Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Một số Giải pháp nâng cao hiệu quả NK ở Cty XNK tổng hợp ngành muối

Nên chọn phơng pháp bán nào cho phù hợp?
2.2. Lựa chọn đối tác giao dịch.
Việc nghiên cứu thị trờng giúp cho doanh nghiệp có thể lựa chọn thị trờng thời
cơ thuận lợi, phơng thức mua bán và điều kiện giao dịch thích hợp. Tuy nhiên trong
nhiều trờng hợp, kết quả hoạt động kinh doanh còn phụ thuộc vào đối tác giao dịch.
Trong những điều kiện nh nhau, việc giao dịch với khách hàng cụ thể này thì thành
công, nhng với khách hàng khác nhau thì sẽ gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Mục
đích của lựa chọn đối tác là tìm kiếm ngời cộng tác khả dĩ, an toàn và có lợi. Trong
quá trình lựa chọn đối tác giao dịch doanh nghiệp cần nghiên cứu những vấn đề sau:
Tình hình sản xuất kinh doanh của đối tác: lĩnh vực kinh doanh, phạm vi kinh
doanh, chất lợng sản phẩm, giá cả, khả năng cung cấp sản phẩm lâu dài và thờng
xuyên
Khả năng về vốn và cơ sở vật chất của đối tác: cho thấy u thế của đối tác trên
thị trờng, thực trạng khả năng sản xuất kinh doanh của họ.
Thái độ và quan điểm của đối tác.
Uy tín và mối quan hệ với các bạn hàng của đối tác
Tình hình chính trị của nớc đối tác. đây là vấn đề quan trọng, nhất là khi trên
thế giới đang xảy ra nhiều xung đột lớn về chính trị, quân sự, có ảnh hởng lớn đến
quá trình nhập khẩu.
Muốn tìm đợc đối tác phù hợp, các nhân viên kinh doanh nhập khẩu cần phải tìm
hiểu thông tin thông qua các bạn hàng đã từng làm việc với đối tác mà doanh
nghiệp sẽ tiến hành đàm phán, phân tích tình hình hoạt động của họ nếu điều
kiện thông tin cho phép.
2.3. Đàm phán ký kết hợp đồng.
2.3.1. Đàm phán.
Đàm phán là quá trình bàn bạc, trao đổi với nhau các điều kiện mua bán giữa các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu để đi đến thống nhất, ký kết hợp đồng.
Đàm phán có nhiều hình thức đàm phán khác nhau nh: đàm phán qua th tín, qua
điện thoại, qua gặp gỡ trực tiếp
2.3.2.Ký kết hợp động:
5
Hợp đồng XNK là hợp đồng mua bán đặc biệt, trong đó ngời bán có nghĩa vụ
chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho ngời mua vợt qua biên giới quốc gia, còn ngời
mua có nghĩa vụ trả cho ngời bán một khoản tiền ngang giá trị hàng hoá bằng các ph-
ơng thức thanh toán quốc tế theo thoả thuận và không vi phạm pháp luật. Ngoài ra
hợp đồng coàn là cơ sở pháp lý để giải quyết mọi tranh chấp phát sinh (nếu có). Vì
vậy khi ký hợp đồng cần phải chú ý:
Ghi rõ và đầy đủ ngày tháng lập hợp đồng, các bên ký kết hợp đồng.
Liệt kê cụ thể các điều khoản của hợp đồng nh tên hàng, số lợng hàng, phẩm
chất
Trớc khi ký kết hợp đồng phải ghi rõ số bản hợp đồng, ngôn ngữ sử dụng,
thời gian và địa điểm ký hợp đồng, thời gian hợp đồng có hiệu lực
2.4. Tổ chức thực hiện hợp đồng.
Sau khi hợp đồng đợclý kết, đơn vị kinh doanh nhập khẩu với t cách là một bên
ký kết sẽ phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Việc thực hiện hợp đồng sẽ phải trải
qua nhiều bớc để có thể đảm bảo đợc việc tuân thủ các quy định của Luật pháp Quốc
tế, bảo đảm đợc việc hàng hoá bên nhập khẩu đợc thoả mãn yêu cầu của mình. Các b-
ớc mà doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải trải qua trong qúa trình thực hiện hợp đồng
nhập khẩu đợc sơ đồ hoá nh sau:
Sơ đồ 1: Quy trình tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu:
6

kết
HĐ-
KD-
NK
Xin
giấy
phép
NK
Mở
L/C
khi
bên
bán
Đôn đốc
bên bán
giao
hàng
Thuê
tàu
hoặc lu
cớc
Mua
bảo
hiểm
hàng
hoá
Làm thủ
tục hải
quan
Nhận
hàng
Kiểm
tra
hàng
hoá
Làm
thủ tục
thanh
toán
Khiếu nại và
xử lý khiếu
nại ( nếu có )
2.4.1 Xin giấy phép nhập khẩu.
Giấy phép nhập khẩu là một biện pháp quan trọng để Nhà nớc quản lý nhập
khẩu vì thế sau khi ký hợp đồng nhập khẩu, doanh nghiệp phải xin phép nhập khẩu để
thực hiện hợp đồng đó. Giấy phép do Bộ Thơng Mại làm thủ tục xin giấy phép nhập
khẩu khác nhau đối với hàng hoá thuộc các nhóm hàng khác nhau. Nó bảo đảm về
mặt pháp lý của các bên tham gia xuất nhập khẩu, hàng hoá đợc xuất nhập khẩu đúng
với Luật Pháp của các nớc.
2.4.2 Mở th tín dụng L/C
Nếu hợp đồng quy định thanh toán bằn phơng thức th tín dụng chứng từ bên mua
phải mở L/C ở ngân hàng khi có thông báo từ bên bán. Thời gian mở L/C phụ thuộc
vào thời gian giao hàng. Để cho chặt chẽ, hợp đồng thờng quy định cụ thể ngày giao
hàng, ngày mở L/C. Nếu nh hợp đồng không quy định cụ thể thì thông thờng thời
gian này là khoảng 15 đến 20 ngày trớc khi đến thời gian giao hàng. Cơ sở mở L/C là
các điều khoản của hợp đồng nhập khẩu. Đơn vị nhập khẩu dựa vào cơ sở đó làm đơn
xin mở L/C gng theo mẫu của ngân hàng.
2.4.3 Đôn đốc bên bán giao hàng.
Sau khi xin giấy pép nhập khẩu và mở th tín dụng L/C, bên doanh nghiệp nhập
khẩu cũng nên thờng xuyên liên lạc với bên đối tác xuất khẩu để đôn đốc thực hiện
giao hàng đúng hợp đồng đã đợc thảo thuận. Mặt khác, khi nảy sinh những trờng hợp
trục trặc thì sớm biết để phối hợp với bên xuất để kịp thời xử lý.
2.4.4 Thuê tàu chở hàng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thơng, việc thuê tàu chở
hàng dựa vào những căn cứ sau:
- Những điều khoản trong hợp đồng mua bán.
- Đặc điểm hàng hoá mua bán
- Điều kiện vân tải.
Nếu điều kiện cơ sở là FOB thì bên nhập khẩu phải thuê tàu để chở hàng, nếu
điều kiện giao hàng là CIF thì bên nhập khẩu phải thuê tàu mà nghĩa vụ đó thuộc về
ngời xuất khẩu.
7
Tuỳ theo đặc điểm của hàng hoá kinh doanh, phơng thức thuê tàu cho phù hợp :
thuê tàu chuyến, tàu chợ hay tàu bao. Nếu nhập khẩu thờng xuyên với khối lợng lớn
thì nên thuê tàu chuyến. Nếu nhập khẩu với khối lợng nhỏ thì nên thuê tàu chợ.
2.4.5 Mua bảo hiểm hàng hoá.
Chuyên chở hàng hoá bằng đờng biển thờng gặp rất nhiều rủi ro, tổn thất. Bởi
vậy, trong kinh doanh thơng mại quốc tế, bảo hiểm hàng hoá đờng biển là loại bảo
hiểm phổ biến nhất. Hợp đồng bảo hiểm có thể chia làm hai loại: Hợp đồng bảo hiểm
bao và hợp đồng bảo hiểm chuyến.
Ngoài ra, khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, cần nắm vững các điều kiện bảo hiểm,
đó là : bảo hiểm mọi rủi ro ( điều kiện A), bảo hiểm có bồi thờng tổn thất riêng ( điều
kiện B ), bảo hiểm miễn bồi thờng tổn thất riêng ( điều kiện C). Ngoài ra còn có một
số điều kiện bảo hiểm đặc biệt nh : bảo hiểm chiến tranh, bảo hiểm đình công, bạo
động. Để lựa chọn điều kiện bảo hiểm cho phù hợp cần căn cứ vào tính chất, đặc
điểm của hàng hoá, thời tiết, khả năng vận chuyển bốc dỡ, đặc điểm quãng đờng.
2.4.6 Làm thủ tục hải quan.
Hàng hoá vận chuyển qua biên giới quốc gia để xuất khẩu hay nhập khẩu để
phải làm thủ tục hải quan. Thủ tục hải quan là một công cụ để quản lý hành vi buôn
bán theo pháp luật của nhà nớc để : ngăn chặn xuất nhập khẩu luậu qua biên giới; để
kiểm tra giấy tờ có sai sót, giả mạo hay không; để thống kê số liệu về hàng xuất nhập
khẩu. Việc làm thủ tục hải quan gồm 3 bớc chủ yếu sau:
Bớc 1: Khai báo hải quan
Chủ hàng phải kê khai chi tiết về hàng hoá lên tờ khai để cơ quan hỉa quan kiểm
tra các thủ tục giấy tờ. Việc kê khai phải trung thực, chính xác. Tờ khai hải quan phải
đợc xuất trình cùng với một số chứng từ khác: giấy phép nhập khẩu, hoá đơn, phiếu
đóng gói bản kê khai chi tiết, vận đơn.
Bớc 2: Xuất trình hàng hoá.
Hải quan đợc phép kiểm tra hàng hoá nếu thấy cần thiết. Thông thờng với khối l-
ợng ít, hàng lên bờ thì vận chuyển đến kho Hải quan kiểm lợng làm thủ tục hải quan
và nộp thuế ( nếu có ) đối với hàng nhập khẩu. Đối với hàng hoá nhập khẩu với khối
8
lợng lớn, việc kiểm tra hàng hoá và giấy tờ của Hải quan có thể diễn ra tại cửa khẩu
hay tại nơi giao hàng cuối cùng.
Bớc 3: Thực hiện các quyết định của Hải quan.
Sau khi kiểm ra giấy tờ và hàng hoá, Hải quan sẽ ra các quyết định : cho hàng
qua biên giới ( thông quan ); cho hàng qua biên giới có điều kiện ( ví dụ: phải sửa
chữa, khắc phụ khuyết tật, .) ; cho hàng qua biên giới sau khi chủ hàng đã nộp thuế
xuất nhập khẩu; không đợc phép nhập khẩu. Doanh nghiêp có trách nhiệm nghiêm
túc thực hiện các quyết định trên. Nếu vi phạm các quyết định trên sẽ thuộc vào tội
hình sự.
2.4.7 Nhận hàng.
Để nhận hàng hoá nhập khẩu từ nớc ngoài về, đơn vị nhập khẩu phải thực hiện
công việc sau:
- Ký kết hợp đồng uỷ thác cho cơ quan vận tải ( ga, cảng ) về việc giao nhận
hàng.
- Xác nhận với cơ quan vận tỉa kế hoạch tiếp nhận hàng hoá nhập khẩu.
- Cung cấp tài liệu cần thiết cho việc nhận hàng ( vận đơn, lệnh giao hàng )
nếu tàu biển không giao những tài liệu đó cho cơ quan vận tải.
- Theo dõi việc giao nhận, đôn đốc cơ quan vận tải lập biên bản ( nếu cần ) về
hàng hoá và giải quyết trong phạm vi của minhf những vấn đề xảy ra trong
giao nhận.
- Thanh toán cho cơ quan vận tải các khoản phí tổn về giao nhận, bốc xếp, bảo
quản và vận chuyển nhập khẩu.
- Thông báo cho các đơn vị trong nớc đặt mua hàng nhập khẩu ( nếu hàng
nhập khẩu cho một đơn vị trong nớc ) dự kiến ngày hàng về, ngày thực tế tàu
chở hàng về đến cảng hoặc ngày toa xe chở hàng vào sân ga giao nhận. Hoặc
thông báo cho các đơn vị đặt hàng chuẩn bị tiếp nhận hàng hoá.
- Chuyển hàng về kho của doanh nghiệp hoặc giao trực tiếp cho các đơn vị đặt
hàng
2.4.8 Kiểm tra hàng hoá.
9
Kiểm tra chất lợng hàng hoá có tác dụng đảm bảo quyền lợi cho khách hàng,
ngăn chặn kịp thời những hậu quả xấu và bảo đảm uy tín trong quan hệ buôn bán
xuất nhập khẩu, nó gồm những công việc nh kiểm tra hàng hoá và kiểm định hàng
hoá nếu hàng hoá là động thực vật, kiểm tra về số lợng hàng hoá xuất nhập khẩu đợc
thực hiện bởi các cơ quan chức năng đặc biệt nh Công ty giám định, cơ quan Hải
quan cở ga, cảng.
2.4.9 Làm thủ tục thanh toán.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thơng, có thể nói thanh toán là khâu
trọng tâm và kết quả cuối cùng của tất cả các giao dịch kinh doanh thơng mại quốc
tế. Do đặc điểm buôn bán với nớc ngoài, nên thanh toán trong kinh doanh thơng mại
quốc tế phức tạp do vậy cần phải rất cẩn thận để tránh xảy ra tổn thất. Trong thủ tục
thanh toán, có nhiều phơng thức thanh toán nh: th tín dụng ( L/C), phơng thức nhờ
thu, chuyển tiền Việc thực hiện thanh toán theo phơng thức nào phải quy định cụ
trể trong hợp đồng. Doanh nghiệp phải tiến hành thanh toán theo đúng điều kiện của
hợp đồng.
2.4.10 Khiếu nại về hàng hoá ( nếu có )
Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nếu chủ hàng xuất khẩu phát hiện thấy hàng
nhập khẩu bị tổn thất, đổ vỡ, thiếu hụt, mất mát thì cần lập hồ sơ khiếu nại ngay để
khỏi bỏ lỡ thời hạn khiếu nại. Bên nhập khẩu phải viết đơn khiếu nại và gửi cho bên
bị khiếu nại trong thời hạn quy định, kèm theo những bằng chứng về việc tổn thất nh:
biên bản giám định, hoá đơn, vận đơn đờng biển, đơn bảo hiểm ( nếu khiêu nại Công
ty bảo hiểm )
Tuỳ theo nội dung khiếu nại mà ngời nhập khẩu và bên bị khiếu nại có các cách
giải quyết khác nhau. Nếu nh không tự giải quyết đợc thì làm đơn kiện gửi đến trọng
tài kình tế hoặc toà án kinh tế theo quy định trong hợp đồng.
Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu là khâu quan trọng nhất và cũng là khâu
có chịu tác động của nhiều nhân tố. Nó bao gồm các nghiệp vụ, các giai đoạn khác
nhau nhng phải đợc tiến hành theo trình tự nhất định hoặc tiến hành song song. Trong
giai đoạn này, nếu thực hiện đợc tốt thì hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của công ty sẽ
tăng lên do tiết kiệm đợc thời gian tranh thủ đợc cơ hội kinh doanh, tiết kiệm đợc chi
phí sở dụng vốn, tăng tốc độ quay vòng của vốn và tránh đợc các rủi ro trong khi
10
nhập hàng. Muốn làm tốt khâu này thì ngoài việc nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ
làm hàng thì công ty cũng cần thiết lập quan hệ tốt với các cơ quan nh ngân hàng,
thuế quan, hải quan, cơ quan vận chuyển
2.5. Tổ chức tiêu thụ hàng nhập khẩu.
Sau khi nhập hàng từ ngoài về, doanh nghiệp giao hàng cho đơn vị đặt hàng
hoặc tổ chức tiêu thụ tốt trên thị trờng nội địa. Doanh nghiệp nhập khẩu cần tiến hành
tiêu thụ hàng hoá có hiệu quả, đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp, tạo điều
kiện tái đầu t vào quá trình nhập khẩu tiếp theo.
Đây là giai đoạn bán hàng hay tiêu thụ hàng nhập khẩu. Nó giúp cho giá trị đ-
ợc thực hiện. Tiêu thụ nhanh thì công ty sớm thu hồi vốn để sử dụng đầu t vào các
lĩnh vực có lãi khác. Ngoài ra, trong quá trình tiêu thụ, công ty mới có cơ hội xây
dựng chữ tín với các bạn hàng và tìm hiểu đợc nhu cầu của các khách hàng hiện tại và
tiềm năng. Để làm tốt khâu này, doanh nghiệp nhập khẩu cần đề ra các biện pháp
nhằm củng cố các quan hệ truyền thống, đồng thời thu hút nhiều khách hàng hơn nữa
đến với doanh nghiệp mình, nh các biện pháp về thanh toán, vận chuyển, lu kho
II/ Quan niệm và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả XNK.
1. Quan niệm về hiệu quả kinh doanh nhập khẩu.
Theo nghĩa tổng quát, hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ và
năng lực quản lý, bảo đảm thực hiện có kết quả cao những nhiệm vụ kinh tế - xã hội
đặt ra với chi phí nhỏ nhất.
Với nội dung nh vậy, ta cần phân biệt sự khác nhau và mối quan hệ giữa hiệu
quả kinh doanh và kết quả kính doanh. Hiệu quả kinh doanh về hình thức luôn là một
phạm trù so sánh thể hiện mối tơng quan gữa cái bỏ ra và cái thu về đợc, còn kết quả
chỉ là yếu tố cần thiết để tính toán và phân tích hiệu quả. Khi xem xét độc lập chỉ tiêu
kết quả kinh doanh thì nó cha thể hiện đợc nó tạo ra ở mức và với chi phí nào.
Mặt khác khi xem xét vấn đề hiệu quả kinh doanh cũng cần phải đặt nó trong
một quá trình mà trong đó các yếu tố tăng thêm có sự liên kết đến những yếu tố sẵn
có bới xét trên quan điểm triết học Mác-Lênin thì sự vật và hiện ợng đều có mối quan
hệ rang buộc chứ không tồn tại một cách riêng lẻ. Việc xem xét nh vậy để tránh ý kến
cho rằng hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỉ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và
11
phần tăng thêm của chi phí. Việc quan niệm nh vậy là phù hợp hơn cho việc đánh giá
hiệu quả kinh doanh của việc mở rộng sản xuất kinh doanh.
Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng coa năng suất lao động xã
hội và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề
hiệu quả kinh tế. Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính cạnh
tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra yêu cầu phải khai
thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực. Để đạt đợc mục tiêu kinh doanh,
các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu
năng của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí. Vì vậy, yêu cầu của việc nâng
coa hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu, hay
chính xác hơn là đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định hoặc ngợc lại đạt kết quả
nhất đinhj với chi phí tối thiểu. Chi phí ở đây đợc hiểu theo nghĩa rộng là chi phí tạo
ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội.
Khi đánh giá hiệu quả kinh doanh cần xem xét trên hai mặt định lợng và định
tính. Về mặt định lợng: Hiệu quả kinh doanh của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh
doanh biểu hiện ở mỗi tơng quan giữa kết quả thu đợc và chi phí bỏ ra. Nếu xét về
mặt tổng lợng thì hiệu quả kinh doanh chỉ có đợc khi kết quả lớn hơn chi phí, chênh
lệch này càng lớn thì thiệu quả kinh doanh càng cao và ngợc lại. Về mặt định tính,
mức độ hiệu quả kinh doanh coa thu đợc phản ánh sự cố gắng nỗ lực, trình độ quản lý
của mỗi khâu, mỗi bộ phận trong doanh nghiệp và sự gắn bó của việc giải quyết
những yêu cầu và mục tiêu kinh doanh với những yêu cầu và mục tiêu chính trị - xã
hội. Hai mặt định lợng và định tính của phạm trù này có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Trong những biểu hiện về định lợng phải nhằm đạt đợc những mục tiêu chính trị xã
hội nhất định. Ngợc lại, việc quản lý kinh tế dù ở giai đoạn nào cũng không chấp
nhận việc thực hiện những yêu cầu mục tiêu chính trị- xã hội với bất kỳ giá nào.
Trên đây, ta đã đề cập tới quan niệm hiệu quả kinh doanh đối với các hoạt động
kinh doanh nói chung. Vậy hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xuất nhập khẩu có
gì khác ?
Nh chúng ta đã biết, hoạt động nhập khẩu kà một trong hai hoạt động chính của
thơng mại quốc tế. Nó ra đời nhằm thoả mãn nhu cầu trao đổi giữa các quốc gia, cụ
thể là nhằm bù đắp những hàng hoá, vật t nguyên liệu trong nớc không có hoặc sản
xuất cha đủ, hoặc sản xuất kém hiệu quả. Xét theo ý nghĩa đó thì hoạt động nhập
khẩu là hết sức cần thiết, nó đóng góp vào việc nâng cao đời sống của nhân dân cũng
12
nhu góp phần vào việc nâng cao năng lực và ổn định sản xuất của các doanh nghiệp
trong nớc. Nh vậy, xét về mặt bản chất hiệu quả kinh doanh nhập khẩu là một hình
thái của hoạt động kinh doanh nói chung, nó kế thừa và xoay quanh bản chất của hoạt
động kinh doanh, nó đợc mở rộng về mặt không gian trao đổi hàng hoá và chủng loại
hàng hoá. Do vậy, bản chất của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu là bản chất của
hoạt động kinh doanh nói chung. Tuy vậy, khi đề cập đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu chúng ta cũng cần quan tâm tới một số đặc
điểm có tính đặc trng của nó. Bởi vì, doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu là một
doanh nghiệp trao đổi buôn bán hàng hoá vợt qua biên giới đất nớc.
Tuy nhiên xét theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh doanh nhập khẩu là t-
ơng quan giữa kết quả thu về và chi phí bỏ ra để có đợc kết quả đó.
Mặt khác nếu đứng trên góc độ từng yếu tố riên lẻ để xem xét thì hiệu quả là thể
hiện tình độ và khả năng sử dụng các yếu tố, các nguồn lực cần thiết phục vụ cho quá
trình kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.
Trong thực tế, hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu trong các doanh nghiệp tăng
lên trong các trờng hợp sau:
- Kết quả tăng, chi phí giảm.
- Kết quả tăng, chi phí tăng nhng tốc độ tăng của chi phí chậm hơn tốc độ tăng
của kết quả kinh doanh xuất nhập khẩu. Trờng hợp này trong kinh doanh phổ
biến hơn và ta phải chấp nhận bởi lẽ thời gian đầu chi phí tăng cao nhng kết
quả thấp do đổi mới mặt hàng, thay đổi thị trờng,
Thờng khi mục tiêu tồn tại của doanh nghiệp trong điều kiện tối thiểu nhất là các
hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp phải tạo ra thu nhập từ buôn bán
với nớc ngoài, đủ bù đắp chi phí và có chút lãi còn nếu không là phải có lãi và tích
luỹ để tái sản xuất mở rộng. Điều này là một tất yếu khách quan buộc các doanh
nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu phaỉ nâng cao hiệu quả kinh doanh của
mình.
Cũng cần phải nói thêm rằng, đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của
doanh nghiệp cấn xem xét toàn diện về không gian và thời gian nhất là trong giai
đoạn hiện nay với đờng lối chính sách mở cửa nền kinh tế đất nớc, hiệu quả kinh
doanh nhập khẩu quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Về mặt thời gian, hiệu quả mà doanh nghiệp đật đợc trong từng thời kỳ, từng
giai đoạn không đợc làm giảm sút hiệu quả kinh doanh của các giai đoạn tiếp theo.
13
Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp không đợc vì lợi ích trớc mắt mà quên đi lợi ích
lâu dài; không phải giảm chi phí, tăng kết quả là hiệu quả khi chính việc tăng giảm
này ảnh hởng xấu đến các mục đích khác, kết quả khác.
Về mặt không gian, hoạt động kinh doanh nhập khẩu chỉ đợc coi là hiệu quả khi
bản thân nó có hiệu quả và không có ảnh hởng tiêu cực đến các ngành khác, hoặc
trong nội bộ ngành và cũng không thể nói là hiệu quả nếu nó không mang lại một
chút lợi ích nào cho xã hội.
Tóm lại, hiệu quả mà các doanh nghiệp đạt đựoc phải thảo mãn đợc yêu cầu của
cả doanh nghiệp và Nhà nớc. Hiệu quả là thớc đo trình độ quản lý của cán bộ lãnh
đạo, là chỉ tiêu đánh giá trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào. Từ đây, ta thấy rằng
việc đánh giá hiệu quả để đề ra phơng hớng biện pháp hành động cụ thể cho doanh
nghiệp là một việc làm cần thiết.
2. Phân loại hiệu quả nhập khẩu:
Hiệu quả kinh doanh có nhiều cách biểu hiện khác nhau tuỳ vào cách thức phân
tích xem xét mà ta chia hoạt động kinh doanh ra làm các loại khác nhau. Việc phân
loại hiệu quả kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực trong
công tác quản lý.
Trong kinh doanh nhập khẩu hiệu quả kinh doanh đợc biểu hiện ở những dạng
khác nhau. Việc phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu là cơ sở để xác định các
chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh nhập khẩu, phân tích hiệu quả kinh doanh nhập khẩu và
xác định những biện pháp nâng có hiệu quả kinh doanh nhập khẩu.Các cách phân loại
hiệu quả chủ yếu:
Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội:
Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả kinh doanh thu đợc từ hoạt động kinh
doanh nhập khẩu của từng doanh nghiệp kinh doanh. Biểu hiện chung của hiệu quả cá
biệt là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt đợc.
Hiệu quả kinh tế xã hội mà thơng mại đem lại cho nền kinh tế quốc dân là sự
đóng góp của hoạt động nhập khẩu vào phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế,
tăng năng suất lao động, tích luỹ ngoại tệ tăng thu nhập ngân sách, giải quyết việc
làm, cải thiện đời sống nhân dân.
Giữa hiệu quả cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội có mối quan hệ nhân quả và tác
động qua lại lẫn nhau. Hiệu quả kinh tế xã hội chỉ có thể đạt đợc trên cơ sở hoạt động
có hiệu quả của các doanh nghiệp nói chung, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét