Đồ án tốt nghiệp Đại học
Lời nói đầu
Chu Quang Hiển D2001VT
1
Lời nói đầu
Ngày nay, trong ngành công nghiệp viễn thông đang diễn ra sự hội tụ của viễn
thông với công nghệ thông tin, hội tụ của các dịch vụ thoại truyền thống và các dịch vụ
dữ liệu mới. Điều này có ảnh hởng lớn đến mạng viễn thông, đòi hỏi mạng viễn thông
phải có cấu trúc mở, linh hoạt, cung cấp nhiều loại dịch vụ khác nhau cho ngời sử
dụng, hiệu quả khai thác cao, dễ phát triển Để đáp ứng các yêu cầu này, một số nhà
sản xuất thiết bị viễn thông và một số tổ chức nghiên cứu về viễn thông đã đa ra các ý
tởng và mô hình về cấu trúc mạng thế hệ sau NGN.
Trong xu thế đó, ngành viễn thông Việt Nam cũng đang có những bớc chuyển
biến và phát triển mới. Mạng viễn thông của Tổng Công ty Bu chính Viễn thông đã
đợc số hoá với các thiết bị hiện đại và các loại hình dịch vụ ngày càng gia tăng cả về
số lợng và chất lợng. Bên cạnh VNPT, một số công ty khác cũng đã và đang từng
bớc tham gia vào việc khai thác thị trờng cung cấp các dịch vụ viễn thông.
Đứng trớc xu hớng tự do hoá thị trờng, cạnh tranh và hội nhập, việc phát
triển theo cấu trúc mạng thế hệ sau (NGN) với các công nghệ phù hợp là bớc đi tất
yếu của viễn thông thế giới và mạng viễn thông Việt Nam. Trên thực tế, VNPT đang
từng bớc triển khai hạ tầng cơ sở kỹ thuật và đã bớc đầu cung cấp một số dịch vụ
NGN cho ngời sử dụng.
Với xu hớng chuyển dần sang mạng thế hệ sau nh vậy, một loạt các vấn đề
đợc đặt ra nh kiến trúc mạng, phối hợp điều khiển, báo hiệu giữa các phần tử trong
mạng, chất lợng dịch vụ cho mạng thế hệ sau. Trong đó, việc xây dựng mạng báo
hiệu giữa các phần tử trong mạng với các giao thức mới phù hợp là một vấn đề then
chốt quyết định đến sự hoạt động và chất lợng dịch vụ của toàn bộ mạng.
Trong nhiều năm qua, hệ thống báo hiệu số 7 (SS7) với nhiều u điểm nổi bật đã
đợc sử dụng rộng rãi trong mạng PSTN và đem lại những hiệu quả to lớn. Với thực tế
là chúng ta không thể triển khai ngay lập tức một hệ thống mạng mới trọn vẹn, thay thế
toàn bộ hạ tầng cơ sở mạng hiện tại, vấn đề đặt ra là phải có sự phối hợp hoạt động
giữa mạng hiện tại và mạng NGN, và một trong những vấn đề đó là phải truyền tải
đợc báo hiệu PSTN mà quan trọng là SS7 qua nền tảng mạng NGN. Điều này có
nghĩa là phải xây dựng một giao thức mới, phù hợp để có thể cho phép thực hiện báo
hiệu SS7 giữa các phần tử mạng trên nền IP (SS7 over IP). Để làm đợc điều này, một
loạt câu hỏi đợc đặt ra nh: SS7 over IP có sẵn sàng không? Có thể phát triển lên từ
mạng SS7 hiện tại không? độ khả dụng và tin cậy? Sự mềm dẻo và phân cấp Để giải
quyết những vấn để này, IETF đã xây dựng một giao thức mới, cho phép truyền tải tin
cậy báo hiệu PSTN nói riêng và đặc biệt là SS7 trên nền IP giao thức SIGTRAN.
Đồ án tốt nghiệp Đại học
Lời nói đầu
Chu Quang Hiển D2001VT
2
Đồ án "Truyền tải báo hiệu SS7 trong NGN" sẽ mô tả chi tiết đặc điểm, kiến trúc
giao thức, vị trí ứng dụng của SIGTRAN cũng nh là giao thức truyền tải báo hiệu mới
SCTP, sau khi đã trình bày những khái niệm chung nhất có tính chất nền tảng về mạng
NGN và hệ thống báo hiệu số 7. Đồ án cũng sẽ trình bày kỹ lỡng về các lớp thích ứng
hỗ trợ truyền tải báo hiệu số 7 qua mạng NGN.
Đồ án gồm 4 chơng:
Chơng 1: Giới thiệu tổng quan về mạng thế hệ sau NGN, khái niệm, kiến trúc,
đa ra mô hình NGN cũng nh những vấn đề cơ bản để kết nối báo hiệu mạng PSTN
và mạng NGN.
Chơng 2: Trình bày khái quát những vấn đề cơ bản về hệ thống báo hiệu số 7:
đặc điểm, u điểm, các thành phần mạng, chồng giao thức.
Chơng 3: Trình bày về chồng giao thức SIGTRAN và giao thức truyền tải báo
hiệu mới SCTP.
Chơng 4: Trình bày chi tiết về các giao thức nằm trong phân lớp thích ứng hỗ
trợ truyền tải báo hiệu SS7 qua mạng NGN, đó là: M2PA, M2UA, M3UA, SUA.
Tuy SIGTRAN đã đợc ứng dụng và triển khai thực tế trong nhiều thiết bị của
các hãng nhng việc nghiên cứu về chồng giao thức này và các vấn đề liên quan đòi
hỏi một kiến thức sâu rộng và sự đầu t thoả đáng về thời gian. Do vậy, chắc chắn đồ
án không tránh khỏi những sai sót cũng nh còn nhiều vấn đề cha thoả đáng, cần
đợc xem xét thấu đáo hơn. Rất mong nhận đợc sự chỉ bảo của các thầy cô giáo cùng
sự góp ý và phê bình của các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn Th.S Nguyễn Thị Thanh Kỳ đã tạo mọi điều kiện
giúp đỡ và tận tình hớng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đồ án này.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Viễn Thông I, Trung tâm đào tạo
Bu chính viễn thông I, Viện Khoa học kỹ thuật Bu điện đã có những ý kiến đóng góp
và giúp đỡ em trong thời gian qua.
Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và ngời thân - những ngời đã luôn
giúp đỡ, cổ vũ và kịp thời động viên tôi trong suốt thời gian qua.
Đồ án tốt nghiệp Đại học
Chơng I Một số vấn đề về NGN
Chu Quang Hiển D2001VT
3
Chơng 1
một số vấn đề về mạng thế hệ mới ngn
Mở đầu
Ngày nay chúng ta đang chứng kiến sự thay đổi mang tính cách mạng trong thị
trờng dịch vụ thông tin. Sự thay đổi này không chỉ liên quan đến các nhà sản xuất
thiết bị, các nhà cung cấp dịch vụ và các nhà nghiên cứu thị trờng viễn thông mà còn
cho tới nhiều ngời trong nhiều lĩnh vực khác nhau của xã hội. Phơng thức mà con
ngời trao đổi thông tin với nhau, giao tiếp với nhau và kinh doanh các dịch vụ viễn
thông cũng đang dần dần thay đổi theo cùng nền công nghiệp viễn thông. Các kênh
thông tin trong mạng viễn thông hiện đại không chỉ còn mang thông tin thoại truyền
thống mà còn truyền tải cả số liệu, video, tin nhắn Thông tin thoại, số liệu, fax, video
và các dịch vụ khác đang đợc cung cấp tới các thiết bị đầu cuối là điện thoại, thiết bị
di động, máy tính cá nhân và hàng loạt các thiết bị khác. Lu lợng thông tin số liệu
ngày nay đã vợt xa lu lợng thông tin thoại và vẫn không ngừng tăng với tốc độ gấp
nhiều lần tốc độ gia tăng của lu lợng thông tin thoại truyền thống. Chuyển mạch
kênh, vốn là đặc trng của mạng PSTN truyền thống đã không còn thích hợp nữa và
đang nhờng bớc cho hệ thống chuyển mạch mới trong mạng thế hệ sau NGN (Next
Generation Network).
Tuy nhiên, vì các lý do kỹ thuật và kinh tế mà hạ tầng mạng PSTN truyền thống
không thể bị thay thế một cách tức thì, vì thế mạng NGN phải đợc tính đến sự tơng
thích với môi trờng của các mạng có sẵn. Trong quá trình phát triển, vốn đầu t sẽ
dần dịch chuyển từ hạ tầng mạng chuyển mạch kênh hiện nay sang hạ tầng mạng thế
hệ sau.
Chơng đầu tiên của cuốn đồ án này sẽ đề cập đến một số vấn đề tổng quan về
mạng NGN nh: khái niệm, kiến trúc mạng, các thành phần cơ bản của mạng NGN
Tiếp đó là các vấn đề quan tâm về việc kết nối giữa mạng hiện tại và mạng NGN.
1.1 Tổng quan về NGN
1.1.1 Khái niệm
Cho tới hiện nay, mặc dù các tổ chức viễn thông quốc tế và cung các nhà cung
cấp thiết bị viễn thông trên thế giới đều rất quan tâm và nghiên cứu về chiến lợc phát
triển NGN nhng vẫn cha có một định nghĩa cụ thể và chính xác nào cho mạng NGN.
Do đó định nghĩa mạng NGN nêu ra ở đây không thể bao hàm hết mọi chi tiết về mạng
thế hệ mới, nhng nó có thể là khái niệm tơng đối chung nhất khi đề cập đến NGN.
Đồ án tốt nghiệp Đại học
Chơng I Một số vấn đề về NGN
Chu Quang Hiển D2001VT
4
Bắt nguồn từ sự phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ chuyển mạch gói
và công nghệ truyền dẫn băng rộng, mạng thông tin thế hệ mới (NGN) ra đời là mạng
có cơ sở hạ tầng thông tin duy nhất dựa trên công nghệ chuyển mạch gói, triển khai các
dịch vụ một cách đa dạng và nhanh chóng, đáp ứng sự hội tụ giữa thoại và số liệu, giữa
cố định và di động.
Nh vậy, có thể xem mạng thông tin thế hệ mới là sự tích hợp mạng thoại PSTN,
chủ yếu dựa trên kỹ thuật TDM, với mạng chuyển mạch gói, dựa trên kỹ thuật
IP/ATM. Nó có thể truyền tải tất cả các dịch vụ vốn có của PSTN đồng thời cũng có
thể nhập một lợng dữ liệu rất lớn vào mạng IP, nhờ đó có thể giảm nhẹ gánh nặng của
PSTN.
Tuy nhiên, NGN không chỉ đơn thuần là sự hội tụ giữa thoại và dữ liệu mà còn là
sự hội tụ giữa truyền dẫn quang và công nghệ gói, giữa mạng cố định và di động. Vấn
đề chủ đạo ở đây là làm sao có thể tận dụng hết lợi thế đem đến từ quá trình hội tụ này.
Một vấn đề quan trọng khác là sự bùng nổ nhu cầu của ngời sử dụng cho một khối
lợng lớn dịch vụ và ứng dụng phức tạp bao gồm cả đa phơng tiện, phần lớn trong đó
là không đợc trù liệu khi xây dựng các hệ thống mạng hiện nay.
1.1.2 Đặc điểm của NGN
Mạng NGN có 4 đặc điểm chính là:
Nền tảng là hệ thống mạng mở.
Mạng NGN là do mạng dịch vụ thúc đẩy, nhng dịch vụ phải thực hiện
độc lập với mạng lới.
Mạng NGN là mạng chuyển mạch gói, dựa trên một giao thức thống
nhất.
Là mạng có dung lợng ngày càng tăng, có tính thích ứng cũng ngày
càng cao, có đủ dung lợng để đáp ứng nhu cầu.
Nền tảng là hệ thống mạng mở
Do áp dụng cơ cấu mở mà :
- Các khối chức năng của tổng đài truyền thống chia thành các phần tử mạng độc
lập, các phần tử đợc phân theo chức năng tơng ứng, và phát triển một cách độc
lập.
- Giao diện và giao thức giữa các bộ phận phải dựa trên các tiêu chuẩn tơng ứng.
Việc phân tách làm cho mạng viễn thông vốn có dần dần đi theo hớng mới, nhà
kinh doanh có thể căn cứ vào nhu cầu dịch vụ để tự tổ hợp các phần tử khi tổ chức
Đồ án tốt nghiệp Đại học
Chơng I Một số vấn đề về NGN
Chu Quang Hiển D2001VT
5
mạng lới. Việc tiêu chuẩn hóa giao thức giữa các phần tử có thể thực hiện nối thông
giữa các mạng có cấu hình khác nhau.
Mạng NGN là do mạng dịch vụ thúc đẩy
Mạng NGN là mạng dịch vụ thúc đẩy, với đặc điểm :
Chia tách dịch vụ với điều khiển cuộc gọi
Chia tách cuộc gọi với truyền tải
Mục tiêu chính của chia tách là làm cho dịch vụ thực sự độc lập với mạng, thực
hiện một cách linh hoạt và có hiệu quả việc cung cấp dịch vụ. Thuê bao có thể tự bố trí
và xác định đặc trng dịch vụ của mình, không quan tâm đến mạng truyền tải dịch vụ
và loại hình đầu cuối. Điều đó làm cho việc cung cấp dịch vụ và ứng dụng có tính linh
hoạt cao.
Mạng NGN là mạng chuyển mạch gói, dựa trên một giao thức thống nhất
Mạng thông tin hiện nay, dù là mạng viễn thông, mạng máy tính hay mạng
truyền hình cáp, đều không thể lấy một trong các mạng đó làm nền tảng để xây dựng
cơ sở hạ tầng thông tin. Nhng mấy năm gần đây, cùng với sự phát triển của công nghệ
IP, ngời ta mới nhận thấy rõ ràng là mạng viễn thông, mạng máy tính và mạng truyền
hình cáp cuối cùng rồi cũng tích hợp trong một mạng IP thống nhất, đó là xu thế lớn
mà ngời ta thờng gọi là dung hợp ba mạng. Giao thức IP làm cho các dịch vụ lấy
IP làm cơ sở đều có thể thực hiện nối thông các mạng khác nhau; con ngời lần đầu
tiên có đợc giao thức thống nhất mà ba mạng lớn đều có thể chấp nhận đợc; đặt cơ
sở vững chắc về mặt kỹ thuật cho hạ tầng cơ sở thông tin quốc gia.
Giao thức IP thực tế đã trở thành giao thức ứng dụng vạn năng và bắt đầu đợc sử
dụng làm cơ sở cho các mạng đa dịch vụ, mặc dù hiện tại vẫn còn ở thế bất lợi so với
chuyển mạch kênh về mặt khả năng hỗ trợ lu lợng thoại và cung cấp chất lợng dịch
vụ đảm bảo cho số liệu. Tốc độ đổi mới nhanh chóng trong thế giới Internet đợc tạo
điều kiện bởi sự phát triển của các tiêu chuẩn mở sẽ sớm khắc phục những thiếu sót
này.
1.1.3 Kiến trúc của mạng NGN
Kiến trúc của mạng NGN đợc chia thành 4 lớp chức năng cơ bản là:
Lớp ứng dụng và dịch vụ
Lớp điều khiển
Lớp truyền tải
Đồ án tốt nghiệp Đại học
Chơng I Một số vấn đề về NGN
Chu Quang Hiển D2001VT
6
Lớp truy nhập
Ngoài các lớp cơ bản nêu trên, trong kiến trúc mạng NGN cũng nh các mạng nói
chung còn có lớp chức năng quan trọng nữa là lớp quản lý mạng.
Dới đây sẽ mô tả khái quát chức năng và đặc trng của các lớp trong kiến trúc
mạng NGN
Lớp ứng dụng và dịch vụ mạng
Lớp ứng dụng và dịch vụ mạng đợc tổ chức thành một lớp duy nhất cho toàn
mạng nhằm đảm bảo cung cấp dịch vụ đến tận nhà thuê bao một cách thống nhất. Số
lợng nút ứng dụng và dịch vụ phụ thuộc vào lu lợng dịch vụ cũng nh số lợng và
loại hình dịch vụ, đợc tổ chức phân tán theo dịch vụ đảm bảo an toàn hệ thống. Lớp
này đợc liên kết với lớp điều khiển thông qua các giao diện mở.
Lớp điều khiển
Lớp điều khiển đợc tổ chức thành 1 cấp thay vì 3 4 cấp nh cấu trúc mạng
PSTN truyền thống nhằm giảm tối đa cấp mạng và tận dụng năng lực xử lý cuộc gọi rất
lớn của thiết bị điều khiển thế hệ mới, giảm chi phí đầu t trên mạng.
Lớp điều khiển có chức năng điều khiển lớp chuyển tải và lớp truy nhập cung cấp
các dịch vụ mạng NGN gồm nhiều modun nh modun điều khiển kết nối ATM, MPLS,
điều khiển định tuyến IP, điều khiển kết nối thoại, xử lý các báo hiệu mạng bao gồm
SS7, SIP, MEGACO
Lớp chuyển tải
Lớp chuyển tải phải có khả năng chuyển tải các loại lu lợng nh ATM, IP Lớp
chuyển tải đợc tổ chức thành hai cấp: đờng trục quốc gia và vùng thay vì 3-4 cấp nh
trong mạng PSTN hiện nay.
Lớp quản lý
Lớp chuyển tải (Media)
Lớp truy nhập (Access)
Lớp ứng dụng/dịch vụ (Application/service)
Lớp điều khiển (Control)
Hình 1.1 Kiến trúc logic mạng thế hệ mới NGN
Đồ án tốt nghiệp Đại học
Chơng I Một số vấn đề về NGN
Chu Quang Hiển D2001VT
7
Lớp truy nhập
Lớp truy nhập gồm toàn bộ các nút truy nhập đợc tổ chức không phụ thuộc theo
địa giới hành chính. Các nút truy nhập của các vùng lu lợng chỉ đợc kết nối đến nút
chuyển mạch đờng trục của vùng đó qua các nút chuyển mạch nội vùng.
Lớp quản lý
Lớp quản lý mạng là phần thiết bị quản lý mạng tập trung xuyên suốt tất cả các
lớp khác. Lớp này thực hiện các chức năng quản lý nh tính cớc, hỗ trợ vận hành, các
xử lý liên quan tới thuê bao hay cung cấp dịch vụ tới khách hàng. Lớp quản lý mạng có
thể tơng tác với các lớp khác thông qua các giao diện chuẩn hay giao diện lập trình
ứng dụng mở API.
1.1.4 Các thành phần chính của mạng NGN
Trong mạng viễn thông thế hệ mới có rất nhiều thành phần cần quan tâm, nhng
ở đây ta chỉ nghiên cứu những thành phần chính thể hiện rõ nét sự khác biệt của NGN
so với mạng viễn thông truyền thống. Cụ thể là :
Media Gateway (MG)
Media Gateway Controller (MGC - Call Agent - Softswitch)
Signaling Gateway (SG)
Media Server (MS)
Application Server (Feature Server)
Media Gateway (MG)
Media Gateway cung cấp phơng tiện để truyền tải thông tin thoại, dữ liệu, fax và
video giữa mạng gói IP và mạng PSTN. Trong mạng PSTN, dữ liệu thoại đợc mang
trên kênh DS0. Để truyền dữ liệu này vào mạng gói, mẫu thoại cần đợc nén lại và
đóng gói. Đặc biệt ở đây ngời ta sử dụng một bộ xử lý tín hiệu số DSP (Digital Signal
Processors) thực hiện các chức năng : chuyển đổi AD (analog to digital), nén mã thoại/
audio, triệt tiếng dội, bỏ khoảng lặng, mã hóa, tái tạo tín hiệu thoại, truyền các tín hiệu
DTMF
Một số chức năng chính của một Media Gateway :
- Truyền dữ liệu thoại sử dụng giao thức RTP (Real Time Protocol)
- Cung cấp khe thời gian T1 hay tài nguyên xử lý tín hiệu số (DSP - Digital
Signal Processing) dới sự điều khiển của Media Gateway Controller (MGC).
- Quản lý tài nguyên DSP cho dịch vụ này
Đồ án tốt nghiệp Đại học
Chơng I Một số vấn đề về NGN
Chu Quang Hiển D2001VT
8
Signalling Gateway (SG)
Signaling Gateway tạo ra một chiếc cầu giữa mạng báo hiệu SS7 với mạng IP
dới sự điều khiển của Media Gateway Controller (MGC).
SG làm cho Softswitch giống nh một nút SS7 trong mạng báo hiệu SS7. Nhiệm
vụ của SG là xử lý thông tin báo hiệu.
Các chức năng chính của Signaling Gateway:
- Cung cấp một kết nối vật lý đến mạng báo hiệu.
- Truyền thông tin báo hiệu giữa Media Gateway Controller và Signaling
Gateway thông qua mạng IP.
- Cung cấp đờng dẫn truyền dẫn cho thoại, dữ liệu và các dạng dữ liệu khác.
(Thực hiện truyền dữ liệu là nhiệm vụ của Media Gateway).
- Cung cấp các hoạt động SS7 có sự sẵn sàng cao cho các dịch vụ viễn thông.
Media Gateway Controller (MGC)
MGC là đơn vị chức năng chính của Softswitch. Nó đa ra các quy luật xử lý
cuộc gọi, còn MG và SG sẽ thực hiện các quy luật đó. Nó điều khiển SG thiết lập và kết
thúc cuộc gọi.
MGC chính là chiếc cầu nối giữa các mạng có đặc tính khác nhau, nh PSTN,
SS7, mạng IP. Nó chịu trách nhiệm quản lý lu lợng thoại và dữ liệu qua các mạng
khác nhau. Nó còn đợc gọi là Call Agent do chức năng điều khiển các bản tin .
Một MGC kết hợp với MG, SG tạo thành cấu hình tối thiểu cho Softswitch.
Các chức năng của Media Gateway Controller
- Quản lý cuộc gọi
- Các giao thức thiết lập cuộc gọi thoại: H.323, SIP
- Giao thức điều khiển truyền thông: MGCP, Megaco, H.248
- Quản lý lớp dịch vụ và chất lợng dịch vụ
- Giao thức quản lý SS7: SIGTRAN (SS7 over IP)
- Xử lý báo hiệu SS7
- Thực hiện định tuyến cuộc gọi
- Ghi lại các thông tin chi tiết của cuộc gọi để tính cớc (CDR- Call Detail
Record)
Đồ án tốt nghiệp Đại học
Chơng I Một số vấn đề về NGN
Chu Quang Hiển D2001VT
9
- Điều khiển quản lý băng thông
- Đăng ký Gatekeeper
- Đối với Media Gateway :
+ Xác định và cấu hình thời gian thực cho các DSP
+ Phân bổ kênh DS0
+ Truyền dẫn thoại ( mã hóa, nén, đóng gói)
- Đối với Signaling Gateway, MGC cung cấp :
+ Các loại SS7
+ Các bộ xử lý thời gian
+ Cấu hình kết nối
+ Mã của nút mạng hay thông tin cấu hình
Media Server
Media Server là thành phần tuỳ chọn của Softswitch, đợc sử dụng để xử lý các
thông tin đặc biệt. Một Media Server phải hỗ trợ phần cứng DSP với hiệu suất cao nhất.
Các chức năng chính của một Media Server :
- Chức năng voicemail cơ bản.
- Hộp th fax tích hợp hay các thông báo có thể sử dụng e-mail hay các bản tin
ghi âm trớc (pre-recorded message).
- Khả năng nhận dạng tiếng nói (nếu có).
- Khả năng hội nghị truyền hình (video conference).
- Khả năng chuyển thoại sang văn bản (speech-to-text)
Application Server/Feature Server
Server đặc tính là một server ở mức ứng dụng chứa một loạt các dịch vụ của
doanh nghiệp. Chính vì vậy nó còn đợc gọi là Server ứng dụng thơng mại. Vì hầu hết
các Server này tự quản lý các dịch vụ và truyền thông qua mạng IP nên chúng không
ràng buộc nhiều với Softswith về việc phân chia hay nhóm các thành phần ứng dụng.
Chức năng của Feature Server là xác định tính hợp lệ và hỗ trợ các thông số dịch
vụ thông thờng cho hệ thống đa chuyển mạch.
Đồ án tốt nghiệp Đại học
Chơng I Một số vấn đề về NGN
Chu Quang Hiển D2001VT
10
1.2 Kết nối giữa mạng NGN và mạng PSTN truyền thống
Chúng ta thấy rằng mạng NGN - một mạng chuyển mạch gói dựa trên giao thức
IP sẽ mang lại cho khách hàng nhiều dịch vụ mới với tính linh hoạt và đa dụng cao
hơn. Tuy nhiên, khách hàng cũng đòi hỏi các dịch vụ mới trên nền NGN phải đáp ứng
đợc QoS và các đặc tính của một mạng thông minh nh họ đã có ở mạng PSTN nh
độ tin cậy, độ khả dụng, an toàn và chất lợng dịch vụ. Do đó, có thể nhận thấy rằng
trong tơng lai gần, hạ tầng mạng PSTN truyền thống không thể bị thay thế một cách
tức thì, vì thế mạng NGN phải đợc tính đến sự tơng thích với môi trờng của các
mạng có sẵn. Do vậy, việc kết nối giữa mạng NGN và mạng PSTN truyền thống là một
vấn đề rất đáng quan tâm.
Để đáp ứng các yêu cầu của thị trờng thì phải có một kiến trúc báo hiệu mới cho
phép ngời sử dụng có thể tiếp cận với các đặc điểm tích cực của cả hai mạng NGN và
PSTN. Kiến trúc này sẽ phải dựa nhiều vào các gateway giữa mạng NGN và PSTN.
Chúng không chỉ có chức năng kết nối đơn thuần mà còn phải cho phép chuyển đổi
báo hiệu giữa hai mạng. Một gateway lý tởng phải cung cấp khả năng kết nối giữa các
giao thức chuẩn khác nhau, nhng cũng phải đủ mềm dẻo để hỗ trợ các giao thức có
tính riêng biệt.
Vì NGN thực chất là một mạng gói hoạt động dựa trên giao thức IP nên trong
phần này chúng ta se xem xét sơ lợc về việc kết nối báo hiệu giữa mạng PSTN và
mạng IP.
1.2.1 Sơ lợc về báo hiệu trong PSTN
PSTN phát triển cùng với rất nhiều giao thức khác nhau phản ánh những kỹ thuật
phổ biến nhất trong giai đoạn đó. Ví dụ, kỹ thuật xung quay số ( Dial Pulse) đã đợc
thay thế bằng MFC. Đó là một kiểu báo hiệu trong băng hay còn gọi là báo hiệu
kênh kết hợp CAS, sử dụng cùng một mạng để truyền báo hiệu và tín hiệu thoại. Kỹ
thuật báo hiệu trong băng đợc thay thế bởi mạng SS7 vào những năm 1970. Giao thức
SS7 trao đổi thông tin giữa các phần tử trong mạng PSTN bằng cách sử dụng các tuyến
dành riêng để truyền các bản tin báo hiệu đặc biệt. Kiểu báo hiệu này đợc gọi là báo
hiệu ngoài băng hay báo hiệu kênh chung CCS bởi vì mạng báo hiệu đợc tách biệt
ra khỏi mạng truyền tải thoại. Sự tách biệt này làm tăng đáng kể chất lợng dịch vụ của
mạng bằng cách làm tăng số đờng dây và trung kế rỗi để thiết lập đợc nhiều cuộc
gọi hơn, và bằng cách cho phép truyền đợc nhiều dữ liệu hơn với tốc độ cao hơn. Báo
hiệu ngoài băng cũng cho phép thực hiện các chức năng của mạng thông minh IN bằng
cách cho phép truy nhập vào các cơ sở dữ liệu đặc biệt đợc sử dụng bởi mạng IN.
Những dịch vụ giá trị gia tăng này gồm: di động số nội hạt (LNP local number
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét