Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lí và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ở Việt nam trong giai đoạn hiện nay

nghĩa và ảnh hởng quan trọng đến việc tạo lập một môi trờng thuận lợi cho sự phát
triển đất nớc nói chung và cho sự khuyến khích đầu t t nhân trong và ngoài nớc nói
riêng.
2.3, Các nhân tố ảnh hởng tới ODA.
ODA gắn liền với chính trị và là một trong những phơng tiện để thực hiện
ý đồ chính trị. ODA cũng chịu ảnh hởng bởi các quan hệ sẵn có của bên cấp viện trợ
cho nớc nhận viện trợ bởi sự tơng hợp về thể chế chính trị, bởi quan hệ địa d gần gũi.
Bên cấp viện trợ và các nguồn vốn chính thức khác thờng cấp viện trợ cho những ng-
ời bạn về chính trị và đồng minh quân sự mà không cấp viện trợ cho những đối tợng
mà họ cho là kẻ thù. Đó chính là tính chất địa lý- chính trị đợc thể hiện rất rõ trong
viện trợ.
ODA gắn với điều kiện kinh tế. Các nớc viện trợ nói chung đều muốn đạt
đợc những ảnh hởng về chính trị, đem lại lợi nhuận cho hàng hoá và dịch vụ t vấn
trong nớc. Họ gắn quỹ viện trợ với việc mua hàng hoá và dịch vụ của nớc họ nh là
một biện pháp nhằm tăng cờng khả năng làm chủ thị trờng xuất khẩu và giảm bớt tác
động của viện trợ đối với cán cân thanh toán. Mặt khác, nớc nhận viện trợ còn phải
chịu rủi ro của đồng tiền viện trợ. Nếu đồng tiền viện trợ tăng giá so với đồng tiền
của các nớc nhận đợc do xuất khẩu thì nớc tiếp nhận sẽ phải trả thêm một khoản nợ
bổ sung do chênh lệch tỷ giá tại thời điểm vay và thời điểm trả nợ. Theo tính toán
của các chuyên gia thì cho dù không đi kèm theo điều kiện ràng buộc nào thì viện trợ
vẫn đem lại lợi ích thơng mại cho quốc gia viện trợ.
ODA còn chịu ảnh hởng của các nhân tố xã hội. ODA là một phần GNP
của các nớc tài trợ nên rất nhạy cảm với các d luận xã hội ở các nớc tài trợ. Nhân dân
các nớc cấp viện trợ coi trọng tầm quan trọng của cả số lợng và chất lợng của viện
trợ, họ sắn sàng ủng hộ viện trợ với điều kiện là viện trợ đợc sử dụng tốt. Còn đối với
các nớc nhận viện trợ, nguy cơ phụ thuộc viện trợ nớc ngoài, gánh nặng nợ nần là
một thực tế khó tránh khỏi. Do vậy,các nớc nhận viện trợ cần phải rất thận trọng khi
sử dụng ODA.
3, Phân loại ODA.
3.1, Phân loại theo nớc nhận.
Nếu phân loại theo nớc nhận, ODA có hai loại:
-ODA thông thờng: hỗ trợ cho những nớc có thu nhập bình quân đầu ngời
thấp.
5
-ODA đặc biệt: hỗ trợ cho các nớc đang phát triển với thời hạn cho vay ngắn,
lãi suất cao hơn.
3.2, Phân loại theo nguồn cung cấp.
Nếu phân loại theo nguồn cung cấp, ODA có hai loại.
- ODA song phơng: là viện trợ phát triển chính thức của nớc này dành cho
chính phủ nớc kia.
- ODA đa phơng: là viện trợ phát triển chính thức của một tổ chức quốc tế
hay tổ chức khu vực hoặc của một chính phủ môt nớc dành cho chính phủ một nớc
nào đó, nhng đợc thực hiện thông qua các tổ chức đa phơng nh UNDP,UNICEF
3.3, Phân loại ODA theo tính chất nguồn vốn.
Nếu phân loại theo tính chất nguồn vốn thì ODA có hai loại:
- Viện trợ không hoàn lại: đợc thực hiện thông qua các chơng trình, dự án
ODA dới các dạng sau:
Hỗ trợ kỹ thuật: Thực hiện việc chuyển giao công nghệ hoặc truyền
đạt những kinh nghiệm xử lý cho nớc nhận tài trợ.
Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật: ví dụ nh là lơng thực, vải, thuốc
chữa bệnh, có khi là vật t cho không.
- Viện trợ có hoàn lại bao gồm:
ODA cho vay u đãi: là các khoản ODA cho vay có yếu tố không
hoàn lại đạt ít nhất 25% trị giá khoản vay.
ODA cho vay hỗn hợp: bao gồm kết hợp một phần ODA không
hoàn lại và một phần tín dụng thơng mại theo các điều kiện của tổ chức hợp tác
kinh tế và phát triển mạnh hơn cả về đời sống kinh tế xã hội.
4, Các hình thức ODA.
ODA đợc thực hiện qua các hình thức sau:
- Hỗ trợ cán cân thanh toán: đợc thực hiện thông qua chuyển giao tiền tệ
trực tiếp cho nớc nhận ODA hoặc hỗ trợ nhập khẩu tức là chính phủ nớc nhận ODA
tiếp nhận một lợng hàng hoá có giá trị tơng đơng với các khoản cam kết, bán cho thị
trờng nội địa và thu nội tệ.
6
- Tín dụng thơng mại: tơng tự nh viện trợ hàng hoá có kèm theo các điều
kiện ràng buộc.
- Viện trợ chơng trình (viện trợ phi dự án). Theo loại hình này nớc nhận viện
trợ ký hiệp định cho một mục đích tổng quát mà không cần xác định chính xác
khoản viện trợ sẽ đợc sử dụng nh thế nào.
- Viện trợ dự án: loại viện trợ này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn
thực hiện ODA và nó có hai loại. Đó là viện trợ cơ bản và viện trợ kỹ thuật. Viện trợ
cơ bản thì thờng cấp cho những dự án xây dựng đờng xá, cầu cống, kết cấu hạ tầng .
Viện trợ kỹ thuật cấp cho viện trợ tri thức, tăng cờng cơ sở, lập kế hoạch cố vấn cho
các chơng trình, nghiên cứu trớc khi đầu t hoặc hỗ trợ các lớp đào tạo.
II, Vai trò của viện trợ trong phát triển kinh tế xã hội .
1, Viện trợ tài chính ở các nớc đang phát triển có cơ chế quản lý tốt sẽ giúp
tăng trởng nhanh hơn, giảm tình trạng nghèo đói và đạt đợc các chỉ tiêu xã hội.
Trên thực tế, một số nớc nhận nhiều viện trợ mà thu nhập giảm trong khi
một số nớc nhận ít viện trợ mà thu nhập lại tăng. Nhng nếu chỉ xét đến sự phân biệt
giữa các nớc có cơ chế quản lý tốt và cơ chế quản lý tồi thì đối với các nớc có cơ chế
quản lý tồi, dù số tiền viện trợ là bao nhiêu thì tăng trởng vẫn thấp, thậm chí còn âm.
Đối với các nớc có cơ chế quản lý tốt, khi viện trợ tăng lên 1% GDP thì tốc độ tăng
trởng tăng lên 0,5%. Ngoài ra, viện trợ còn góp phần làm giảm đói nghèo. Theo các
chuyên gia về ODA, bình quân ở các nớc đang phát triển, thu nhập đầu ngời tăng 1%
đã dẫn đến tỷ lệ đói nghèo giảm xuống 2%. Nói cách khác, ở các nớc có cơ chế quản
lý tốt, khi viện trợ tăng lên 1% GDP thực tế thì sẽ giảm 1% tỷ lệ đói nghèo. Và ở các
nớc có cơ chế quản lý tốt, tăng 10 tỷ USD viện trợ một năm sẽ cứu đợc 25 triệu ngời
thoát khỏi cảnh nghèo đói, nhng dù có tăng 10 tỷ USD ở các nớc có cơ chế quản lý
tồi thì cũng chỉ cứu đợc 7 triệu ngời thoát khỏi cảnh kiếm ăn lần hồi mà thôi.
Viện trợ tác động đến tăng trởng, từ đó đã tác động đến mục đích nâng
cao mức sống. Tăng trởng không loại bỏ đói nghèo nhng rõ ràng tăng trởng có tác
động lớn đến cải thiện các chỉ tiêu xã hội. Nếu một nớc có cơ chế quản lý tốt thì khi
viện trợ tăng lên 1% GDP sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong trẻ em 0,9%. Ngợc lại, nếu một
nớc có cơ chế quản lý tồi thì khi viện trợ tăng lên 1% GDP cũng không đem lại một
tác động nào đối với tỷ lệ chết trẻ sơ sinh. Điều đó có nghĩa là các chỉ tiêu xã hội có
quan hệ chặt chẽ với thu nhập bình quân đầu ngời, hay nói cách khác nó có quan hệ
chặt chẽ với viện trợ.
7
2, Viện trợ thúc đẩy đầu t.
Các nớc đang phát triển là những nớc rất cần vốn cho đầu t phát triển, và
viện trợ chính là một hình thức bổ sung cho nguồn vốn trong nớc. Vốn đầu t có thể
thu hút từ các nguồn ODA, FDI hoặc nguồn vốn tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. Trong
điều kiện nguồn vốn trong nớc còn hạn hẹp thì nguồn vốn nớc ngoài có tầm quan
trọng đặc biệt. Nguồn vốn ODA thờng đợc các nớc đang phát triển đầu t cải thiện cơ
sở hạ tầng kinh tế xã hội, xây dựng đờng giao thông, phát triển năng lợng vì đây là
những ngành cần phải đầu t lớn, thu hồi vốn chậm nên t nhân không có khả năng đầu
t.
Viện trợ còn thúc đẩy thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài FDI và phát triển
nguồn nhân lực. Nhờ có viện trợ mà nớc nhận tài trợ với cơ chế quản lý tốt sẽ tạo ra
đợc cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội vững chắc, giao thông thuận tiện, hệ thống pháp luật
ổn định, viện trợ là sự chuẩn bị cho vốn đầu t trực tiếp đợc thu hút vào là điều kiện
cho FDI đợc sử dụng một cách hiệu quả. Mặt khác, viện trợ còn giúp những nớc đang
phát triển tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, trình độ quản lý tiên
tiến, kỹ năng chuyên môn cao. Đây chính là lợi ích căn bản, lâu dài của quốc gia
nhận tài trợ.
Viện trợ thúc đẩy đầu t t nhân. ở những nớc có cơ chế quản lý tốt thì viện
trợ nớc ngoài không thay thế cho đầu t t nhân mà đóng vai trò nh là nam châm hút
đầu t t nhân theo tỷ lệ sấp xỉ 2 USD trên 1USD viện trợ. Đối với các nớc quản lý tốt
thì viện trợ góp phần củng cố niềm tin cho khu vực t nhân và hỗ trợ các dịch vụ công
cộng. Viện trợ tăng với quy mô 1% GDP sẽ làm tăng đầu t t nhân trên 1,9% GDP. ở
các nớc có cơ chế quản lý tồi, viện trợ nớc ngoài có thể khuyến khích khu vực nhà n-
ớc tiến hành các khoản đầu t thơng mại đáng ra do khu vực t nhân thực hiện.
3, Viện trợ giúp các nớc đang phát triển cải thiện thể chế và chính sách
kinh tế.
Cải thiện thể chế và chính sách kinh tế ở những nớc đang phát triển là chìa
khoá để tạo bớc nhảy vọt về lợng trong thúc đẩy tăng trởng, tức là góp phần làm
giảm đói nghèo. Mặt khác, viện trợ có thể nuôi dỡng cải cách. Khi các nớc mong
muốn cải cách thì viện trợ nớc ngoài có thể đóng góp những nỗ lực cần thiết nh hỗ
trợ thử ngiệm cải cách, trình diễn thí điểm, tạo đà và phổ biến các bài học kinh
nghiệm. Những nớc mà ở đó chính phủ thực hiện những chính sách vững chắc phân
bổ hợp lý các khoản chi tiêu và cung cấp dịch vụ có hiệu quả cao thì hiệu quả chung
của viện trợ là lớn. Ngợc lại, ở những nớc mà chính phủ và nhà tài trợ không đồng
8
nhất quan điểm trong việc chi tiêu, hiệu quả lại thấp thì các nhà tài trợ cho rằng cách
tốt nhất là giảm viện trợ và tăng cờng hỗ trợ cho việc hoạch định chính sách và xây
dựng thể chế cho đến khi các nhà tài trợ thấy rằng viện trợ của họ sẽ đóng góp cho sự
phát triển. Qua đây ta cũng nhận thấy rằng giá trị thực của các dự án là ở chỗ thể chế
và chính sách đợc củng cố, cải thiện việc cung cấp dịch vụ xã hội. Việc tạo ra đợc
kiến thức với sự trợ giúp của viện trợ sẽ dẫn tới sự cải thiện trong một số ngành cụ
thể trong khi một phần tài chính của viện trợ sẽ mở rộng các dịch vụ công cộng nói
chung.
Cơ chế quản lý tốt, ổn định kinh tế vĩ mô, Nhà nớc pháp quyền và hạn chế
tham nhũng sẽ dẫn đến tăng trởng và giảm đói nghèo. Qua các nghiên cứu của các
chuyên gia có thể thấy khó có thể nhận ra mối quan hệ giữa viện trợ mà các nớc nhận
đợc với trình độ chính sách của họ. Tuy không có mối quan hệ về lợng giữa viện trợ
và chất lợng chính sách của nớc nhận viện trợ nhng trong một số trờng hợp viện trợ
vẫn có thể góp phần cải cách, thông qua các điều kiện đặt ra hoặc thông qua việc phổ
biến ý tởng mới.
Tóm lại, viện trợ đã và đang có hiệu quả. Tuy nhiên, nguồn vốn ODA chỉ
phát huy hết vai trò của nó khi có một cơ chế quản lý tốt, một thể chế lành mạnh và
một môi trờng chính trị hoàn thiện. Nếu không chẳng những ODA không phát huy
vai trò của nó mà còn đem lại gánh nặng nợ nần cho đất nớc.
Việt Nam là một nớc đang phát triển, hiện đang mong muốn nhận đợc
nhiều nguồn ODA và quản lý sử dụng ODA thật hiệu quả phục vụ cho phát triển đất
nớc. Việt Nam cần nhận thức rõ đợc vai trò của ODA, các điều kiện để ODA phát
huy vai trò của nó để từng bớc hoàn thiện công tác thu hút, quản lý và sử dụng ODA.
9
Ch ơng II
Thực trạng tình hình tiếp nhận và sử dụng oda tại việt
nam trong thời gian qua.
I, Cơ chế chính sách và khuôn khổ thể chế .
1, Cơ chế chính sách.
Từ sau năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện việc chuyển đổi cơ chế quản
lý kinh tế từ cơ chế tập trung sang cơ chế thị trờng. Là một nớc nông nghiệp lạc hậu
với thu nhập đầu ngời thấp, tích luỹ nội bộ nền kinh tế còn hạn chế, để đạt đợc mục
tiêu đề ra về phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu vốn của nớc ta rất lớn, đặc biệt là các
nguồn vốn từ nớc ngoài trong đó có nguồn vốn ODA. Văn kiện đại hội Đảng 8 đã chỉ
rõ: Tranh thủ thu hút nguồn tài trợ phát triển chính thức đa phơng và song ph-
ơng, tập trung chủ yếu cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, nâng cao
trình độ khoa học công nghệ và quản lý, đồng thời dành một phần vốn tín dụng đầu
t cho các ngành nông- lâm ng nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng, u tiên dành viện trợ
không hoàn lại cho những vùng chậm phát triển, các dự án sử dụng vốn vay phải
có phơng án trả nợ vững chắc, xác định rõ trách nhiệm trả nợ, không đợc gây thêm
gánh nặng nợ nần không trả đợc. Phải sử dụng nguồn vốn ODA có hiệu quả và có
kiểm tra, quản lý chặt chẽ chống lãng phí tiêu cực".
Nhờ thực hiện chính sách đa phơng hoá, đa dạng hóa các quan hệ đối
ngoại, kể từ năm 1993 Việt Nam đã chính thức lập quan hệ ngoại giao và tiếp nhận
đợc nhiều nguồn ODA từ các quốc gia, các tổ chức Quốc tế trên thế giới. Khối lợng
ODA vào Việt Nam không ngừng tăng lên qua các năm. Trong giai đoạn 1996-2000
mục tiêu đặt ra về vận động nguồn vốn ODA cam kết là trên 10 tỷ USD.
Trong quá trình tiếp nhận và sử dụng ODA, để có thể khai thác triệt để thế
mạnh của ODA cũng nh hạn chế những tác động xấu do ODA mang laị, Đảng và nhà
nớc ta đã đa ra hệ thống các quan điểm về quản lý và sử dụng ODA.
Hệ thống các quan điểm của Đảng và nhà nớc về quản lý và sử dụng ODA.
10
Quan điểm 1: ODA là một nguồn ngân sách. Việc điều phối quản lý và sử
dụng ODA cho có hiệu quả thuộc quyền hạn của Chính phủ và phải phù hợp với các
thủ tục quản lý ngân sách hiện hành.
Quan điểm 2: Tranh thủ các nguồn vốn ODA không gắn với các ràng buộc về
chính trị, phù hợp với chủ trơng đa phơng hoá đa dạng hoá, quan hệ kinh tế đối ngoại
ở Việt Nam.
Quan điểm 3: Phối hợp sử dụng ODA cùng với nguồn vốn FDI và các nguồn
vốn trong nớc khác.
Quan điểm 4: Ưu tiên sử dụng ODA để đầu t phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế
xã hội, phát triển nguồn nhân lực và tăng cờng thể chế.
Quan điểm 5: Đầu t vốn ODA để phát triển hạ tầng kinh tế có trọng tâm trọng
điểm.
Quan điểm 6: Ưu tiên bố trí viện trợ không hoàn lại cho các dự án văn hóa xã
hội ở miền núi, vùng sâu vùng xa trên cơ sở định hớng chung và các quan điểm, mục
tiêu của việc thu hút và quản lý sử dụng ODA.
Tại hội nghị nhóm t vấn các nhà tài trợ năm 1996, Chính phủ Việt Nam đã
đa ra ba định hớng u tiên trong giai đoạn 1996-2000 nhằm kêu gọi sự chú ý của các
nhà tài trợ nh sau:
- Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội.
- Đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thể chế.
- Chuyển giao công nghệ.
Với ba hớng u tiên nói trên, nguồn ODA đã và sẽ sử dụng để trợ giúp thực
hiện 11 chơng trình phát triển kinh tế xã hội đề ra trong kế hoạch 5 năm 1996-2000,
tập trung vào một số lĩnh vực nh sau:
Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn: Đây là một lĩnh vực u
tiên đầu t chính của Việt Nam. Các lĩnh vực u tiên để phát triển nông nghiệp và kinh
tế nông thôn là chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hớng công
nghiệp hoá, giải quyết các vấn đề đời sống xã hội, việc làm, xoá đói giảm nghèo
và xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn.
Trong lĩnh vực công nghiệp: Việt Nam là một nớc kém phát triển, đặc biệt là
về công nghiệp. Việt Nam dự kiến dành một phần ODA để xây dựng các nguồn điện
11
lớn, khôi phục và phát triển các trạm và hệ thống đờng dây phân phối, nhất là ở các
thành phố, thị xã, thị trấn.
Trong lĩnh vực hạ tầng cơ sở: ODA đặc biệt đợc u tiên cho phát triển hạ tầng
cơ sở, trớc hết cho khôi phục và nâng cấp các tuyến trục đờng quốc gia nh quốc lộ 1,
quốc lộ 5, quốc lộ 10 Phát triển giao thông nông thôn cũng đợc u tiên nhất là cho
các tỉnh biên giới, miền núi, các tuyến đờng đến các huyện xa xôi hẻo lánh.
Ưu tiên phát triển nhân lực và thể chế sẽ đợc thể hiện ở việc u tiên sử dụng
nguồn vốn ODA cho giáo dục và đào tạo, bao gồm cả giáo dục phổ thông, dạy nghề
và đại học, đặc biệt chú trọng nâng cao trình độ giáo viên và cải cách chơng trình
đại học, tăng cờng trang thiết bị, đồ dùng dạy học.
Trong lĩnh vực văn hoá xã hội: Sẽ sử dụng ODA từ nhiều nguồn để trợ giúp
thực hiện các chơng trình chăm sóc sức khỏe ban đầu, chơng trình dân số và kế
hoạch hoá gia đình, chơng trình tiêm chủng mở rộng
2, Khuôn khổ thể chế.
2.1, Giai đoạn trớc năm 1993.
Trớc 1993 Việt Nam cha nối lại quan hệ với các tổ chức Quốc tế do Mỹ cấm
vận và do quan niệm sai lầm cho rằng ODA là khoản cho không nên khối lợng ODA
đến Việt Nam không lớn, hệ thống quản lý ODA chủ yếu là không có hiệu quả.
Trong thời kỳ này, Văn phòng Chính phủ là cơ quan đầu mối quản lý ODA
phối hợp với một số cơ quan khác nh Uỷ ban Kế hoạch Nhà nớc, Bộ Tài chính, Bộ
Ngoại giao và Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam nhng chức năng và nhiệm vụ của các cơ
quan liên quan này cha đợc xác định rõ ràng. Trong suốt thời gian này không có quy
chế rõ ràng về đấu thầu, mua sắm và giải ngân. Các dự án ODA chủ yếu đợc thực hiện
theo quy chế của từng nhà tài trợ cụ thể.
12
2.2, Giai đoạn sau năm 1993.
Nếu nh trớc đây, mọi công việc trong lĩnh vực này áp dụng theo NĐ20/
CP(Điều lệ quản lý đầu t và xây dựng từ nguồn vốn ODA) và NĐ58/ CP ban hành quy
chế vay và trả nợ nớc ngoài thì hiện nay chủ yếu áp dụng NĐ52/ CP và NĐ12/
CP(Quy chế quản lý đầu t và xây dựng) và nghị định 17/2001/NĐ-CP( Quy chế quản
lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức).
Về phía quốc tế, Liên hiệp quốc đã đặt vấn đề dành 0,7% GDP cho ODA
đối với các nớc phát triển. Nh vậy nguồn ODA sẽ trở thành một số vốn khá lớn phải
huy động và mục tiêu này rất khó đạt.Với Việt Nam càng khó khăn hơn vì hàng năm,
chúng ta còn phải cân đối trong tổng số chi từ 3%-5% từ GDP để trả nợ nớc ngoài.
Sau 1993, Việt Nam đã chính thức nối lại quan hệ với nhiều tổ chức và
Quốc gia trên thế giới đánh dấu một giai đoạn mới trong tài trợ phát triển chính thức
đối với Việt Nam. Khối lợng ODA đến Việt Nam đã tăng nhanh lên nhanh chóng.
Nhận thức đúng đắn về vai trò của ODA trong phát triển kinh tế xã hội, Chính phủ đã
quan tâm nhiều hơn đến việc xây dựng và hoàn thiện các chính sách để quản lý và sử
dụng ODA có hiệu quả. Nhiều văn bản pháp quy đã ra đời nhằm đa ra những hớng
dẫn về quy trình, thủ tục thực hiện và quản lý ODA làm rõ trách nhiệm của từng cơ
quan trong việc quản lý và sử dụng ODA.
Nghị định 20/ CP tháng 3/1994 là lần đầu tiên Chính phủ Việt Nam đã thể
chế hóa việc vận động thu hút và sử dụng ODA. Trong quá trình thực hiện Nghị định
20/CP đã tỏ ra còn nhiều mặt phải hoàn thiện nh nâng cao trách nhiệm của từng bộ,
tỉnh, thành phố, xác định rõ hơn nhiệm vụ của từng cơ quan quản lý nhà nớc, tạo điều
kiện pháp lý thuận lợi hơn để lập quan hệ hợp tác lâu dài với các nhà tài trợ. Phù hợp
với phơng hớng trên, ngày 5/8/1997 Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định 87/CP
thay thế Nghị định 20/CP về quy chế quản lý và sử dụng ODA. Trong nghị định
87/CP có ba nội dung cốt lõi đợc xác định rõ ràng đó là:
Chính phủ thống nhất quản lý ODA trên cơ sở chủ trơng chính sách đối với
nguồn hỗ trợ phát triển chính thức thông qua quy hoạch về thu hút và sử dụng
ODA, danh mục các chơng trình và dự án u tiên sử dụng ODA.
Phân cấp cho các bộ, các tỉnh, thành phố phê duyệt một số loại dự án ODA
tuỳ thuộc vào nội dung và quy mô của dự án.
Phân định rõ ràng nhiệm vụ của các cơ quan tổng hợp của Chính phủ, các
Bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các Tỉnh, Thành phố trực
13
thuộc TW cũng nh của các đơn vị thụ hởng ODA trong quá trình thu hút và sử
dụng nguồn lực này.
Để phối hợp có hiệu quả và xử lý nhanh những vớng mắc của dự án ODA,
tại điều 27 Nghị định 87/CP, chính phủ đã quyết định thành lập Ban công tác
ODA do Bộ Kế hoạch và Đầu t là trởng ban. Đồng thời với việc ban hành các Nghị
định nói trên, Chính phủ cũng đã ban hành các nghị định 92/CP và 93/CP nhằm bổ
sung và hoàn chỉnh Nghị định 42/CP về quản lý đầu t xây dựng và Nghị định 43/CP
về công tác đấu thầu và xét thầu đã ban hành trớc đây theo hớng phân cấp và đơn
giản hoá thủ tục.
Để đảm bảo việc quản lý ODA tốt, từ năm 1993 đã thực hiện việc quản lý
ODA theo chu trình dự án, bao gồm các giai đoạn sau:
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét