Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Nghề dệt may của người Thái ở Noong Bua với phát triển du lịch văn hóa ở Điện Biên

Nghề dệt may của người Thái ở Noong Bua với phát triển du lịch văn hóa ở Điện Biên
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo, VH 1001

5
Trường ĐHDL Hải Phòng

Để bố sung tƣ liệu, trong quá trình thực hiện đề tài này, phƣơng pháp
nghiên cứu thƣ tịch cũng đƣợc áp dụng. Các tài liệu thƣ tịch đƣợc nghiên cứu
gồm: Báo cáo, tổng kết hàng năm của các cấp quản lý, ban ngành Điện Biên
và cơ sở; Tài liệu thống kê từ tỉnh, thành phố, phƣờng; Các loại sách có liên
quan đến ngƣời Thái và dệt may Thái đã đƣợc xuất bản ở Trung Ƣơng về địa
phƣơng; …
5. Đóng góp của khóa luận
Bài nghiên cứu góp phần bổ sung vào chỗ thiếu của khoa học, làm tài
liệu tham khảo. Và mang yếu tố thực tiễn, đóng góp cho phát triển du lịch ở
nơi đây.
Bài nghiên cứu góp phần bổ sung cho tƣ liệu các tộc ngƣời ở Điện Biên
và cho cả nƣớc.
6. Nội dung và bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, nội dung chính của khóa luận
đƣợc trình bày trong 3 chƣơng chính:
Chƣơng 1: Khái quát về người Thái Đen ở Noong Bua, Điện Biên
Chƣơng 2: Nghề dệt, may của người Thái Đen ở Noong Bua, Điện Biên
Chƣơng 3: Dệt may ở Noong Bua với phát triển du lịch ở Điện Biên








Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI THÁI ĐEN
Nghề dệt may của người Thái ở Noong Bua với phát triển du lịch văn hóa ở Điện Biên
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo, VH 1001

6
Trường ĐHDL Hải Phòng

Ở NOONG BUA, ĐIỆN BIÊN

1.1. Đặc điểm tự nhiên ở Noong Bua
Phƣờng Noong Bua là một trong 8 đơn vị hành chính thuộc thành phố
Điện Biên Phủ ( 7 phƣờng và một xã), đƣợc hình thành từ khi thị xã Điện
Biên Phủ ( nay là thành phố Điện Biên Phủ) đƣợc thành lập ngày 18 tháng 4
năm 1992. Phƣờng đƣợc chính thức thành lập ngày 16 tháng 9 năm 2003.
Toàn bộ đất đai, dân cƣ của phƣờng trƣớc khi trực thuộc thành phố là một bộ
phận của xã Thanh Minh, huỵện Điện Biên, tỉnh Lai Châu trƣớc đây.
+ Phía Đông: Giáp xã Pu Nhi và xã Mƣờng Phăng (huyện Điện Biên
Đông)
+ Phía Bắc: Giáp phƣờng Him Lam, thành phố Điện Biên
+ Phía Nam: Giáp phƣờng Nam Thanh, thành phố Điện Biên
+ Phía Tây: Giáp phƣờng Mƣờng Thanh, thành phố Điện Biên
Phƣờng Noong Bua có tổng diện tích đất đai tự nhiên là 1800 ha. Trong
đó diện tích đất canh tác nông nghiệp là 443 ha. Trong diện tích đất nông
nghiệp thì diện tích trồng lúa nƣớc là 89,4 ha và diện tích trồng lúa nƣơng là
45 ha, còn lại là đất khác và đồi núi tự nhiên.
Địa hình phƣờng Noong Bua gồm hai vùng rõ rệt:
* Vùng Thấp: là vùng có địa hình tƣơng đối bằng phẳng, ít bị chia cắt,
độ dốc nhỏ dƣới 15 độ, độ cao hơn 400m so với mực nƣớc biển, thuận lợi cho
sản xuất nông nghiệp, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ,
du lịch. Đặc biệt, phƣờng Noong Bua là một phần của cánh đồng Mƣờng
Thanh với diện tích trên 4000ha, là cánh đồng rộng nhất vùng Tây Bắc (nhất
Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc), với khả năng sản xuất lƣơng thực dồi dào
cánh đồng Mƣờng Thanh là vựa lúa của tỉnh Điện Biên.
Nghề dệt may của người Thái ở Noong Bua với phát triển du lịch văn hóa ở Điện Biên
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo, VH 1001

7
Trường ĐHDL Hải Phòng

*Vùng núi cao: Gồm có 3 bản:Tà Lènh, Nà Nghè, Kê Nênh, với địa
hình chủ yếu là đồi núi cao và đất dốc, thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp,
trồng lúa nƣơng, ngô, chăn nuôi đại gia súc.
Đất đai ở đây có độ phì khá cao, đƣợc phân bố thành các nhóm:
- Nhóm đất mùn: phân bố ở các bản vùng cao và dọc ven chân đồi ở các
bản vùng thấp
- Nhóm đất phù sa: phân bố dọc theo hai con suối là suối con (huổi nọi)
và suối lớn (hong phen). Sự phì nhiêu mầu mỡ của các loại đất này thích hợp
cho sự phát triển cây lƣơng thực, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày và
phát triển lâm nghiệp: lúa, ngô, khoai, sắn, đậu tƣơng, khoai tây, cây chàm,
cây bông
Khí hậu: ở Điện Biên nói chung và phƣờng Noong Bua nói riêng đều
nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và chia thành hai mùa rõ rệt:
Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 và kết thúc vào tháng 5 dƣơng lịch. Đó là
mùa bắt đầu những tháng lạnh nhất và kết thúc những ngày nóng nực nhất vào
tháng 9 theo lịch Thái.
Về mùa khô, trong những thung lũng sáng sớm sƣơng mù bao phủ,
ngƣời ta chỉ trông thấy những ngọn núi trƣớc mặt vào buổi trƣa khi mặt trời
đã lên cao.
Mùa đông tƣơng đối lạnh, ít mƣa, mùa hạ nóng, mƣa nhiều với các đặc
tính diễn biến thất thƣờng, phân hóa đa dạng, ít chịu ảnh hƣởng của bão,
nhƣng chịu ảnh hƣởng của gió phía Tây Nam (gió lào) khô, nóng.
Mùa mƣa bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 9, tháng 10 dƣơng
lịch. Khí hậu ẩm thấp, có nhiều lúc mƣa kéo dài đổ xuống suốt mấy giờ liền,
lại nhiều khi mƣa dầm, rả rích lê thê kéo dài hàng tuần. Lũ lụt gây nên tai họa
vào tháng 1 lịch Thái (tức tháng 7, tháng 8 dƣơng lịch).
Mùa khô lạnh ở Tây Bắc thƣờng kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm
sau (dƣơng lịch). Đặc điểm nổi bật của khí hậu Tây Bắc mùa này là khô và
hanh kèm theo lạnh buốt. Có những tháng về mùa này ở Tây Bắc lƣợng mƣa
Nghề dệt may của người Thái ở Noong Bua với phát triển du lịch văn hóa ở Điện Biên
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo, VH 1001

8
Trường ĐHDL Hải Phòng

chỉ đạt tới 5mm - 20mm. Vào những đợt rét nhất nhiều nơi có nhiệt độ
trung bình xuống dƣới 4-5
0
C, kèm theo lạnh và sƣơng mù dày đặc, gió bấc và
sƣơng muối.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 22,6
0
C, cao nhất 36-37
0
C, thấp
nhất là 10
0
C, lƣợng mƣa trung bình hàng năm khoảng 1500mm, độ ẩm trung
bình 84 - 85%, số giờ nắng 1900-2000 giờ/năm.
Vào thời điểm giao mùa, tức từ tháng 2- tháng 4 (dƣơng lịch) ở Tây
Bắc trời chuyển từ lạnh sang nóng. Vào thời gian này chênh lệch nhiệt độ
giữa ban ngày và ban đêm ở Tây Bắc rất cao, nhiều khi buổi trƣa nhiệt độ lên
tới 38
0
C, nhƣng về đêm nhiệt độ lại xuống chỉ còn 18-20
0
C. Chính khoảng
cách chênh lệch này Tây Bắc hay có gió khô, nóng từ Lào thổi sang.
Đặc điểm thời tiết khí hậu nhƣ trên đã ảnh hƣởng rất lớn đến đời sống
cũng nhƣ tập quán của cƣ dân Tây Bắc. Xƣa kia nhiều cộng đồng sống chủ
yếu bằng canh tác cây lƣơng thực trên các sƣờn dốc, kỹ thuật và nông cụ đơn
giản. Họ phải dựa vào chế độ mƣa nắng của tự nhiên. Vì thế, mùa mƣa là mùa
canh tác chính trong năm của họ, mùa khô cạn là mùa nông nhàn, khoảng thời
gian dành cho cƣới xin, làm nhà mới, tổ chức lễ hội, thăm hỏi lẫn nhau.
Nhƣ vậy, rõ ràng nông lịch của cƣ dân ở đây đều có dấu ấn rất đậm nét
của chế độ thời tiết, khí hậu trong vùng. Mặt khác, các loại vật nuôi, cây trồng
mà họ tuyển chọn, sử dụng hàng trăm năm qua đều là những giống cây trồng
vật nuôi có đặc điểm thích hợp với khí hậu nóng ẩm, rét buốt của thiên nhiên.
Hơn thế nữa, đặc điểm này của tự nhiên đã in đậm dấu ấn trong các tập quán
sinh hoạt khác (ăn, mặc, ở, lễ tết, hội hè ) của họ.
Vùng Điện Biên nói chung đã lắm đất, của lại nhiều. Lê Quý Đôn trong
“kiến văn tiểu lục” đã nhận xét rất tinh tƣờng: “Châu này thế núi vòng quanh,
nƣớc sông bao bọc, đồn sở ở giữa, ruộng đất bằng phẳng, màu mỡ, bốn bên
đều chân núi, đều phải đi một ngày đƣờng, công việc làm ruộng bằng nửa
công việc châu khác mà số thu hoạch lại gấp đôi ”
Nghề dệt may của người Thái ở Noong Bua với phát triển du lịch văn hóa ở Điện Biên
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo, VH 1001

9
Trường ĐHDL Hải Phòng

Với điều kiện tự nhiên thuận lợi nhƣ trên là điều kiện và cơ sở cho việc
phát triển nghề dệt, may của ngƣời Thái ở Noong Bua, thành phố Điện Biên.
1.2. Đặc điểm xã hội ở Noong Bua
Nằm trong khu vực hội tụ đông các dân tộc anh em, song cƣ dân của
phƣờng Noong Bua chủ yếu là ngƣời Thái. Toàn phƣờng có 734 hộ, dân số
3180 ngƣời, nam là 1589 ngƣời, nữ 1591 ngƣời. Trong đó, ngƣời Thái tập
trung nhất là ở 4 bản: Noong Bua, Phiêng Bua, Hồng Lứu, Khe Chít.
Ngƣời Thái chiếm 60% dân số toàn phƣờng, còn lại là ngƣời Kinh
chiếm 30%, ngƣời Khơ Mú 10%, ngƣời Hmông chiếm 5 %, còn lại 5% là các
dân tộc khác nhƣ ngƣời Tày, Nùng, Dao Mật độ dân số là 87ngƣời/km.
Đời sống tinh thần của đồng bào Thái ở đây rất phong phú từ nghệ
thuật dân gian đến phong tục tập quán, cũng nhƣ trong tín ngƣỡng tôn giáo.
Ngƣời Thái theo tín ngƣỡng đa thần, xuất phát từ ngày xƣa khi con ngƣời
sống còn phụ thuộc vào tự nhiên nên họ sợ tất cả các hiện tƣợng tự nhiên từ
mây, mƣa, sấm, chớp họ nghĩ rằng tất cả đều có thần linh hay đấng siêu
nhiên cai quản. Vì vậy họ thờ cúng tất cả mong đƣợc cuộc sống bình yên và
đƣợc phù hộ.
Là cƣ dân nông nghiệp, nên hàng năm họ tổ chức các lễ hội liên quan
đến nông nghiệp nhƣ lễ hội: cầu mùa, mừng cơm mới, để cầu mong cho mƣa
thuận gió hòa, mùa màng tốt tƣơi, vạn vật sinh sôi nảy nở.
Trải qua bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, ngƣời Thái nơi đây vẫn
giữ đƣợc nhiều lễ hội: xên bản, cầu mùa các lễ hội đƣợc tổ chức hàng năm
và có ý nghĩa vô cùng to lớn trong đời sống tinh thần của cộng đồng dân tộc
Thái.
1.3. Khái quát về người Thái ở phường Noong Bua
1.3.1. Tên gọi, dân số, phân bố cư trú
Dân tộc Thái ở Việt Nam có 1.328.725 ngƣời (1999), cƣ trú suốt từ
miền Tây Bắc, qua Hoà Bình cho đến tận miền tây hai tỉnh Thanh Hoá và
Nghề dệt may của người Thái ở Noong Bua với phát triển du lịch văn hóa ở Điện Biên
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo, VH 1001

10
Trường ĐHDL Hải Phòng

Nghệ An. Vài năm gần đây, ngƣời Thái còn có mặt tại một số tỉnh Tây
Nguyên. Ngƣời Thái tự gọi mình là Phủ Tay hay Côn Tay đều có nghĩa là
ngƣời. Có hai ngành là Tay Đăm (Thái Đen) và Tay Khao hoặc Tay Đón (Thái
Trắng).
Ngành Thái Đen (Tay Đăm) gồm 3 nhóm:
- Nhóm có gốc Mƣờng Lò: Đây là nhóm Thái Đen rất thống nhất về
ngôn ngữ và văn tự, phong tục tập quán. Hiện họ cƣ trú ở Mƣờng Lò (Văn
Chấn, Yên Bái), Mường Than (Than Uyên, Lào Cai), Mường Chăn (Văn Bàn,
Lào Cai), Mường Mụa (Mai Sơn), Mường La (thị xã Sơn La và huyện Mƣờng
La), Mường Muổi (Thuận Châu), sông Mã, vùng Mường Dôn (Quỳnh Nhai)
thuộc tỉnh Sơn La; Mường Quài (Tuần Giáo), Mường Thanh (Điện Biên
Phủ) thuộc tỉnh Lai Châu.
- Nhóm Thái có tên gọi là Tay Vạt, cƣ trú ở huyện Yên Châu, Sơn La
thuộc Mường Vạt xƣa.
- Các bộ phận có tên gọi là Tày Thanh, Man Thanh, Tày Đèng thuộc
nhóm Tày Nhại ở miền tây hai tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An tự nhận là Thái
Đen, trong khi đó, bộ phận Thái cùng nhóm ngôn ngữ và những nét cơ bản về
văn hoá cƣ trú ở Mường Xang (Mộc Châu) tỉnh Sơn La; Mường Mùn (huyện
Mai Châu), Mường Chiềng Ký (huyện Đà Bắc) của tỉnh Hoà Bình lại tự nhận
là Thái Trắng (Tay Khao hoặc Tay Đón).
Ở phƣờng Noong Bua (Thành phố Điện Biên), theo số liệu thống kê
của phƣờng có 1590 ngƣời Thái, chiếm 50% dân số toàn phƣờng, phân bố cụ
thể ở các bản:
Noong Bua: 464 chiếm 29,1%
Phiêng Bua: 340 chiếm 21,38%
Khe Chít: 365 chiếm 22,9%
Hồng Lứu: 429 chiếm 26,98%
Nghề dệt may của người Thái ở Noong Bua với phát triển du lịch văn hóa ở Điện Biên
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo, VH 1001

11
Trường ĐHDL Hải Phòng

Các nhà ngôn ngữ học xếp ngƣời Thái vào nhóm các dân tộc nói ngôn
ngữ Tày- Thái. Tộc danh Thái nay đã đƣợc sử dụng phổ biến và rộng rãi.
1.3.2. Lịch sử cư trú
Ngƣời Thái có mặt ở nƣớc ta rất lâu đời và đa số các học giả nghiên
cứu về ngƣời Thái đều cho rằng tộc ngƣời này là cƣ dân cổ của vùng Tây
Nam Trung Quốc (vương quốc Điền cổ xưa). Từ đó họ thiên di xuống phía
Nam tới Myanma, Thái Lan, Lào và miền Tây Bắc Việt Nam.
Sử sách cũ của ta cũng ghi khá rõ về sự có mặt của tộc ngƣời Thái ở
Việt Nam. Theo các tài liệu này vào thời Lý các tù trƣởng Thía (Ngƣu Hống)
đã về kinh đô dâng cống vật cho triều đình nhà Lý. Điều này chứng tỏ khi đó
có thể là trƣớc đó nữa các tù trƣởng Thái đã chiếm lĩnh và làm chủ nhiều
vùng ở Tây Bắc.
Về sự Thiên di của nhóm Tay Đăm, trong đó có ngƣời Thái Đen (Tày
Đăm) ở Noong Bua, vào Việt Nam, đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất
đƣợc bắt đầu vào khoảng thế kỷ XI – XII. Khi đó, ngƣời Tày Đăm do Tạo
Ngần và Tạo Xuông dẫn đầu đã đi từ Mường Ôm, Mường Ai, qua Mường Lò
Luông (Mƣờng La, Vân Nam, Trung Quốc) vào Tây Bắc. Đầu tiên họ tới
Mường Lò (Nghĩa Lộ) xây dựng vùng này thành trung tâm Thái do Tạo Lò
đứng đầu. Đến thời con Tạo Lò là Lạng Chượng đã phát triển thế lực lên vùng
Mường Chiến, Mường Trai, Ít Ong (Mƣờng La). Sau đó họ vƣợt Sông Đà vào
Mường Bú, Mường La, Mường Muổi, Mường É (Thuận Châu), Mường Quài
(Tuần Giáo). Và cuối cùng là Mường Thanh (Điện Biên).
1.3.3 Làng bản và xã hội truyền thống
Trong xã hội truyền thống của ngƣời Thái ở Noong Bua, thiết chế xã
hội tự quản cơ bản của họ là Bản, Mường. Đứng đầu Bản là Tạo bản, trên bản
là “Tạo Lộng” (cai quản một số bản). Bản ngƣời Thái Đen ở Noong Bua là
một đơn vị tổ chức có cƣ dân ổn định, có ranh giới đất đai rõ rệt. Cộng đồng
lãnh thổ nhƣ thế đã in hằn thành khái niệm trong ý thức hệ truyền thống, nên
mới có thuật ngữ biểu thị là “đin bản” (đất bản). Bản Đen ở Noong Bua
Nghề dệt may của người Thái ở Noong Bua với phát triển du lịch văn hóa ở Điện Biên
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo, VH 1001

12
Trường ĐHDL Hải Phòng

thƣờng đƣợc lập ở chân núi, đồi, xung quanh các thung lũng, cánh đồng và
phần lớn đều là những điểm tụ cƣ đông đúc, có bản lên tới vài trăm nóc nhà.
Trong các bản các ngôi nhà đƣợc bố trí sát cạnh nhau, quay mặt ra ruộng,
hoặc sông suối, dựa lƣng vào núi đồi. Tuy hƣớng các ngôi nhà trong bản
không giống nhau, nhƣng các ngôi nhà cạnh nhau không bao giờ nhà này đâm
thẳng đầu đốc vào mặt tiền của nhà kia. Bản thƣờng gồm vai ba dòng họ cùng
cƣ trú. Xƣa kia, “Tạo bản” là trƣởng tộc dòng họ lớn có công dựng và có thế
lực trong bản. Trên bản là Lộng do “Tạo lộng” cai quản, và trên cao nhất là
mƣờng do “Tạo Mường”đứng đầu. Trong xã hội cũ, mường là một hoặc nhiều
thung lũng, các bản trong vùng phải tuân thủ sự quản lý của mường.
Cho đến trƣớc 1954, về cơ bản xã hội Thái chịu sự quản lý của “Phìa
Tạo”. Chế độ này đã từng đƣợc thực dân Pháp lợi dụng để cai trị Tây Bắc.
Sau 1954, chế độ “Phìa Tạo” bị xóa bỏ, thay vào đó là cơ cấu hành chính
bản, xã, phƣờng, huyện, tỉnh nhƣ hiện nay.
1.3.4. Đặc điểm kinh tế - xã hội
* Về kinh tế
Trƣớc 1954, nền kinh tế của ngƣời Thái Đen ở Noong Bua hết sức thấp
kém, tự cấp tự túc và khép kín. Họ sinh sống bằng làm ruộng một vụ, làm
nƣơng, săn bắt hái lƣợm. Vì thế đời sống của họ rất khó khăn, sản xuất phụ
thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên. Khi đó, công thƣơng nghiệp hầu nhƣ chƣa
có gì, trao đổi mua bán chủ yếu bằng hình thức vật đổi lấy vật.
Thời gian gần đây, bên cạnh các hoạt động sản xuất truyền thống, ở
Noong Bua đã xuất hiện thêm một số hoạt động kinh tế mới: tiểu thủ công
nghiệp, thƣơng nghiệp, du lịch và dịch vụ. Ví dụ, năm 2005, trong cơ cấu
kinh tế của phƣờng: Nông nghiệp: 45 %; Thƣơng nghiệp: 20%; Dịch vụ và du
lịch: 20 %; Các hoạt động khác: 15%; …
Phƣờng Noong Bua là một phần của cánh đồng Mƣờng Thanh, có ƣu
thế về sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi. Tổng sản
lƣợng lƣơng thực năm 2005 đạt 8 tấn, năm 2006 tăng lên 10 tấn, chiếm gần
Nghề dệt may của người Thái ở Noong Bua với phát triển du lịch văn hóa ở Điện Biên
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo, VH 1001

13
Trường ĐHDL Hải Phòng

10% sản lƣợng lƣơng thực toàn tỉnh. Tổng giá trị sản phẩm xã hội năm 2005
đạt 15 tỉ đồng. Thu nhập bình quân đầu ngƣời năm 2005 đạt khoảng 2 triệu
VNĐ.
* Về văn hóa, xã hội
Phƣờng Noong Bua hiện nay gồm 6 khối phố và 7 bản (Noong Bua,
Phiêng Bua, Tà Lènh, Kê Nênh, Nà Nghè, Khe Chít, Hồng Lứu). Dân số 3.180
ngƣời, thuộc bốn dân tộc: Kinh, Thái, Hmông và Khơ Mú. Trong đó ngƣời
Thái chiếm 50%, ngƣời Kinh 30%, HMông 5%, Khơ Mú 10%, các dân tộc
khác 5%.
Tuy có những phong tục tập quán khác nhau song các dân tộc ở Noong
Bua đều có chung đặc điểm là cần cù, sáng tạo và kiên cƣờng dũng cảm trong
đấu tranh cách mạng. Trong kho tàng văn hóa nghệ thuật của cƣ dân ở Noong
Bua, dân tộc Thái có nền văn hóa phát triển sớm và độc đáo. Ngƣời Thái có
chữ viết riêng mƣợn từ hệ chữ Phạn (Ấn Độ). Nhờ thế mà họ đã ghi lại nhiều
sự kiện chính trị, lịch sử, xã hội và các tác phẩm văn học có giá trị nhƣ: Xống
chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu), Khun Lú – Nàng Ủa, Ý Đón, Ý Đăm, Ý Nọi
Nàng Xưa, trường ca Chương Han, truyện kể bản mường Những câu
chuyện, những bài hát ấy đã phản ánh chân thực cuộc sống, tình yêu thiên
nhiên, đất nƣớc, con ngƣời xứng đáng là những viên ngọc quý trong kho tàng
văn học dân gian. Mặt khác, Noong Bua cũng có nhiều nét đặc sắc về văn
hóa các tộc ngƣời. Múa nón, múa sạp của ngƣời Thái, múa ô, múa khèn của
ngƣời Hmông, múa trống, múa tăng bu của ngƣời Khơ Mú đều thể hiện sự
duyên dáng, náo nức, rộn ràng trong các lễ hội. Trang phục của các dân tộc
với những đƣờng nét thêu hoa văn tinh tế trên váy, áo, piêu góp phần làm
phong phú kho tàng văn hóa dân tộc ở Noong Bua.
Trƣớc 1954, cuộc sống nhân dân các dân tộc phƣờng Noong Bua gặp
nhiều khó khăn, lạc hậu, trình độ dân trí còn thấp. Trong thời gian thống trị
(1890 – 1922) thực dân Pháp đã cho xây dựng một cơ sở y tế, giáo dục với
nhỏ tại tỉnh lỵ và một vài huyện, trong đó có phƣờng Noong Bua.
Nghề dệt may của người Thái ở Noong Bua với phát triển du lịch văn hóa ở Điện Biên
Sinh viên: Nguyễn Thị Thảo, VH 1001

14
Trường ĐHDL Hải Phòng

Ở Noong Bua xƣa kia, đa số nhân dân các dân tộc đều mù chữ, đặc biệt
là vùng cao. Thực dân, phong kiến lợi dụng trình độ nhận thức và văn hóa
thấp kém của nhân dân để duy trì, khuyến khích những tập tục lạc hậu. Ngƣời
dân khi đó chỉ biết phục tùng sự bóc lột và cai trị của thực dân và bè lũ tay
sai. Sau 1954, giáo dục – đào tạo đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm phát
triển. Đến tháng 9/1999 Noong Bua đƣợc công nhận là đơn vị đạt chuẩn quốc
gia về xóa mù chữ. Năm học 2004 – 2005 có 4 trƣờng học với 1.200 học sinh.
Phong trào xã hội hóa giáo dục, xây dựng trƣờng chuẩn quốc gia, phổ cập
trung học cơ sở đang đƣợc đẩy mạnh.
Sau giải phóng Tây Bắc, công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
càng đƣợc quan tâm. Các phòng, ban y tế xã đƣợc thành lập, công tác vệ sinh
phố, bản, đào giếng nƣớc ăn, vệ sinh gia đình đƣợc đẩy mạnh. Hiện nay
bệnh viện đa khoa Điện Biên đƣợc xây dựng tại Noong Bua. Việc khám chữa
bệnh, chăm sóc sức khẻo cho dân thực hiện khá tốt. Các chƣơng trình y tế
quốc gia nhƣ: tiêu chảy, phòng bệnh, kế hoạch hóa gia đình, cấp thẻ bảo hiểm
y tế cho ngƣời nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, đƣợc thực hiện rất tốt.








Chương 2
NGHỀ DỆT, MAY CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN
Ở NOONG BUA, ĐIỆN BIÊN

2.1. Nghề dệt may truyền thống

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét