Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
2/ Nền kinh tế tri thức là sự phát triển tất yếu của thời đại , là yêu cầu
của hội nhập kinh tế quốc tế.
Nền kinh tế thế giới chuyển từ nền nông nghiệp truyền thống sang nền kinh
tế công nghiệp với sự mở màn thời kỳ tiền cách mạng công nghiệp ở nớc Anh từ năm
1700 đến năm 1820 với sự phát triển của công nghiệp vải sợi, sự phát minh ra máy
hơi nớc của James Watt thời kỳ 1776 - 1781 khởi điểm cho sự phát triển máy móc
công nghiệp. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (`1820 - 1870), cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ hai (1870-1913), đã có những thành tựu đợc áp dụng rộng
rãi trên toàn thế giới và đã mang lại kết quả to lớn làm tiền đề cho sự phát triển của
khoa học công nghệ. Và từ năm 1950 trở về đây với sự phát triển kinh tế đặc biệt ở
các nớc công nghiệp phát triển, sự phát triển của trí tuệ, của khoa học công nghệ, của
kiến thức tổ chức quản lý, nền kinh tế do giá trị của tri thức tạo ra ngày càng tăng.
Kinh tế thế giới đã chuyển từ thời kỳ nông nghiệp sang tiền công nghiệp rồi sang
công nghiệp và tất yếu bây giờ nó sẽ phát triển lên một hình thức cao hơn nữa, phải
chăng đó chính là nền kinh tế dựa trên khoa học kỹ thuật công nghệ cao.
Thực ra vai trò của tri thức trong nền kinh tế không chỉ bây giờ mới đợc nhân
loại nói tới mà nó đã đợc đề cập đến từ rất sớm. Từ năm 1650, nhà tiên tri tài năng
của nớc Anh, William Patter, đã viết : " Của cải mang tính tợng trng sẽ thay thế cho
của cải thật" và để chứng minh cho lời nói của ông thì năm 1690, chiếc máy hơi nớc
đầu tiên trên thế giới đã ra đời ngay tại nớc Anh. Tiếp theo, sau ông là Francis Bacon,
nhà t tởng lớn ngời Anh khẳng định: " Tri thức là sức mạnh ". Winston Churchill từng
nói về việc thiết lập một quốc gia hùng mạnh bằng tri thức. Ngay tại nớc Mỹ năm
1970, các ông trùm kinh tế còn cho rằng công nghiệp nặng cần có xí nghiệp và điều
đó sẽ mãi không thể thay đổi. Nhng chỉ ít năm sau chính họ đã phải thừa nhận: " Tri
thức mới là chìa khoá để mở cổng để bá quyền kinh tế ". Và Alvin Toffler, học giả
ngời Mỹ, một trong những nhà tơng lai học nổi tiếng của thế giới ở thế kỷ XX. Năm
1970, ông cho ra mắt bạn đọc cuốn " Cú sốc tơng lai " (Future shock), Trong cuốn
này ông trình bày về quá trình biến đổi của công nghiệp đối với các tổ chức và con
ngơì, dự báo hiệu quả của cuộc cách mạng sinh hoá, của cải cách giáo dục, khả năng
kiềm chế và sự biến đổi sao cho có lợi. Đến năm 1980, ông lại cho ra đời cuốn " Làn
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
sóng thứ ba " (The third Wave), lần này ông phân tích các hớng biến đổi mang tính
chất khoa học kỹ thuật, ông nhấn mạnh vai trò của khoa học kỹ thuật, cho rằng máy
móc hiện đại sẽ thay thế cho sức lực của con ngời. Và 10 năm sau, năm 1990, trong
cuốn " Thăng trầm quyền lực " (Power shift ) hay còn gọi là "Tơng lai thế giới " ông
khẳng định vai trò then chốt của tri thức là tạo ra sự biến đổi toàn diện kinh tế thế
giới. Theo ông, bạo lực chỉ là dạng phẩm chất thấp, của cải thuộc bậc trung còn tri
thức mới là phẩm chất cao nhất, nó chuyển hoá liên tục tránh đựoc lãng phí sức lực và
tiền của. Có thể nói những dự báo của ông đã và đang nhanh chóng trở thành hiện
thực, sách của ông trở thành sách bán chạy nhất "Best sell".
Thế kỷ XX là thế kỷ khoa học công nghệ tiến nhanh cha từng thấy, giá trị sản
xuất vật chất tăng hàng chục lần so với thế kỷ trớc. Năm 1903, việc giải phóng năng
lợng hạt nhân của ông bà Mari Quyri đã tạo bớc nhảy vọt trong việc tìm ra một năng
lợng mới cho loài ngời, xuất hiện điện tử, tàu phá băng nguyên tử Cuộc cách mạng
sinh học tạo ra những giống mới dẫn tới bớc phát triển mới trong nông nghiệp, thụ
tinh trong ống nghiệm, năm 1967 ghép đợc tim con ngời . Cuối thế kỷ XX đã giải mã
đợc gien của loài ngời , thực hiện sinh sản vô tính , chế tạo ra các thần dợc. Cuộc
cách mạng về vật liệu mới, nổi bật là vật liệu compozit đang đợc sử dụng rộng rãi
trong các ngành chế tạo máy, các ngành kỹ thuật cao Cuộc cách mạng về công
nghệ vũ trụ với nhiều thành tựu to lớn: Phóng vệ tinh nhân tạo năm 1957 , phóng tên
lửa thăm dò mặt trăng năm 1959, đa con ngời lên mặt trăng năm 1969 và khám phá
sao hoả
Đặc biệt là cuộc cách mạng thông tin. Năm 1832 máy điện tín ra đời mà cha
đẻ là Samuel Morse .Năm 1836 đờng dây điện báo xuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ. Năm
1960, các xí nghiệp ở Mỹ đều trang bị máy điện toán. Điện thoại ra đời năm 1901,
truyền ảnh từ xa ra đời năm 1905, truyền hình từ xa ra đời năm 1914, vô tuyến truyền
hình ra đời năm 1926, đến năm 1951 có vô tuyến truyền hình màu, máy tính ra đời
năm 1949, nay là máy tính nối mạng và sự phát triển cực nhanh của Internet.Trong
vài thập kỷ gần đây, máy vi tính và mạng Internet là công cụ không thể thiếu đợc
trong các công ty, nhà máy. Sự ra đơì của Internet đã gắn liền cả thế giới với nhau,
buôn bán xuyên quốc gia đã trở nên dễ dàng hơn và thuận tiện hơn. Thơng mại điện
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tử là một hình thức buôn bán phổ biến ở trên thế giới. Máy rút tiền tự động, các cửa
hàng bán đồ tự động và thanh toán bàng thẻ tín dụng điện tử không còn xa lạ đối với
con ngời . Ngày nay, công nghệ không dây đã phát triển lên tới đỉnh cao thể hiện ở sự
bùng nổ sử dụng máy điện thoại di động, các đời điện thoại di động không ngừng đợc
nâng cấp và cải tiến. Công nghệ sinh học cũng đang trên đà phát triển với sự ra đời
của cừu Dolly, theo thống kê đã có đúa trẻ thứ 1000 đợc sinh ra trong ống nghiệm,
việc cấy ghép gen đã có thể thực hiện đợc. Qua đó có thể thấy khoa học kỹ thuật
công nghệ đã phát triển không ngừng và đạt đựơc nhiều thành tựu đáng kể. Đó chính
là tri thức , là công nghệ tri thức. Hơn nữa, con ngời với t chất năng động, sáng tạo,
luôn luôn muốn tìm tòi, khám phá ra những cái mới và không bao giờ tự hài lòng với
những gì mình đang có. Yêu cầu của con ngời ngày càng trở nên đa dạng, phong phú,
phức tạp, muốn đáp ứng đợc thì càng phải nâng cao sự tích luỹ tri thức trong sản
phẩm, phải tạo ra đợc những sản phẩm có tính năng đa dạng, chất lợng tốt, giá rẻ và
chứa hàm lợng tri thức cao.
Từ giữa thế kỷ XX đến cuối thế kỷ XX , có thể nói đây là thời kỳ phát triển
có tính chất bớc ngoặt của yếu tố tri thức với t cách là một yếu tố của lực lợng sản
xuất và nó đợc bắt đầu ở nớc Mỹ - một quốc gia đứng vị trí thứ nhất trong nền kinh tế
toàn cầu. Trớc đây con ngời khai thác tài nguyên thiên nhiên, lấy đó làm nguồn lực
để phát triển kinh tế nhng tài nguyên cũng chỉ có giới hạn , khai thác mãi thì cũng
phải cạn kiệt do đó con ngời cần phải phát triển khoa học kỹ thuật để tạo ra những vật
liệu cần thiết cho sản xuất mà không phải lấy từ thiên nhiên. Tới đây thì khoa học kỹ
thuật đã trở thành nhân tố quyết định cho sự phát triển của nền kinh tế. Nhờ có khoa
học kỹ thuật mà vòng đời của sản phẩm đợc rút ngắn, hàm lợng chất xám và vốn chứa
đựng trong tri thức tăng cao.
Xu hớng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ cùng
với sự bùng nổ về khoa học công nghệ thông tin. Nhờ có công nghệ thông tin mà quá
trình giao thơng giữa các quốc gia trở nên dễ dàng hơn nhiều, ngành công nghệ khoa
học kỹ thuật của nhiều quốc gia nh Mỹ, Anh , Pháp, Đức đang ở đỉnh cao, do đó
muốn đạt tới yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế thì các quốc gia khác phải bắt kịp tốc
độ phát triển các ngành khoa học công nghệ vì giờ đây nó chính là nguồn gốc của sự
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
giàu có và hùng mạnh của mỗi quốc gia và cũng chỉ có con đờng đó mới giúp cho các
nớc nhỏ , các nớc đang phát triển mới có điều kiện hội nhập vào nền kinh tế quốc tế.
Có thể nói tốc độ phát triển công nghệ thông tin là chìa khoá cho sự thành công. Trớc
đây, giá trị đồng nghĩa với khối lợng, số lợng nhng giờ đây giá trị có nghĩa là chất l-
ợng, một con chíp bé tẹo có thể cấy ghép vào mạch máu con ngời lại có giá trị gấp
mấy chục lần một chiếc máy vi tính chứa đựng vô số những vi mạch điện tử. Càng
nhỏ càng đắt tiền, đó là khẩu hiệu thời đại công nghệ kỹ thuật, một chiếc điện thoại
di động bé bằng nửa lòng bàn tay lại có giá trị gấp nhiều lần so với một chiếc di động
to bằng cục gạch. Câu hỏi cần đặt ra ở đây là tại sao những sản phẩm tốn nhiều vật
chất hơn lại có giá trị ít hơn nhiều so với những sản phẩm mà sử dụng rất ít t liệu sản
xuất, tại sao những sản phẩm đời sau lại sử dụng ít t liệu sản xuất hơn những sản
phẩm đời trớc. Câu trả lời duy nhất cho vấn đề này là yêu cầu của con ngời ngày càng
cao, xu hớng tiêu dùng những sản phẩm chứa nhiều hàm lợng giá trị tri thức càng đợc
a chuộng. Giá trị của sản phẩm đợc đánh giá dựa theo hàm lợng tri thức chứa đựng
trong nó, theo công năng , tiện ích và u điểm của sản phẩm so với các sản phẩm cùng
loại. Chỉ có những thành tựu của khoa học công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật
cao mới có thể tạo ra đợc những sản phẩm u việt nh vậy, đây cũng là câu trả lời cho
sự phát triển nhảy vọt của Nhật Bản - một đất nớc không đợc u đãi về tài nguyên
thiên nhiên, nhng nó trở thành cờng quốc đứng thứ ba trên thế giới là dựa vào tri thức
dựa vào những thành tựu khoa học công nghệ . Nhật Bản đã có những chiến lợc phát
triển khoa học công nghệ rất hợp lý và hiệu quả. Cũng giống nh Nhật Bản, Hàn Quốc
trong vài thập kỷ gần đây đã vơn lên thành một trong những nớc có nền công nghệ
thông tin phát triển vào bậc nhất trên thế giới. Vậy, để hội nhập kinh tế quốc tế, hoà
mình vào dòng chảy chung của toàn cầu thì các nớc đang phát triển mà điển hình là
Việt Nam chúng ta càng cần phải phát huy mạnh mẽ hơn nữa khoa học công nghệ
thông tin. Khi hội nhập vào nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới có nghĩa là
cùng chung một sân chơi, mạnh đợc yếu thua, đây là một thách thức to lớn đối với
các nớc đang phát triển vì phải đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh quốc tế có trình
độ khoa học công nghệ vợt trội nhng đồng thời cũng là cơ hội, tạo ra động lực thúc
đẩy sự phát triển của những nớc này. Do đó muốn trụ vững đợc trên thơng trờng quốc
tế thì sản phẩm của các doanh nghiệp mới tham gia thị trờng quốc tế ít ra cũng phải
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ngang tầm với các sản phẩm khác trên thị trờng. Mặt khác khi hội nhập kinh tế quốc
tế , các nớc đang phát triển nh Việt Nam có thể xâm nhập vào thị trờng các nớc khác
nhng cũng đồng nghĩa với việc thị trờng trong nớc bị chia sẻ, nếu không giữ vững và
củng cố đợc thị phần trong nớc thì chúng ta đã bị thua ngay trên sân nhà , chơi trên
sân nhà còn thua thì nói gì đến việc chơi trên sân bạn , điều này có nghĩa là khả năng
cạnh tranh của chúng ta quá hạn chế. Để cải thiện tình trạng này không còn cách nào
khác là phải phát triển khoa học công nghệ, sử dụng khoa học công nghệ một cách
hợp lý và có hiệu quả, phải đầu t chất xám trong sản phẩm, sản phẩm đợc sản xuất ra
phải chứa đựng hàm lợng tri thức cao, phải có khả năng cạnh tranh. Vì vậy, với yêu
cầu hội nhập kinh tế thế giới và toàn cầu hoá thì Việt Nam nói riêng và các nớc đang
phát triển nói chung phải đánh giá đợc tầm quan trọng của tri thức trong việc sản
xuất, ứng dụng triệt để các thành tựu khoa học công nghệ sẵn có, không ngừng
nghiên cứu, sáng tạo các công nghệ mới, hiện đại đáp ứng đợc nhu cầu ngày càng cao
của nhân loại
Tri thức còn đợc vận dụng vào trong quản lý, tổ chức, tri thức trở thành nguồn
lực căn bản của kinh tế quốc gia . Tri thức quyết định tăng trởng kinh tế và nhất là
trong giai đoạn hiện nay , nguồn tài nguyên thiên nhiên trên thế giới đang cạn kiệt
dần thì vai trò của tri thức càng đợc nhấn mạnh. Trong nền kinh tế tri thức nguồn tài
nguyên trí lực và khoa học kỹ thuật công nghệ trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp ,
lực lợng có vai trò quan trọng hàng đầu .Vậy, sự xuất hiện nền kinh tế tri thức là một
quá trình , một thực tế tất yếu chứ không phải là ngẫu nhiên . Kinh tế tri thức là sự
phát triển tất yếu của thời đại.
II- Quá trình hình thành quỹ đầu t mạo hiểm
1/ Quỹ đầu t - quỹ đầu t mạo hiểm
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nền kinh tế muốn tăng trởng nhanh, nhất thiết phải có nhiều vốn đầu t. Vấn
đề đặt ra là làm thế nào để các tổ chức, cá nhân có vốn nhàn rỗi và các nhà doanh
nghiệp có ý tởng kinh doanh, có các dự án kinh doanh nhng thiếu vốn đầu t gặp nhau
đợc, cùng hợp tác với nhau, cùng nhau tìm kiếm các cơ hội kinh doanh có lợi nhất.
Để làm "cầu nối " giữa bên cần vốn với bên có vốn nhàn rỗi, nhiều loại hình định chế
tài chính trung gian đã ra đời. Một trong những định chế tài chính trung gian có ảnh
hởng nhiều đến các hoạt động đầu t trong nền kinh tế, đó là " quỹ đầu t".
Quỹ đầu t là một tổ chức dạng doanh nghiệp đợc hình thành từ vốn góp của
ngời đầu t bằng cách phát hành và bán chứng chỉ quỹ. Là một dạng doanh nghiệp đặc
biệt, quỹ đầu t không dùng vốn của mình để mua máy móc thiết bị, các yếu tố sản
xuất để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, mà dùng vốn để đầu t trực tiếp
và đầu t gián tiếp.
Đầu t trực tiếp là việc các quỹ đầu t dùng vốn của mình để thâm nhập trực
tiếp vào các công ty, các dự án bằng cách góp cổ phần, mua cổ phiếu phát hành lần
đầu với t cách là cổ đông sáng lập nh các sáng lập viên khác.
Đầu t gián tiếp là việc quỹ đầu t tự dùng vốn của mình tham gia vào thị trờng
chứng khoán với t cách của một nhà kinh doanh chứng khoán, mua đi bán lại các
chứng khoán, nhằm hởng chênh lệch giá hay cổ tức từ các công ty hoặc lợi tức trái
phiếu. Tuy nhiên quỹ đầu t không phải là thành viên của thị trờng chứng khoán tập
trung. Các quỹ đầu t có thể dùng vốn của mình cho các chủ doanh nghiệp vay để đầu
t vào các dự án theo những thoả thuận nhất định. Nguồn vốn hình thành quỹ đầu t rất
phong phú và đa dạng. Các tập đoàn t bản, các công ty, dân chúng có vốn nhàn rỗi
dù nhiều hay ít đều có thể trở thành các chủ sở hữu của quỹ đầu t bằng việc mua các
chứng chỉ quỹ đầu t do quỹ đầu t phát hành.
Hiện nay có rất nhiều loại hình quỹ đầu t nh : quỹ đầu t chứng khoán, quỹ
đầu t hỗn hợp, quỹ hỗ trợ đầu t, quỹ đầu t mạo hiểm Nhng trong đề tà này tôi chỉ
xin nghiên cứu về quỹ đầu t mạo hiểm. Vậy để hiểu rõ từng khía cạnh của quỹ đầu t
mạo hiểm thì trớc tiên chúng ta phải hiểu quỹ đầu t mạo hiểm là gì và bản chất của
nó.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, nhiều nớc đã áp dụng hình
thức huy động vốn đầu t mạo hiểm để cung cấp cho các dự án, chơng trình. Điển hình
trong hoạt động này là ngời Mỹ, họ đã phát triển mạnh hình thức vốn mạo hiểm
(Venture capital), đáp ứng một cách nhanh chóng và hiệu quả cho các dự án của
mình. Hiện nay tại Mỹ đã hình thành một thị trờng vốn mạo hiểm khổng lồ, có khả
năng tài trợ cho nhiều dự án, đặc biệt là những nghiên cứu công nghệ cao. Vậy vốn
mạo hiểm là gì và vai trò của chúng nh thế nào trong hệ thống tài chính của các quốc
gia trên thế giới hiện nay?
Theo một nghiên cứu gần đây của Chơng trình dự án phát triển sông Mê
Kông (năm 1998) thì có hai định nghĩa về vốn mạo hiểm, một theo nghĩa rộng và
một theo nghĩa hẹp." Theo nghĩa rộng thì vốn mạo hiểm là nguồn tài chính cung
cấp cho các công ty t nhân dới hình thức vốn cổ phần hoặc các khoản đầu t gần
giống nh vốn cổ phần có thời hạn trung bình (3 - 5 năm)". Số cổ phần giành đợc
trong các công ty nhận đợc vốn đầu t loại này có thể chiếm tỷ phần ít ỏi hoặc chiếm
đa số áp đảo. Nh chúng ta đã biết, đầu t là hoạt động bỏ vốn ra tập trung vào một mục
đích nào đó nhằm mu cầu một khoản thu về lớn hơn trong tơng lai, nhng khác với đầu
t thông thờng, mục tiêu của đầu t mạo hiểm là kiếm đợc khoản thu nhập vốn cao hơn
mức trung bình. Khoản thu này trở thành hiện thực sau khi khoản đầu t đó đợc bán
cho một nhà kinh doanh chứng khoán hoặc bán cho công chúng (bán cho công chúng
là hiện tợng phổ biến xảy ra ở các nớc châu á. Bên cạnh việc cung cấp vốn, các
chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm còn t vấn ở tầm chiến lợc, cho các công ty nhận
vốn đầu t khi họ bớc sang giai đoạn tăng trởng kế tiếp và thậm chí chuẩn bị sẵn sàng
để công ty đợc chuyển giao cho các cổ đông khác.
Định nghĩa hẹp, xác định vốn mạo hiểm là các khoản đầu t vốn cổ phần t
nhân trung hạn vào các công ty nhận vốn cha trởng thành. Nói cách khác, công ty
nhận vốn đầu t đang trong giai đoạn đầu (manh nha) của quá trình phát triển sản
phẩm, phát triển năng lực sản xuất hoặc bắt đầu mở rộng cung cấp hàng hoá, dịch vụ.
Trong giai đoạn đầu phát triển, các công ty hiện nay ngày càng phát triển nhanh, có
xu hớng rút ngắn lịch sử phát triển và có quy mô nhỏ hơn so với đa số các khoản đầu
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
t đợc nêu trong định nghĩa rộng, rủi ro cũng có xu hớng cao hơn. Vì thế , các chuyên
gia quản lý vốn mạo hiểm sẽ tìm kiếm các khoản thu nhập vốn tiềm năng cao hơn. Sự
khác biệt giữa hai định nghĩa trên ở một góc độ nào đó là mức độ trởng thành của các
công ty nhận vốn đầu t.
Chúng ta cũng có thể hiểu quỹ đầu t mạo hiểm duới góc độ khác và theo tôi
cách định nghĩa này dễ hiểu và thể hiện rõ chức năng của quỹ đầu t mạo hiểm hơn cả.
Quỹ đầu t mạo hiểm là hình thức huy động vốn
để đầu t tiền và kỹ năng vào các
công ty mới khởi sự có tiềm năng phát triển cao hoặc các công ty đang ở giai đoạn
tăng trởng cao. (Thông thờng các công ty này là những công ty cha đợc niêm yết và
cổ phiếu cha đợc mua bán trên các sàn giao dịch chứng khoán). Theo định nghĩa này
thì ngoài việc đầu t tiền, công ty quản lý quỹ còn đầu t kỹ năng quản lý vào các công
ty thuộc danh mục để đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động các công ty này.
2/ Lịch sử ra đời của quỹ đầu t mạo hiểm
Quỹ vốn mạo hiểm đầu tiên đợc thành lập năm 1946 ở Mỹ tại thành phố
Boston, có tên gọi là công ty Nghiên cứu và Phát triển Mỹ (ARD Coporation) đã đợc
hình thành dới hình thức một quỹ hỗ tơng dạng đóng (closed end). Sự ra đời của quỹ
này gắn liền với sự phát triển của thung lũng Silicon. Quỹ này đợc hình thành để
kiếm các dự án đầu t có nhiều tiềm năng đem lại thu nhập cao. Công ty Digital
Equipment Inc đã mang lại hơn 50% lợi nhuận của quỹ này. Nhiều quỹ vốn mạo
hiểm đã ra đời tiếp sau đó. Cũng vào khoảng thời gian này, các tổ chức của chính phủ
bảo trợ cho các doanh nghiệp nhỏ đợc thành lập nh SBA và SBIC nhng quy mô vốn
đầu t cho từng doanh nghiệp vẫn còn nhỏ.
Tuy nhiên, đã có những thay đổi quan trọng trong lãnh vực này vào những
năm 1970 khi có một đạo luật về giảm thuế đánh trên lợi nhuận do tăng vốn (capital
gain tax) đợc ban hành. Một yếu tố thứ hai đã tác động đến sự phát triển các quỹ vốn
mạo hiểm khi vào năm 1979 sau khi Bộ Lao động Hoa kỳ điều chỉnh lại các quy định
liên quan đến việc đầu t của các quỹ hu trí, đã thúc đẩy những khoản vốn từ quỹ hu
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
trí đầu t cho các doang nghiệp mới cần vốn mạo hiểm để đòi lại các khoản lơị nhuận
cao trong danh mục đầu t đa dạng hoá.
Cũng vào thời kỳ này và những năm đầu thập niên 1980 và 1990 đã có sự
tăng vọt về các khoản vốn đầu t mạo hiểm song hành với các cuộc phát hành lần đầu
ra công chúng, cùng với các diễn biến tăng giá cổ phiếu ngoạn mục trên thị trờng cổ
phiếu. Trong khoảng thời gian này, dù có tốc độ tăng trởng rất nhanh, khối lợng vốn
mạo hiểm chỉ đạt 10 đến 15 tỷ USD trong những năm 1980. Sau đó vào những năm
1990, những thiên thần đầu t (thiên thần đầu t là thuật ngữ chỉ các nhà đầu t vốn mạo
hiểm cho những dự án ngay từ khi thai nghén hoặc mới hình thành, đặc biệt là các dự
án đi liền với các phát minh, sáng chế còn quá mới mẻ với các nhà tài chính chuyên
nghiệp vì cha đủ thông tin cần thiết về các phát minh những khoản đầu t này rất
khó thẩm định về hiệu quả kinh tế và khó gọi vốn trong những thời kỳ mới hình
thành) đã bỏ ra khoảng 30 tỷ USD cho các dự án vốn mạo hiểm. Theo một nghiên
cứu của Wetzel hàng năm có khoàng 50 tỷ USD đợc các quỹ vốn mạo hiểm đầu t cho
các dự án trên toàn cầu. Tại vơng quốc Anh các quỹ vốn mạo hiểm với vốn trên 5 tỷ
USD đã tập hợp thành Hiệp hội các quỹ vốn mạo hiểm Anh Quốc (British venture
capital association).
Riêng chính phủ Hoa Kỳ đã đầu t khoảng 63 tỷ USD cho các dự án mạo
hiểm, nhng tập trung chủ yếu vào các trờng đại học. Đối với các ngành công nghiệp
nhỏ, vốn mạo hiểm đã đóng vai trò tác động quan trọng. Trong khoảng 10 năm kết
thúc vào năm 1988, trên 305 cuộc phát hành lần đầu ra công chúng (IPO), là của
công ty có vốn mạo hiểm, điều này có nghĩa là các công ty đó đợc các quỹ vốn mạo
hiểm cấp vốn trong thời kỳ đầu và vẫn tiếp tục đầu t vào các doanh nghiệp phát hành
này trong các giai đoạn phát triển tiếp theo. Quỹ đầu t mạo hiểm đã đợc hình thành
phát triển mạnh mẽ, đang trở thành một nghành công nghiệp tại Mỹ, Anh và
Đức Còn tại Châu á, quỹ đầu t mạo hiểm cũng đã xuất hiện lần đầu tiên ở
Singapore. Năm 1985 với sự hoạt động rất tích cực của Uỷ ban phát triển kinh tế
nhằm thức đẩy sự vận động của hoạt động tài chính hỗ trợ cho nguồn vốn đầu t rủi ro.
Tại Hàn Quốc, Thái Lan và Đài Loan, hình thức đầu t này cũng đã xuất hiện từ rất
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
sớm. Năm 1690, tại Hàn quốc, các nhà đầu t đã liên kết với nhau và thành lập ra 13
câu lạc bộ các nhà đầu t, họ chọn lựa những doanh nghiệp đợc đánh giá là có tiềm
năng phát triển nhất trong số các doanh nghiệp mới đợc thành lập để đầu t vốn liếng
và kinh nghiệm hoạt động của mình. Năm 1996, Fuji Bank của Nhật đã thiết lập ra bộ
phận đợc gọi là "Phòng tín dụng cho các doanh nghiệp mới ", chức năng của ban này
là hỗ trợ thực hiện gia tăng đầu t cho các hãng kinh doanh mới thành lập, tìm kiếm
những hãng có tiềm năng phát triển cao và giúp đỡ họ trong việc mở rộng sản xuất
kinh doanh.
Lịch sử phát triển của quỹ đầu t mạo hiểm khá là lâu dài và hoạt động với
phạm vi tơng đối rộng, từ Mỹ, Anh và ở cả Châu á nh Nhật, Singapore, Hàn Quốc
Hoạt động của các quỹ này đã mang lại những hiệu quả to lớn cho nền kinh tế của
các nớc phát triển và kinh tế thế giới. Do đó, quỹ đầu t mạo hiểm không phải là xa lạ
đối với nhân loại mà mặt khác nó còn là hình thức đầu t rất hiệu quả.
3/ Tổ chức, quy trình hình thành và quy trình đầu t quỹ vốn mạo
hiểm
3.1> Tổ chức của các công ty vốn mạo hiểm
Sự thành công của các quỹ vốn mạo hiểm lệ thuộc vào khả năng giải đáp tính
phức tạp của các dự án mới. Các nhà quản trị vốn mạo hiểm, bên cạnh khả năng phát
hiện ra những dự án tiềm năng có mức tăng trởng cao, phải có năng lực tổ chức quản
trị các đầu t này một cách hiệu quả. Thông thờng việc theo dõi các dự án nh vậy rất
tốn kém trong chi phí quản trị tổng hợp các danh mục đầu t của quỹ vốn mạo hiểm.
Ngoài ra, nhà quản trị phải có năng lực đàm phán hợp đồng để phát triển mở rộng, tái
bố trí nhân sự phù hợp cho từng giai đoạn phát triển nhằm đạt đợc mục đích cuối
cùng của nhiệm vụ là đạt mức tăng trởng cao trong toàn quý. Khác với quỹ đóng
thông thờng, loại quỹ vốn mạo hiểm hạn chế thời gian và bắt buộc thành viên tổng
quát phải liên tục tìm kiếm các đầu t tốt để gia tăng giá trị và hoàn thành chỉ tiêu đề
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét