Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

vai trò của CNH - HĐH trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay

B. giải quyết vấn đề
I. Tính tất yếu khách quan và tác dụng của sự nghiệp CNH - HĐH
1. Tính tất yếu khách quan
Khi bớc vào thời kỳ quá dộ lên CNXH,trong diêu kiện cơ sở vật chất- kỹ thuật
còn ở trình đọ thấp kém, công cụ lao động thô sơ, cơ cấu kinh tế dựa trên nông
nghiệp là chủ yếu, đa số dan c sống bằng nghề nông nghiệp, cơ cấu nghành nghề
trong nông nghiệp cũng đơn giản cơ bản là độc canh lúa nớc. Nền sản xuất
vật chất của xã hội dựa trên sản xuất nhỏ là chủ yếu và mang nặng tính tự cấp tự
túc, tỷ xuất hàng hoá trong nên kinh tế tế thấp. Trong đIêu kiện chiến tranh ác
liệt, nền kinh tế với cơ sở vật chất kỹ thuật nói trên khó tồn tại và phát triển
bình thờng. Cho năm 1990, công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm 22,6% thu nhập
quốc dân. Thu nhập bình quân đầu ngời là nớc thuộc nhóm nghèo nhất thế giới
và có nguy cơ tụt hậu xa hơn.
Từ tình hình nói trên. nếu không có sự thay đổi và phát triển thì nền kinh tế
không thể tăng trởng nhanh, đất nớc không thể vợt qua tình trạng nghèo nàn và
kém phát triển. Vì vậy , con đờng tất yếu để ta thoát khỏi tình trạng đó là phảI
tiến hành CNH-HĐH .
Bên cạnh yêu cầu thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của xã hội mới là dân
giàu nớc mạnh ,xa hội công bằng văn minh, sự nghiệp CNH- HĐH đất nớc ở n-
ớc ta con do yêu cầu của sự phát triển kinh tế hàng hoá quyết định. Sản phẩm
của nền sản xuất xã hội không chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu của xã hội nói chung,
mà chúng còn phảI đợc đem bán, chúng phảI có khả năng cạnh tranh trên thị tr-
ờng , có khả năng giữ vững và mở rộng thị trờng .v.v. Dop vậy, các sản phẩm
hàng hoá và dịch vụ phảI đợc sản xuất dựa trên môt nền tảng vững chắc của cơ
sơ vât chất kỹ thuật hiên dại một cơ cáu lành nghề linh hoạt,hợp lý ,chi phí
trên một dơn vi sản phẩm ở mức thấp nhât .Phân công lao dộng ở trình dộ cao,
kỹ thuật hiện đại, tạo ra các sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trờng, khả năng thu
lợi nhuận lớn, tăng khả năng tích luỹ cho nèn kinh tế vầ tham gia vào quan hệ
5
kinh tế quốc tế ở mc độ cao hơn.Từ đó lại thúc đẩy kinh tế trong nớc phát triển
hơn nữa.
Ngoài những cơ sở kinh tế đã nêu trên, sự nghiệp CNH đất nớc ở nớc ta còn
do yêu cầu bảo vệ tổ quốc, tăng cờng tiềm lực quốc phòng của quốc gia chi phối.
Sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế ở mỗi nớc luôn đi đôi với sự nghiệp
bảo vệ, giữ gìn những thành quả mọi mặt đã đạt đợc. Trong tình hình phức tạp
của bầu không khí chính trị kinh tế hiện nay, các lực lợng phản động trong nớc
và ngoài nớc luôn tìm mọi cách để cản trở, phá hoại sự nghiệp phát triển kinh tế
nói riêng và sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nớc ta nói chung. Vì vậy chúng ta
luôn phảI tăng cờng, củng cố, hiện đại hoá lực lợng quốc phòng để nó trở thành
lực lợng hùng mạnh, có khả năng bảo vệ vững chắc tổ quốc XHCN, để cùng
chung sức với các dân tộc bảo vệ nền hoà bình thế giới, bảo vệ độc lập dân tộc,
chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Hiện đại hoá quốc phòng, tăng sức mạnh
vật chất kỹ thuật cho lực lợng vũ trang, dành thế chủ động trong mọi biến
động chính trị chỉ có thể thực hiện đợc trên cơ sở một nền công nghiệp hiện đại
và một nền kinh tế phát triển mạnh vững chắc.
Tóm lại tính tất yếu khách quan của CNH- HDH đợc bắt nguồn từ
yêu cầu của sự phát triển kinh tế, chính trị xã hội, yêu cầu củng cố an ninh quốc
phòng và yêu cầu của việc mở rộng quan hệ kinh tế với bên ngoàI của đất nớc.
1. Tác dụng của CNH- HDH
Việc thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá đất nớc có tác dụng về
nhiều mặt.
- CNH- HDH, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại và cơ
cấu kinh tế mới tạo điều kiện biến đổi về chất lợng sản xuất, tăng năng suất lao
động, tăng sức chế ngự của con ngời với thiên nhiên, tăng trởng kinh tế và phát
triển kinh tế, do đó góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân; góp phần
quyết định tới thắng lợi cuả xã hội mới của nớc ta.
- CNH- HĐH tạo đIều kiện vật chất cho việc củng cố, tăng cờng vai trò kinh
tế của nhà nớc, nâng cao năng lực tích luỹ cuả đất nớc và tạo công ăn việc làm
cho ngời lao động.
6
- Mỗi bớc phát triển mới của cơ sở vật chất- kỹ thuật do quá trình công nghiệp
hoă đem lại sẽ tạo ra những đIều kiện mới cho việc xây dựng nền văn hoá mới,
thủ tiêu tình trạng lạc hậu về xã hội, tạo thuận lợi cho sự phát triển tự do toàn
diện của con ngời- nhân tố trung tâm của thời đại, đa đất nớc đến trình độ văn
minh cao hơn.
- CNH- HĐH góp phần cung cấp và đảm bảo cho quốc phòng cac yếu tố vật
chất- kỹ thuật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để thực hiện tốt nhiệm vụ giữ gìn
an ninh, chủ quyền cuả đất nớc.
- CNH- HĐH tạo nhiều khả năng cho nớc ta trong việc tham gia vào phân công
lao động và hợp tác quốc tế, do đó tận dụng đợc sức mạnh trong nớc và sức
mạnh kinh tế quốc tế.
Chính vì những tác dụng to lớn, tích cực, toàn diện đã nêu trên, từ đại hội III dến
nay, Đảng ta luôn khẳng định vị trí hết sức quan trọng của CNH- HĐH trong sự
nghiệp xây dựng xã hội mới ở nớc ta. Đồng thời, qua mỗi lần đại hội, Đảng ta lại
nhận thức sâu thêm và cụ thể hoá thêm nhiệm vụ này cho thích hợp với đIều kiện
và hoàn cảnh của đất nớc ta trong những thời kỳ. Trong hội nghị Đại biểu toàn
quốc giữa nhiệm kỳ của Đại Hội VII, Đảng ta còn nêu rõ: Đây là nhiệm vụ
trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới. CNH- HĐH là con đ-
ờng thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nớc xung quanh, giữ đợc ổn
định chính trị, xã hội, bảo vệ đợc độc lập, chủ quyền và định hớng XHCN
<1.tr27>
II. Nội dung cơ bản của sự nghiệp CNH- HĐH ở nớc ta trong các thời kỳ

1. Những yếu tố chủ yếu tác động đến sự nghiệp công nghiệp hoá ở nớc ta
Sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc chiụ tác động
của nhiều yếu tố : khách quan, chủ quan,bên trong, bên ngoài , kinh tế,chinh trị xã
hội, khoa học công nghệ v. .v. Các yếu tố trên diễn ra trong từng thời kỳ , với tng
quốc gia có khác nhau . Để thuận lợi trong nghiên cứu, ngời ta thờng khái quát
thành hai loại: yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài
7
Các yếu tố bên trong bao gồm: tièm năng kinh tế tự nhiên của quốc gia(vị
trí địa ly, nguồn tài nguyên , khoáng sản trên ,trong lòng đất, tài nguyên rừng,
nguồn đọng vật cùng các nguồn thuỷ hải sản v.v.) tiềm năng kinh tế xã hội (lực
lợng lao động,truyền thống văn hoá , lịch sử, các nghề thủ công truyền thống cuả
dân tộc năng lợng định hớng lãnh đạo của Đảng cầm quyền cùng sự điêu tiết
của nhà nớc . Các yếu tố bên ngoài bao gồm: các thành tựu khoa học- công nghệ
thế giới, đờng lối đối ngoại của các quốc gia, tất cả những thành tựu cũng nh
những xu hớng biến động của nền kinh tế toàn cầu.
Cả yếu tố bên trong lẫn yếu tố bên ngoài đều là điều kiện phát triển kinh tế nói
chung, đồng thời cũng là những điều kiện quyết định nội dung CNH- HĐH nói
riêng của mỗi quốc gia.
Hai yếu tố bên ngoài có ảnh hởng mạnh mẽ nhất đến nội dung của công nghiệp
hoá là cách mạng khoa học kỹ thuật và quan hệ kinh tế quốc tế.
Về cách mạng khoa học kỹ thuật, đây là yếu tố tác động sâu sắc đến nhiều mặt
trong đời sống kinh tế, xã hội của các nớc, là yếu tố chủ yếu đa nền văn minh nhân
loại từ trình độ thấp lên trình độ cao và do đó nó có tác động trực tiếp, mạnh mẽ
đến sự nghiệp CNH- HĐH ở các nớc chậm phát triển. Cho đến nay, trong lịch sử
đã diễn ra ba cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật vĩ đại và mỗi cuộc cách mạng đó
có đặc trng cơ bản riêng.
Cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất ( cách mạng công nghiệp) diễn ra ở
Anh bắt đầu những năm 60 của thế kỷ XVIII và kết thúc vào năm 1820. Nội dung
cơ bản của nó là biến lao động thủ công thành lao động cơ khí, trong đó về năng
lợng đặc trng là việc sử dụng máy hơi nớc.
Cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ 2 diễn ra từ nửa sau thế kỷ XIX. Nội dung
và đặc trng cơ bản của nó là phát minh và ứng dụng rộng rãi động cơ đốt trong và
điện năng.
Cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ ba đợc gọi là cách mạng khoa học- công
nghệ bởi những phát minh khoa học đều trực tiếp dẫn đến hình thành các nguyên
lý công nghệ sản xuất chứ không chỉ dừng lại ở công cụ sản xuất nh các thời kỳ tr-
ớc.
8
Cách mạng khoa học- công nghệ có nhiều nội dung. Về quy mô và dung lợng tri
thức, các nhà khoa học đã đánh giá chúng phát triển theo cấp số nhân. Nhng ở đây
chỉ đề cập đến những nội dung có liên quan đến các kỹ thuật, công nghệ đang có
triển vọng nhất hiện nay. Đó là: kỹ thuật điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ
vật liệu mới, công nghệ sinh học và công nghệ vũ trụ.
- Kỹ thuật điện tử: thành tựu nổi bật của kỹ thuật điện tử là việc phát minh
và sử dụng rộng rãi máy tính điện tử. Trong thời gian ngắn máy tính điện tử đã
trải qua bốn thế hệ, thế hệ thứ năm chuẩn bị ra đời với khả năng có thể giải hàng
trăm tỷ phép tính trong một giây. Hiện tại máy tính không chỉ để tính toán mà là
phơng tiện cho hầu nh tất cả các hoạt động của con ngời và là cơ sở thiết yếu của
công nghệ thông tin hiện đại.
- Công nghệ thông tin: là lĩnh vực công nghệ phát triển nhanh nhất, thúc
đẩy quá trình chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin.
Những bớc phát triển nhảy vọt của công nghệ thông tin gắn liền với sự hoàn thiện
của máy tính. Một bớc nhảy vọt trong công nghệ thông tin những năm gần đây là
sự ra đời của mạng máy tính. Từ cuối những năm 1980 đến đầu những năm 1990
mạng máy tính phát triển, nối mọi nơi trên thế giới, làm hình thành siêu xa lộ
thông tin và internet.
- Công nghệ vật liệu mới: đợc hình thành bằng việc sử dụng phơng pháp
khoa học để chế tạo vật liệu thay thế cho vật liệu tự nhiên. Nhiếu loại vật liệu mới
với những u điểm đặc biệt đã ra đời
- Công nghệ sinh học: đang đợc dự kiến là công nghệ hàng đầu khi bớc
vào thế kỷ XXI.
Trong đó những bộ phận đang đợc nghiên cứu và ứng dụng nhiều nhất là: Gen (
hay công nghệ di truyền); công nghệ dung hợp tế bào ( tổng hợp tế bào từ những
tế bào sinh vật có tính di truyền khác nhau); công nghệ gây men ( công nghệ
phản ứng sinh vật). Trong đó thành công lớn nhất của các nhà khoa học là đã vẽ
đợc bản đồ gen của con ngời vào những ngày đầu của thế kỷ XXI.
- Công nghệ vũ trụ: bao gồm việc nghiên cứu chế tạo các thiết bị máy móc cho
việc bay vào vũ trụ( nh vệ tinh nhân tạo, phi thuyền trở ngời, phi thuyền đóng tên
9
lửa) và đang dự kiến lợi dụng những điều kiện đặc biệt của khoảng không vũ trụ
( vô trùng, trọng lực cực nhỏ ) để chế tạo những sản phẩm mới ( nh dợc phẩm có độ
sạch cao ).
Trong các nớc phát triển hiện nay, cách mạng khoa học- công nghệ đang diễn ra
sôi nổi, mạnh mẽ và có tác động rất to lớn. Tác động cơ bản nhất là làm thay đổi
cơ cấu các ngành kinh tế ở các nớc phát triển.Nó thể hiện trên nhiều mặt. Nó làm
thay đổi tỷ lệ giữa ba ngành lớn ( công nghiệp,nông nghiệp, dịch vụ). Ngành thứ
nhất không ngừng thu nhỏ lại, tỷ lệ ngành thứ hai lúc đầu mở rộng sau đó thu nhỏ,
ngành thứ ba không ngừng mở rộng. Nó làm thay đổi cơ cấu nội bộ từng ngành
lớn ví dụ nh ở ngành dịch vụ các ngành phục vụ truyền thống nh ngân hàng, bảo
hiểm, ăn uống không ngừng đợc mở rộng; các nghề t vấn, thiết kế đang có xu h-
ớng tăng lên; các ngành phục vụ cho phát triển đới sống hiện đại nh y tế, giáo dục,
du lịch phát triển tơng đối nhanh. Đặc biệt công nghệ cao đang hiện đại hoá các
ngành sản xuất và dịch vụ truyền thống tạo ra những ngành nghề mới, giá trị tăng
cao, thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu hớng về kinh tế tri thức.
Từ làm thay đổi cơ cấu ngành nghề cách mạng khoa học- công nghệ còn làm
thay đổi cơ cấu sản phẩm trong điều kiện khoa học- kỹ thuật mới là làm giảm vật
t, giảm năng lợng, giảm không gian và giảm lao động. Nó còn làm thay đổi chế
độ, cách thức sản xuất ra sản phẩm. Sản xuất tập trung, quy mô lớn, sản xuất hàng
loạt và chủng loại ít đợc thay thế bằng sản xuất phi tập trung, quy mô nhỏ, khối l-
ợng nhỏ, chủng loại nhiều.
Cách mạng khoa học- công nghệ còn tác động đến yếu tố chủ thể của nền sản xuất
xã hội là ngời lao đông. Ngời lao động sử dụng kỹ thuật công nghệ mới, đòi hỏi
phải có nhiều kỹ năng và trí tuệ hơn. Do đó chi phí đào tạo tay nghề cho ngòi lao
động cao hơn trớc. Không những thế công nghệ- kỹ thuật mới còn làm thay đổi cơ
cấu lao động. Nghành thứ ba phát triển đã tạo cơ hội kiếm việc làm cho nhiều ngời
lao động dôi ra trong các ngành khác và số lao động mới của xã hội.
Ngoài ra cách mạng khoa học- công nghệ trong các nớc phát triển còn làm thay
đổi việc phân bố địa bàn sản xuất: Một mặt nó tạo điều kiện mở rộng phạm vi
10
không gian, phân bố địa bàn hoạt động sản xuất; mặt khác nó hạn chế tác động
của hoàn cảnh tự nhiên đối với việc bổ trí lực lợng sản xuất trong nền kinh tế.
Tác động chung nhất của cách mạng khoa học- công nghệ trong các quốc gia phát
triển là nó làm tăng năng suất lao động xã hội ở các nớc tăng lên rất cao. Thêm
nữa, cuộc cách mạng này đã tạo cho mọi quốc gia những cơ hội để phát triển. Nh -
u thế về vốn, công nghệ, thị trờng thuộc về các nớc phát triển. Vì thế các nớc
chậm phát triển đang đứng trớc những thách thức to lớn. Khoảng cách chênh lệch
giàu- nghèo giữa các nớc ngày càng mở rộng, cạnh tranh kinh tế diễn ra ngày càng
gay gắt.
Về quan hệ kinh tế quốc tế trong những năm gần đây kinh tế hàng hoá đã phát
triển vợt khỏi phạm vi quốc gia và mở rộng ra phạm vi quốc tế. Sự phát triển của
kinh tế hàng hoá đến trình độ cao- kinh tế thị trờng đã làm cho thị trờng thế giới
phát triển cả về chiều rộng lẫn chiếu sâu. Từ đó, thị trờng thế giới và kinh tế hàng
hoá đà thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lao động quốc tế và sự hợp tác quốc
tế cũng nh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế của các quốc gia cũng tăng
lên.Mức độ và phạm vi của quan hệ kinh tế quốc tế đã phát triển cha từng thấy
trong những năm gần đây.
Việc tham gia và mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế có tác động nhiều mặt đến
quá trình phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp hoá nói riêng của các quốc
gia. Sự tác động đó bao gồm cả tác động tích cực lấn tiêu cực, song tác động tích
cực là chủ yếu. Quan hệ kinh tế quốc tế tạo khả năng to lớn để nớc ta có thể tiếp
cận những thành tựu vĩ đại của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, thu hút
thêm các nguồn vốn bên ngoài, học hỏi kinh nghiệm tổ chức quản lí của các nớc
đi trớc trên con đờng công nghiệp hoá đất nớc. Nó cũng giúp chung ta tiếp nhận sự
giúp đỡ của bạn bè năm châu, giải quyết những khó khăn mà khả năng đất nớc bị
hạn chế, sử dụng có hiệu quả hơn những nguồn lực bên trong vốn có của đất nớc
mình.
Về yếu tố bên trong:
11
Nếu nh các yếu tố bên ngoài là cách mạng khoa học- kỹ thuật và quan hệ
kinh tế quốc tế tác động mạnh hơn đến yếu tố kỹ thuật, công nghệ trong quá trình
CNH- HĐH đất nớc thì yếu tố bên trong đặc biệt là các tiềm năng kinh tế- các lợi
thế so sánh của Việt Nam lại có tác động nhiều hơn đến cơ cấu ngành nghề trong
quá trình CNH- HĐH ở nớc này
Dù kỹ thuật hiện đại hay thô sơ thì Việt Nam vẫn phải phát triển kinh tế và
thực hiện CNH- HĐH đất nớc trên cơ sở những tiềm năng kinh tế của mình. Song
các yếu tố bên ngoài sẽ có tác động rất tích cực đến việc sử dụng các tiềm năng,
các nguồn lực bên trong một cách có hiệu quả và nhanh chóng rút ngắn về trình độ
phát triển với các nớc khác trên thế giới.
+ Về vị trí địa lý, Việt Nam nằm ở phía đông bàn đảo Đông Dơng và là
quốc gia ven biển. Nh vậy, Việt Nam ở gần các tuyến đờng biển quan trọng và là
nơi có các tuyến đờng hàng không đi qua hoặc kề cận lãnh thổ. Đây là một u thế
của Việt Nam so với một số nớc khác nh Lào, Campuchia Đờng biển dài đã tạo
cơ hội cho ngành giao thông vận tải của Việt Nam phát triển. Bên cạnh nó các
hoạt động kinh tế khai thác các tiềm năng của biển nh: đánh bắt, nuôi trồng thuỷ,
hải sản, khai thác tài nguyên thiên nhiên vùng thềm lục địa, du lịch biển có điều
kiện phát triển.
+ Về tài nguyên thiên nhiên, đất đai là một loại tài nguyên quan trọng ở
Việt Nam. Số lợng 7 ha đất trồng trọt cùng với khí hậu nhiệt đới, gió mùa, độ ẩm
cao tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành nông, lâm nghiệp phát triển. Tuy vậy,
khí hậu của Việt Nam cũng có mặt khắc nghiệt, gây ra biến cố nh bão, lũ lụt, hạn
hán làm ảnh hởng sâu sắc lên mọi hoạt động kinh tế.
Riêng về khoáng sản, tài nguyên khoáng sản của Việt Nam không giàu nhng
phong phú. ở Việt Nam hiện đã phát hiện khoảng 100 loại quặng kim loại và phi
kim loại. Tiềm năng này cho phép phát triển các cơ sở khai khoáng, chế biến và
tinh chế rất lớn. Tuy vậy, cùng với tình trạng cha phát triển của cơ sở hạ tầng,
nhiều mỏ khoáng sản lại nằm ở các vùng heo hút, hiểm trở của đất nớc. Điều đó
cũng gây không ít khó khăn cho việc khai thác và vận chuyển trong quá trình sản
xuất- kinh doanh.
12
+ Về nguồn nhân lực, Việt Nam là nớc đông dân, bớc vào thế kỷ XXI dân số
Việt Nam có trên 80 triệu ngời(đông dân thứ 2 ở các nớc Đông Nam á và thứ 13
trong số 216 quốc gia trên thế giới). Nh vậy, Việt Nam có khoảng 40 triệu lao
động tỷ lệ lao động trẻ cao, và chủ yếu tập trung ở các thành phố. Cho đến cuối
thập kỷ 90, lao động trình độ thấp vẫn chiếm tỷ lệ cao( khoảng trên 80%) .
Tình hình nguồn nhân lực nói trên có thuận lợi cho phát triển nhiều ngành
kinh tế mới. Đặc biệt lao động trẻ có khả năng tiếp thu công nghệ mới nhanh. Tuy
vậy, chính dân số đông cũng gây khó khăn cho vấn đề cải thiện mức sống, đặc biệt
yêu cầu mở rộng thị trờng lao động để giải quyết vấn đề việc làm trong khi tiềm
năng về vốn của đất nớc rất hạn chế.
Các tiềm năng kinh tế nói trên có ảnh hởng rất sâu sắc đến việc lựa chọn cơ
cấu các ngành công nghiệp ở Việt Nam trong các giai đoạn phát triển. Đặc biệt
việc lựa chọn cơ cấu ngành nghề trong thời kỳ đầu của quá trình CNH- HĐH.
2. Nội dung cơ bản của CNH- HĐH trong thời kỳ quá độ ở nớc ta
Với trình độ kinh tế- xã hội ở điểm xuất phát của quá trình xây dựng xã hội
mới cũng nh tại thời điểm hiện nay còn thấp kém, với điều kiện bên trong, bên
ngoài có nhiều phức tạp, khó khăn, qua tham khảo kinh nghiệm của các nớc đi tr-
ớc sự nghiệp CNH- HDDH đất nớc ở Việt Nam phải tiến hành trong một quá trình
lâu dài. Quá trình đó gồm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn đều phải giải quyết các
vấn đề liên quan đến 2 nội dung cơ bản, đó là kỹ thuật (công nghệ) và cơ cấu
ngành nghề. Song ở giai đoạn đầu, do điều kiện thiếu vốn nghiêm trọng và do sức
ép của vấn đề bức xúc là giải quyết việc làm nên nội dung công nghiệp hoá tập
trung vào phát triển những ngành nghề thu hút nhiều lao dộng để tạo ra tổng sản
phẩm xã hội và giá trị hàng hoá cao hơn. ở các giai đoạn sau, xét riêng về mặt kỹ
thuật- công nghệ thì càng rút ngắn thời gian để tiếp thu những thành tựu khoa học-
công nghệ mới nhất của nhân loại, càng tiến gần tới đích thành công của sự nghiệp
CNH- HĐH đất nớc
Quá trình CNH- HĐH trong thời kỳ quá độ ở nớc ta phải giải quyết hai nội
dung sau:
13
Một là: Tiến hành cách mạng khoa học- kỹ thuật để xây dựng cơ sở vật chất-
kỹ thuật mới.
Trong nền kinh tế ở nớc ta hiện nay, kỹ thuật thủ công vẫn chiếm tỷ trọng lớn,
do đó về mặt kỹ thuật- công nghệ phải tiến hành cách mạng khoa học- kỹ thuật.
Thực chất của cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật ở nớc ta có nội dung bao hàm
của cả ba cuộc cách mạng kỹ thuật mà thế giới đã trải qua.
Cách mạng khoa học- kỹ thuật ở nớc ta là một quá trình không thể thực hiện
trong một thời gian ngắn, hay kết thúc ở ngay chặng đờng đầu tiên. Bởi quá trình
đó sẽ thực hiện đổi mới về kỹ thuật- công nghệ. Do những điều kiện đặc thù của
Việt Nam, nên sự đổi mới về kỹ thuật- công nghệ sẽ mang các tính chất sau: một
mặt, sự đổi mới về kỹ thuật công nghệ sẽ đợc tiến hành tuần tự từ trình độ kỹ thuật
thủ công qua các trình độ cao hơn( nh kỹ thuật cơ khí) và tiến tới áp dụng công
nghệ hiện đại nhất; mặt khác, sự đổi mới tiến hành có tính nhảy vọt, cách quãng
trong những trờng hợp nhất định đối với từng bộ phận của nền kinh tế. Tức là,
trong một số cơ sở và một số lĩnh vực nếu có đủ điều kiện, có thể áp dụng ngay kỹ
thuật tiên tiến nhất, hiện đại nhất, bỏ qua các trình độ kỹ thuật trung gian.
Hai là: xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí: Cơ cấu kinh tế- kỹ thuật là tổng thể các
quan hệ kinh tế giữa các ngành, các lĩnh vực và các vùng kinh tế.
Tính chất hợp lí của một cơ cấu kinh tế- kỹ thuật phải bao gồm những vấn đề cơ
bản sau:
- Phản ánh đúng yêu cầu của các quy luật khách quan,trớc hết là quy luật kinh
tế.
- Phù hợp với xu hớng tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại.
- Cho phép khai thác tốt các tiềm năng của đất nớc, tiềm năng của ngành, của
doanh nghiệp ở cả chiều rộng lẫn chièu sâu.
- Cơ cấu ngành nghề trong quá trình hoạt động phải bổ sung cho nhau, thúc đẩy
nền kinh tế phát triển nhanh.
- Cho phép khai thác các tiềm năng của đất nớc trong tơng
quan giữa yêu cầu phát triển kinh tế hiện tại với yêu cầu phát triển kinh tế trong t-
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét