạo ra sản phẩm. Đây chính là nguyên nhân của công
thức “Đầu tư mâu thuẫn với tiêu dùng”. Vì vậy, có nhà kinh tế cho rằng đầu tư là
quá trình làm bất động hóa một số vốn nhằm thu lợi nhuận trong nhiều thời k
ỳ nối


-8-

tiếp sau này, cho nên muốn nâng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cần chú ý tập trung
các điều kiện đầu tư có trọng điểm nhằm đưa nhanh dự án vào khai thác.
- Khi xét hiệu quả đầu tư cần quan tâm xem xét cả ba giai đoạn của quá
trình đầu tư, tránh tình trạng thiên lệch, chỉ tập trung vào giai đoạn thực hiện dự
án mà không chú ý vào cả thời gian khai thác dự án.
- Do chú ý sản xuất kéo dài nên việ
c hoàn vốn được các nhà đầu tư đặc biệt
quan tâm, phải lựa chọn trình tự bỏ vốn thích hợp để giảm mức tối đa thiệt hại do
ứ đọng vốn ở sản phẩm dở dang, việc coi trọng hiệu quả kinh tế do đầu tư mang
lại là rất cần thiết nên phải có các phương án lựa chọn tối ưu, đảm bảo trình tự
XDCB. Thời gian hoàn vố
n là một chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đo lường và
đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
- Đầu tư là một lĩnh vực có rủi ro lớn. Rủi ro trong lĩnh vực đầu tư XDCB
chủ yếu do thời gian của quá trình đầu tư kéo dài. Trong thời gian này, các yếu tố
kinh tế, chính trị và cả tự nhiên ảnh hưởng sẽ gây nên những tổn thất mà các nhà
đầu tư không lường định hế
t khi lập dự án. Các yếu tố liên quan đến đầu tư như:
sự thay đổi chính sách thuế, mức lãi suất, sự thay đổi thị trường, thay đổi nhu cầu
sản phẩm… đều có thể gây nên thiệt hại cho các nhà đầu tư, tránh được hoặc hạn
chế rủi ro sẽ thu được những món lời lớn và đây là niềm hy vọng kích thích các
nhà đầu tư. Chính vì xét trên phương diện này mà Samuelson cho rằng: đầu tư là
sự
đánh bạc về tương lai với hy vọng thu nhập của quá trình đầu tư sẽ lớn hơn chi
phí của quá trình này. Đặc điểm chỉ ra rằng, nếu muốn khuyến khích đầu tư cần
phải quan tâm đến lợi ích của các nhà đầu tư. Lợi ích mà các nhà đầu tư quan tâm
nhất là hoàn đủ vốn đầu tư của họ và lợi nhuận tối đa thu được nhờ hạn chế
hoặc
tránh rủi ro. Do đó họ mong muốn hoàn vốn nhanh và có lãi. Vì vậy, các chính
sách khuyến khích đầu tư cần quan tâm đến những ưu điểm miễn, giảm thuế
trong thời kỳ đầu về khấu hao cao, về lãi suất vay vốn thấp, về chuyển vốn và lãi
về nước nhanh, thuận tiện (vốn đầu tư nước ngoài).

1.1.3. Khái niệm về vốn đầu tư:
Vốn đầu tư là vốn để thực hiện dự án đầu tư; là tiền tích lũy của xã hội, của
các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động
từ các nguồn khác nhau như liên doanh, liên kết hoặc tài trợ của nước ngoài…
nhằm để: tái sản xuất các tài sản cố định nhằm duy trì ho
ạt động của các cơ sở vật
chất kỹ thuật hiện có, để đổi mới và bổ sung các cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền
kinh tế, cho các ngành hoặc các cơ sở kinh doanh dịch vụ, cũng như thực hiện các


-9-

chi phí cần thiết tạo điều kiện cho sự bắt đầu hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ
thuật mới được bổ sung hoặc mới được đổi mới.
Đối với các nước đang phát triển để đảm bảo tăng trưởng và phát triển kinh
tế cần có hàng loạt các yếu tố tổng hợp như: vốn đầu tư, tài nguyên và môi
tr
ường, lao động, khoa học kỹ thuật… Trong đó, vốn đầu tư là yếu tố quan trọng
đầu tiên cần thiết cho công cuộc phát triển kinh tế với nhu cầu rất lớn nhằm đầu tư
cơ sở hạ tầng, đầu tư cho giáo dục đào tạo, đầu tư cho tiến bộ kỹ thuật - khoa học
- công nghệ, đầu tư cho sản xuất kinh doanh.


1.1.4. Các nguồn hình thành vốn đầu tư:
Vốn đầu tư của nền kinh tế được hình thành từ hai nguồn chính: vốn trong
nước và vốn ngoài nước.
a) Vốn trong nước:
Là vốn hình thành từ nguồn tích lũy nội bộ của nền kinh tế quốc dân. Cơ sở
vật chất kỹ thuật để có thể tiếp thu và phát huy tác dụng của vốn đầu tư nước
ngoài đối với sự phát tri
ển kinh tế của đất nước chính là khối lượng vốn đầu tư
trong nước. Tỷ lệ giữa vốn huy động được ở trong nước để tiếp nhận và sử dụng
có hiệu quả vốn nước ngoài tùy thuộc vào đặc điểm và điều kiện phát triển kinh tế
xã hội của mỗi nước.
Nguồn vốn đầu tư trong nước có ý nghĩa quyết đị
nh trong công cuộc phát
triển quốc gia. Xét về lâu dài thì nguồn vốn đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế
một cách liên tục, đưa đất nước đến sự phồn vinh một cách chắc chắn và không
phụ thuộc phải là nguồn vốn đầu tư trong nước.
- Vốn ngân sách nhà nước gồm: ngân sách trung ương và ngân sách địa
phương. Vốn ngân sách được hình thành từ vốn tích lũy của nền kinh tế và được
nhà nước duy trì trong k
ế hoạch ngân sách để cấp cho đơn vị thực hiện các công
trình thuộc kế hoạch nhà nước. Vốn này được đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội, quốc phòng, an ninh, không có khả năng thu hồi vốn và được quản lý, sử
dụng theo phân cấp về chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển; hỗ trợ cho
các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà nước theo
quy
định của pháp luật; chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các dự án quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô
thị và nông thôn…


-10-

- Vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh hoặc tín dụng đầu tư phát triển của
nhà nước được sử dụng cho đầu tư sản xuất kinh doanh, tổ chức kinh tế không
thuộc doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nhà nước.
- Vốn của các doanh nghiệp quốc doanh: được hình thành từ lợi nhuận để
lại của các doanh nghiệp để bổ sung cho vốn kinh doanh. Nguồn vốn này luôn có
vai trò to lớn và tác dụng trực tiếp nhấ
t đối với tốc độ tăng trưởng hàng năm của
tổng sản phẩm trong nước. Đây chính là nguồn vốn mà các chính sách kinh tế
trong các giai đoạn tiếp theo tập trung thu hút cho đầu tư.
- Vốn của tư nhân và của hộ gia đình: trong xu hướng khuyến khích đầu tư
trong nước và cổ phần hóa những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ thì
nguồn vốn đầu tư từ khu vực này ngày càng lớn về
quy mô và tỷ trọng so với vốn
đầu tư của khu vực nhà nước.
Vốn đầu tư của tư nhân hay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là phần lợi
nhuận còn lại sau khi trừ đi các loại thuế và các khoản lãi cho cổ đông (đối với
công ty cổ phần). Vốn của dân cư là phần thu nhập chưa dùng đến thường được
tích lũy dưới dạng trữ kim, đô la hay các bất động sản ho
ặc gửi tiết kiệm trong
ngân hàng hoặc ngày công lao động.

b) Vốn nước ngoài:
Vốn đầu tư nước ngoài là vốn của các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư
vào trong nước dưới các hình thức đầu tư gián tiếp hoặc đầu tư trực tiếp.
- Vốn đầu tư gián tiếp: là vốn của các Chính Phủ, các tổ chức quốc tế như:
viện trợ không hoàn lại, cho vay ưu đãi với lãi suất thấp và thời hạn dài, kể c
ả vay
theo hình thức thông thường. Một hình thức phổ biến của đầu tư gián tiếp tồn tại
dưới hình thức ODA-Viện trợ phát triển chính thức của các nước công nghiệp
phát triển. Vốn đầu tư gián tiếp thường lớn, cho nên tác dụng mạnh và nhanh đối
với giải quyết dứt điểm các nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của nước nhận đầu
tư. Vai trò đầu t
ư gián tiếp được thể hiện ở những thành tựu phát triển kinh tế-xã
hội của Hàn Quốc, Philipine những năm sau giải phóng và đối với Việt Nam
những năm chống Mỹ cứu nước. Tuy nhiên, tiếp nhận vốn đầu tư gián tiếp thường
gắn với việc trả giá bằng chính trị, nợ nần chồng chất nếu không sử dụng có hiệu
quả vốn vay và thự
c hiện nghiêm ngặt chế độ trả nợ vay. Các nước Đông Nam Á
và NICS Đông Á đã thực hiện giải pháp vay dài hạn, vay ngắn hạn rất hạn chế và
đặc biệt không vay thương mại. Vay dài hạn lãi suất thấp, việc trả nợ không khó
khăn vì có thời gian hoạt động đủ để thu hồi vốn.


-11-

- Vốn đầu tư trực tiếp (FDI): là vốn của các doanh nghiệp và cá nhân
nước ngoài đầu tư sang các nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý
quá trình sử dụng và thu hồi vốn bỏ ra. Vốn này thường không chỉ đủ lớn để giải
quyết dứt điểm từng vấn đề kinh tế xã hội của nước nhận đầu tư. Tuy nhiên, với
vốn đầu tư tr
ực tiếp thì nước nhận đầu tư không phải lo trả nợ, lại có thể dễ dàng
có được công nghệ (do người đầu tư đem vào góp vốn sử dụng), trong đó có cả
công nghệ bị cấm xuất theo con đường ngoại thương, vì lý do cạnh tranh hay cấm
vận nước nhận đầu tư; học tập kinh nghiệm quản lý, tác phong làm việc theo lối
công nghiệp của nước ngoài, gián tiếp có chỗ đứ
ng trên thị trường thế giới; nhanh
chóng được thế giới biết đến thông qua quan hệ làm ăn với nhà đầu tư. Nước nhận
đầu tư trực tiếp phải chia sẻ lợi ích kinh tế do đầu tư đem lại với người đầu tư theo
mức độ góp vốn của họ. Vì vậy, có quan điểm cho rằng đầu tư trực tiếp sẽ làm
cạn kiệt tài nguyên củ
a nước nhận đầu tư.
Tùy theo điều kiện cụ thể của mình, các nước ASEAN và NICS Đông Á, có
nước dựa chủ yếu vào vốn đầu tư gián tiếp (Hàn Quốc, Philipine, Thái Lan,
Inđônêsia, Malaixia), có nhiều nước lại chú trọng vốn đầu tư trực tiếp (Singapor,
Hồng Kông). Để thu hút nhanh các nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, các
nước ASEAN và NICS Đông Á đã tạo môi trường thuận lợ
i cho nhà đầu tư nước
ngoài như: cung cấp cơ sở hạ tầng, dịch vụ, có luật đầu tư ưu đãi, lập các khu chế
xuất. Hướng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở các nước ASEAN là kỹ thuật cao, ở
các nước NICS là phục vụ xuất khẩu.
Ở Việt Nam để đạt được tốc độ tăng trưởng GDP ít nhất là 7%/năm thì tổng
vốn đầ
u tư toàn xã hội trong 10 năm (2001-2010) phải đạt mức 50-55 tỷ USD.
Theo tình hình Việt Nam hiện nay thì các nguồn vốn trong nước chỉ đáp
ứng được một nửa nhu cầu, nửa còn lại phải huy động từ bên ngoài. Đó chính là
vốn ODA và FDI, trong đó dự kiến thu hút khoảng 11-12 tỷ USD và 15-17 tỷ vốn
FDI, tổng cộng 25-28 tỷ USD vốn nước ngoài (theo chiến lược phát triển kinh tế
do Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự th
ảo).
1.2.
CÁC CHỈ TIÊU HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ
1.2.1. Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn đầu tư ở tầm vĩ mô:
Đầu tư mang lại tính chất dài hạn và liên quan đến nhiều mặt hoạt động.
Trong từng giai đoạn của toàn bộ quá trình đầu tư, các mặt hoạt động này sẽ tác
động đến hiệu quả vốn đầu tư theo những mức độ khác nhau. Để đánh giá hiệu
quả vốn đầu tư
ở tầm vĩ mô cần phải có nhiều chỉ tiêu nhằm đo lường hiệu quả


-12-

từng mặt hoạt động này sẽ tác động đến hiệu quả vốn đầu tư theo những mức độ
khác nhau. Để đánh giá hiệu quả vốn đầu tư ở tầm vĩ mô cần phải có nhiều chỉ
tiêu nhằm đo lường hiệu quả từng mặt, từng giai đoạn đầu tư.
a) Hiệu suất tài sản cố định:
Hiệu suất tài s
ản cố định biểu hiện sự so sánh giữa khối lượng tổng sản
phẩm quốc nội được tạo ra trong kỳ (GDP) với khối lượng giá trị TSCĐ trong kỳ
(FA), được tính theo công thức:
H
(fa)
=
FA
GDP

Chỉ tiêu này cho biết, trong từng thời kỳ nào đó thì một đồng giá trị TSCĐ
sử dụng sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng sản phẩm quốc nội. Chỉ tiêu này phản ánh
hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn có chỗ chưa chính xác vì sự biến động của
TSCĐ và tổng sản phẩm quốc nội không hoàn toàn phụ thuộc vào nhau.

b) Hiệu suất vốn đầu tư:
Hiệu suất vốn đầu tư biểu hiện quan hệ so sánh giữa mức tăng trưởng GDP
và vốn đầu tư trong kỳ, được xác định theo công thức:

Hi =
I
GDP
Δ

Trong đó: Hi là hiệu suất vốn đầu tư trong kỳ,
∆GDP là mức tăng trưởng GDP trong kỳ,
I là mức đầu tư trong kỳ.
Chỉ tiêu hiệu suất vốn đầu tư phản ánh tổng hợp hiệu quả vốn đầu tư,
nhưng có nhược điểm cơ bản là sự hạn chế về tính so sánh được giữa tử số và
mẫu số của chỉ tiêu, vì giữa GDP và vốn đầu tư trong cùng một thời kỳ không tồn
tại mối quan hệ trực tiếp. Thời kỳ ngắn thì nhượ
c điểm này càng bộc lộ rõ.
Có thể tham khảo công thức sử dụng hệ số K:

K =
1−
Δ
t
t
I
GDP



So sánh mức tăng GDP năm sau với tổng số vốn đầu tư năm trước.

c) Hệ số gia tăng vốn sản phẩm (hệ số ICOR):


-13-

Hệ số ICOR cho biết trong từng thời kỳ cụ thể muốn tăng thêm một đồng
GDP thì cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư. Hệ số ICOR càng thấp thì hiệu quả sử
dụng vốn đầu tư càng cao.
ICOR = Vốn đầu tư/Tốc độ tăng GDP
Hệ số ICOR đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch kinh tế.

d) Hệ số trang bị TSCĐ cho lao động:
Hệ số trang bị TSCĐ cho lao động (H
L
) được xác định bằng tỷ số giữa giá
trị bình quân của tài sản cố định trong kỳ (FA) và số lượng lao động sử dụng bình
quân trong kỳ (L) được tính theo công thức:
H
L
=
L
FA

Hệ số này cũng là một chỉ tiêu hiệu quả vốn đầu tư quan trọng vì kết quả
vốn đầu tư được biểu hiện ở khối lượng tài sản cố định, yếu tố vật chất hóa sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật trong việc nâng cao mức độ trang bị kỹ thuật cho lao
động biểu hiện kết quả của việ
c tăng cường cơ giới hóa, tự động hóa và các
phương hướng phát triển khoa học kỹ thuật khác là tiền đề quan trọng đảm bảo
năng suất lao động, phát triển sản xuất, nâng cao mức sống của dân cư.

e) Hệ số thực hiện vốn đầu tư:
Hệ số thực hiện vốn đầu tư là một chỉ tiêu hiệu quả vốn đầu tư rất quan
trọng, nó phản ánh mối quan hệ giữa khối lượng vốn đầu tư bỏ ra với giá trị tài
sản cố định (kết quả của vốn đầu tư) được đưa vào sử dụng. Hệ
số được tính theo
công thức: H
u
=
I
FA


Trong đó: H
u
là hệ số thực hiện vốn đầu tư,
FA là giá trị TSCĐ được đưa vào sử dụng trong kỳ,
I là mức đầu tư trong kỳ.
Hệ số vốn đầu tư càng lớn, biểu hiện hiệu quả vốn đầu tư càng cao.

1.2.2. Các chỉ tiêu hiệu quả vốn đầu tư ở tầm vi mô:
Đo lường và đánh giá hiệu quả vốn đầu tư ở tầm vi mô tức là đo lường và
đánh giá hiệu quả của từng dự án đầu tư.
a) Thời gian hoàn vốn: Thời gian hoàn vốn đầu tư
xác định khoảng thời
gian số vốn đầu tư bỏ ra và thu hồi lại được hoàn toàn.


-14-

Thời gian hoàn vốn đầu tư có thể xác định theo thời gian hoàn vốn đầu tư
không chiết khấu (ký hiệu là I) và thời gian hoàn vốn đầu tư có tính đến yếu tố
thời gian của tiền (thời gian hoàn vốn đầu tư có chiết khấu P(I
t
) ).
+ Thời gian hoàn vốn không chiết khấu của dự án: là thời gian cần thiết để
thu hồi lại số vốn đầu tư đã bỏ ra bằng các khoản tích lũy hoàn vốn hàng năm. Chỉ
tiêu này được tính toán trong dự án tiền khả thi: khi chỉ tiêu tính toán càng nhỏ
hơn thời gian hoàn vốn không chiết khấu cho phép thì hiệu quả hoạt động của dự
án càng cao, càng hấp dẫn; ngược lại nế
u chỉ tiêu tính toán lớn hơn cho phép thì
dự án không đảm bảo thời gian hoàn vốn, cần phải điều chỉnh dự án.
Công thức tính: I =
()

=
+
n
t
tt
DNP
1


Trong đó: I là tổng vốn đầu tư cho dự án
t = 1,2,3…n là số thứ tự năm thực hiện dự án
NP
t
là lợi nhuận sau thuế hàng năm của dự án
D
t
là giá trị khấu hao hàng năm của dự án

Trong điều kiện một nước đang phát triển, còn thiếu vốn thì chỉ tiêu thời
gian hoàn vốn được xác định quan trọng hàng đầu và nhất thiết được xem xét,
đánh giá trong thẩm định dự án. Một dự án đầu tư, trước hết cần thu hồi đủ số vốn
đã bỏ ra để sử dụng cho các mục đích sinh lời, mục tiêu phát triển tiếp theo.

+ Thời gian hoàn vốn có chiết khấu của dự án: là thời gian cần thiết để thu
hồi lại hiện giá vốn đầu tư đã bỏ ra bằng hiện giá tích lũy hoàn vốn hàng năm. Chỉ
tiêu này được tính toán trong dự án khả thi: khi chỉ tiêu tính toán càng nhỏ hơn
thời gian hoàn vốn không chiết khấu cho phép thì hiệu quả hoạt động của dự án
càng cao, càng hấp dẫn; ngược lại nếu chỉ tiêu tính toán lớn h
ơn cho phép thì dự
án không đảm bảo thời gian hoàn vốn, cần phải điều chỉnh dự án.
Công thức tính: P(I
t
) = P (NP
t
+ D
t
)

Trong đó: P(I
t
) là tổng hiện giá vốn đầu tư phân bổ hàng năm
P (NP
t
+ D
t
) là tổng hiện giá tích lũy hoàn vốn hàng năm của dự án

b) Tỷ suất sinh lời nội bộ của dự án (IRR):
Là tỷ suất chiết khấu, mà với tỷ suất này hiện giá thu nhập thuần NPV của
dự án bằng 0. Tỷ suất sinh lời nội bộ của dự án IRR (% năm) là tỷ lệ lãi do dự án
đem lại lãi suất IRR thì:
- Nếu IRR < r dự án sẽ lỗ tức NPV < 0
- Nếu IRR = r dự án sẽ hòa vốn tức NPV = 0
- Nếu IRR > r dự án sẽ l
ỗ tức NPV > 0

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét