Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
+ Phân tích cơ sở lý luận về hoàn thiện pháp luật thực hành quyền công
tố Việt Nam.
+ Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật thực hành quyền công tố ở
Việt Nam.
+ Đề xuất những quan điểm, phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp
luật về thực hành quyền công tố đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp
luật, luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lý luận về quyền
công tố và pháp luật thực hành quyền công tố ở Việt Nam và một số nước
trên thế giới.
- Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là pháp luật thực hành quyền công tố
của Viện kiểm sát nhân dân, tập trung chủ yếu từ thời kỳ đổi mới (năm1986)
đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật nói
chung và tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói riêng.
- Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, luận văn sử dụng
các phương pháp nghiên cứu: Phân tích- tổng hợp, lịch sử- cụ thể; kết hợp với
các phương pháp nghiên cứu khác như: So sánh, thống kê, điều tra xã hội học.
6. Điểm mới khoa học của luận văn
Luận văn là tài liệu chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu, hoàn thiện pháp
luật thực hành quyền công tố ở Việt Nam. Vì vậy có một số điểm mới sau:
5
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về quyền công tố; thực hành quyền
công tố; khái niệm, các tiêu chí hoàn thiện pháp luật về thực hành quyền công
tố.
- Chỉ ra những ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân của pháp luật và
áp dụng pháp luật thực hành quyền công tố.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thực hành quyền
công tố ở Việt Nam hiện nay.
7. Ý nghĩa của luận văn
- Kết quả luận văn góp phần làm sáng tỏ, phong phú thêm lý luận về
pháp luật nói chung và lý luận hoàn thiện pháp luật về thực hành quyền công
tố nói riêng.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu cho việc nghiên cứu và hoàn thiện
pháp luật về thực hành quyền công tố đối với các nhà hoạch định chính sách,
xây dựng luật và những ai quan tâm đến vấn đề này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương 8 tiết.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH
TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM, NỘI DUNG, VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
1.1.1. Khái niệm pháp luật về thực hành quyền công tố của Viện
kiểm sát
1.1.1.1. Khái niệm quyền công tố
Trên thế giới, “quyền công tố” đã xuất hiện từ thời kỳ xa xưa của xã
hội loài người. Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất
của Nhà nước, là một bộ phận cấu thành và không thể tách rời khỏi công
quyền. Quyền công tố có trong tất cả các kiểu Nhà nước; nó ra đời, tồn tại và
mất đi cùng với Nhà nước và pháp luật. Khi mới có Nhà nước, quyền công tố
chỉ giới hạn trong phạm vi rất hẹp để bảo vệ các lợi ích của giai cấp thống trị.
Cùng với sự phát triển của xã hội, nhận thức về lợi ích công và lợi ích tư, về
trách nhiệm của Nhà nước đối với xã hội và cá nhân ngày càng có những thay
đổi: Lợi ích cá nhân liên quan đến lợi ích công, tác động qua lại với nhau;
chính vì vậy, cần có sự can thiệp của Nhà nước vào đời sống của cá nhân. Từ
đó, vai trò công tố càng được đề cao trong xã hội.
Tại Việt Nam, khoa học Luật tố tụng hình sự nói riêng cũng như khoa
học pháp lý nói chung, chế định “quyền công tố” chưa được nghiên cứu một
cách toàn diện; chính vì vậy, chưa có khái niệm chính thống về quyền công
tố. Mặc dù vậy, quyền công tố là một quyền năng quan trọng đã được Viện
công tố thực hiện ở nước ta từ năm 1945; từ 1960 đến nay do Viện kiểm sát
nhân dân thực hiện. Tuy nhiên, hiểu thế nào là “công tố”, “quyền công tố”,
bản chất và nội dung của nó là gì, thì hiện nay vẫn chưa có nhận thức, quan
điểm thống nhất chung.
7
Có quan điểm cho rằng, công tố là “hoạt động tố tụng đối với các vụ án
mà trong đó động chạm trực tiếp hay gián tiếp đến các lợi ích của Nhà nước
khi mà người đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi phạm pháp luật” [8].
Theo từ điển tiếng Việt, công tố có nghĩa là “điều tra, truy tố và buộc
tội kẻ phạm pháp trước Toà án” [50, tr.204].
Từ điển luật học lại ghi: Công tố "là quyền của Nhà nước truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội" [51, tr.188].
Thuật ngữ "quyền công tố" lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp
năm 1980; sau đó tại Hiến pháp năm 1992, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1998,
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật tổ chức Viện KSND năm 1981, Luật
tổ chức Viện KSND năm 1992, Luật tổ chức Viện KSND năm 2002, Pháp
lệnh kiểm sát viên năm 2002
Từ điển luật học định nghĩa về quyền công tố như sau: "Quyền công tố
là quyền buộc tội nhân danh Nhà nuớc đối với người phạm tội" [50, tr.188].
Hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào của Nhà nước giải thích chính
thức nội dung quyền công tố. Có nhiều quan điểm khác nhau về nội dung,
lĩnh vực cũng như phạm vi chủ thể tham gia thực hành quyền công tố. Nhưng
về nội dung và phạm vi thực hành quyền công tố (những yếu tố cấu thành
quyền công tố) là những yếu tố không thể thay đổi ở bất kỳ quốc gia nào.
Nghiên cứu các tài liệu hiện hành có thể thấy một số quan điểm về
quyền công tố như sau:
- Quan điểm thứ nhất đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động
kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân (trước khi Hiến
pháp năm 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001). Quan điểm này xuất phát từ
chức năng của Viện kiểm sát nhân dân để xem xét quyền công tố; theo đó, tất
cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là thực hành quyền
công tố. Có nghĩa là ngay cả khi Viện kiểm sát kiến nghị, yêu cầu các cơ quan
nhà nước khắc phục, sửa chữa những sai phạm của mình trên các lĩnh vực
hành chính, kinh tế, xã hội thì đó cũng là hoạt động thực hành quyền công tố.
Quan điểm này cho rằng công tố không phải là một chức năng độc lập của
8
Viện kiểm sát, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức hoạt động chức năng
kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Đây là quan điểm khá phổ biến, đặc biệt là
trong ngành Kiểm sát nhân dân từ năm 1960 cho đến khi Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân năm 2002 được ban hành. Cơ sở lập luận của quan điểm
này chủ yếu dựa vào nội dung các điều luật được quy định trong Hiến pháp
năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
1981 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992. Mặt khác, quan điểm
này cũng chịu ảnh hưởng của các nhà tố tụng hình sự Liên Xô trước đây.
Khái niệm quyền công tố theo quan điểm trên là chưa chính xác, vì đã
đánh đồng quyền công tố với quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đồng
thời cũng không phù hợp với các quy định của Hiến pháp và các Luật. Theo
quy định của pháp luật nước ta trước khi Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi
thì Viện kiểm sát có hai chức năng: Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp
luật và chức năng thực hành quyền công tố. Hai chức năng có một số nội
dung đan xen, liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau, nhưng về nội
dung và phạm vi áp dụng thì giữa chúng vẫn có sự độc lập với nhau. Vì vậy
không thể đồng nhất hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc
tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát.
- Quan điểm thứ hai cho rằng quyền công tố là quyền của Nhà nước
giao cho Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Toà án, thực hiện sự buộc tội tại
phiên toà (Thực hành quyền công tố). Quan điểm này cho rằng việc thực hiện
quyền công tố chỉ diễn ra trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự.
Quan điểm này quá thu hẹp khái niệm, nội dung cũng như phạm vi của
quyền công tố. Về lý luận cũng như trên thực tế, hoạt động thực hành quyền
công tố của Viện kiểm sát tại Toà án chỉ là một bộ phận trong nhiều hoạt
động thực hiện chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát.
- Quan điểm thứ ba cho rằng quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà
nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật. Quan điểm này cho rằng quyền
công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên
9
trong tố tụng hình sự; cùng với sự phát triển của xã hội và của các ngành luật,
quyền công tố được mở rộng sang các lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động.
Theo quan điểm này thì nội dung quyền công tố là tổng hợp các biện pháp
pháp lý đặc trưng theo luật định mà Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hiện
trong hoạt động tố tụng tư pháp; quyền công tố là một nội dung của hoạt động
chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng
dân sự và các lĩnh vực tư pháp khác, nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm
pháp luật, hành vi phạm tội đều bị phát hiện, điều tra, xử lý theo pháp luật,
không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng cường pháp chế
thống nhất.
Đây là quan điểm được đưa vào chương trình giảng dạy chính thức của
Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội và thường xuyên được nhắc đến trong các
văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, các chuyên đề tổng kết trước đây của ngành
Kiểm sát. Quan điểm này quá mở rộng quyền công tố, dẫn đến xoá nhoà ranh
giới và tính đặc thù giữa tố tụng hình sự và các lĩnh vực tố tụng khác; đồng
nhất quyền công tố với các quyền năng khác của Viện kiểm sát trong quá
trình giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động.
- Quan điểm thứ tư cho rằng quyền công tố là quyền của Nhà nước giao
cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và
áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội. Đó là hoạt động tố tụng
của Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác được pháp luật quy
định có trách nhiệm xác định kẻ phạm tội cũng như các căn cứ để kết tội và
áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội.
Quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc
tố tụng hình sự đã được thừa nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới. Theo đó,
mọi tội phạm xảy ra đều xâm phạm đến các lợi ích chung của toàn xã hội, do
đó kẻ phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị trừng trị bằng các
chế tài hình sự. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối
với người phạm tội được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền,
đó là Cơ quan điều tra, Cơ quan công tố, Cơ quan xét xử và Cơ quan thi hành
10
án. Như vậy, Toà án, Cơ quan thi hành án cũng là chủ thể thực hành quyền
công tố. Quan điểm này đã xoá nhoà ranh giới giữa các chức năng buộc tội và
chức năng xét xử trong tố tụng hình sự.
- Quan điểm thứ năm cho rằng quyền công tố bao gồm quyền khởi tố,
điều tra vụ án, quyền truy tố và buộc tội bị cáo trước Toà án. Đại diện cho
quan điểm này là các luật gia theo truyền thống pháp luật của Pháp. Theo họ,
quyền công tố luôn gắn liền với hoạt động buộc tội nhân danh Nhà nước
(nhân danh công quyền). Do vậy quyền công tố chỉ được thực hiện trong một
lĩnh vực duy nhất, đó là lĩnh vực tố tụng hình sự. Chủ thể tham gia vào hoạt
động thực hành quyền công tố chỉ bao gồm Cơ quan điều tra (Điều tra viên)
và Cơ quan công tố (Công tố viên). Riêng quyền truy tố kẻ phạm tội ra Toà và
thực hành quyền buộc tội nhân danh Nhà nước tại phiên toà chỉ thuộc về Cơ
quan công tố. Quyền công tố được sử dụng để bảo vệ không chỉ các lợi ích
công (lợi ích chung của toàn xã hội), mà cả lợi ích của cá nhân khi bị hành vi
phạm tội xâm hại.
- Quan điểm thứ sáu cho rằng công tố là sự cáo buộc của Nhà nước đối
với các cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật, bao gồm vi phạm Luật hành
chính, Luật dân sự, Luật kinh tế và Luật hình sự; quyền công tố là quyền của
Nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó. Theo quan điểm này, quyền công tố chỉ
thuộc Nhà nước; Nhà nước không thể không thực hiện quyền công tố khi
chính Nhà nước là người ban hành pháp luật, người có nhiệm vụ bảo vệ pháp
luật, và đồng thời là chủ thể tham gia vào nhiều quan hệ pháp luật khác nhau.
Với tính cách là một quyền năng của Nhà nước, quyền công tố được thực hiện
trong tất cả các quá trình giải quyết các vi phạm pháp luật: Tố tụng hình sự, tố
tụng dân sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động, tố tụng hành chính. Sự tồn tại
quyền công tố trong các hoạt động tố tụng nêu trên là do nhu cầu khách quan,
vì Nhà nước không thể không thực hiện quyền lực của mình trong việc giải
quyết các vi phạm pháp luật và sự hiện diện công tố như một điều kiện bảo
đảm tính hiệu quả của việc giải quyết các vi phạm pháp luật của cơ quan tài
phán. Như vậy, quyền công tố trong các hoạt động tố tụng được biểu hiện cụ
11
thể ở các quyền của Viện kiểm sát như quyền khởi tố vụ án (dân sự, hành
chính, hình sự, lao động), quyền tham gia tố tụng ở bất cứ giai đoạn nào khi
xét thấy cần thiết, quyền yêu cầu Toà án hoặc tự mình điều tra, xác minh
những vấn đề cần làm sáng tỏ trong vụ án…Quyền công tố trong các hoạt
động tố tụng khác nhau thì không giống nhau về nội dung và hình thức thực
hiện. Trong tố tụng hình sự, thực hiện quyền công tố có nghĩa là Nhà nước
thực hiện sự buộc tội đối với một con người phạm tội cụ thể, còn trong các
hoạt động tố tụng khác, thực hành quyền công tố được hiểu là việc Nhà nước
trực tiếp hay gián tiếp quy lỗi cho một người, một pháp nhân nào đó vi phạm
pháp luật tương ứng.
- Quan điểm thứ bảy cho rằng, quyền công tố là quyền của Nhà nước
đưa các việc làm vi phạm pháp luật liên quan đến lợi ích chung ra Toà để xét
xử, vì Nhà nước nhân danh xã hội duy trì trật tự chung bằng pháp luật. Sự can
thiệp của Nhà nước vào các việc phạm pháp nói trên là do nhu cầu duy trì mọi
xung đột xã hội gắn với trật tự công cộng mà trách nhiệm của Nhà nước phải
đứng ra điều hoà; đó là bản chất của quyền lực công. Quyền công tố là quyền
Nhà nước nhân danh xã hội truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những người
có hành vi phạm tội hoặc hành vi vi phạm pháp luật, nhằm mục đích duy trì
trật tự của cộng đồng, trật tự pháp luật, củng cố và phát triển các quan hệ xã
hội. Như vậy quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực hình sự, mà còn có
cả trong dân sự, hành chính, kinh tế, lao động.
Quan điểm thứ sáu và thứ bảy coi mọi việc đưa ra Toà án để giải quyết
đều là do vi phạm pháp luật (liên quan đến trật tự xã hội chung). Trong thực
tiễn, hoạt động của Toà án và Viện kiểm sát không phải lúc nào cũng nhằm
truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với một người nào đó, mà có những trường
hợp chỉ nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân. Ví dụ Viện kiểm sát khởi tố vụ án dân sự, hành chính, lao động vì
lợi ích chung hoặc liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa
thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần…Hoạt động trên
của Viện kiểm sát hoàn toàn không phải là hoạt động thực hành quyền công
12
tố, mà chỉ là hoạt động nhằm thực hiện các thẩm quyền luật định của Viện
kiểm sát.
- Quan điểm thứ tám cho rằng, Công tố quyền là quyền được hành xử
nhân danh xã hội, vì lợi ích chung cho xã hội, với mục đích là Toà án tuyên
một hình phạt đối với người phạm pháp. Đại diện cho quan điểm này là các
luật gia miền Nam nước ta trước năm 1975. Theo quan điểm này thì "hành vi
đưa các phạm nhân ra Toà để xét xử là sự truy tố. Cái quyền truy tố ấy là
công tố quyền, vì là quyền của cộng đồng xã hội trừng trị kẻ phạm pháp qua
các đại diện của xã hội và các Thẩm phán được giao phó nhiệm vụ xử hành
công tố quyền là những Thẩm phán công tố” [48,tr.6]. Họ phân biệt rõ khái
niệm công tố quyền và dân tố quyền. Một tội phạm hình sự xảy ra, phát sinh
tố quyền; tố quyền này nhân danh xã hội yêu cầu Toà án tuyên phán một biện
pháp chế tài hình sự đối với vi phạm trật tự xã hội do tội phạm gây ra; đây gọi
là công tố quyền. Nhưng tội phạm có thể làm phát sinh bên cạnh công tố
quyền một tố quyền của tư nhân bị tội phạm gây thiệt hại, đó là quyền yêu cầu
Toà án buộc kẻ phạm tội bồi thường thiệt hại cho mình; đó là dân tố quyền
theo các luật gia miền Nam. Về bản chất, quyền công tố thuộc về xã hội; do
đó phạm vi quyền công tố chỉ giới hạn trong tố tụng hình sự và trước Toà án.
Những quan điểm nêu trên về quyền công tố đều có sự hợp lý ở những
khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên mỗi quan điểm đều có những nội dung còn
bất cập, thể hiện:
- Hoặc là đánh đồng quyền công tố với các chức năng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát, dẫn đến mở rộng phạm vi quyền công
tố vượt khỏi lĩnh vực tố tụng hình sự sang các lĩnh vực tư pháp khác như dân
sự, hành chính, kinh tế, lao động.
- Hoặc là coi quyền công tố chỉ là một quyền năng, một hình thức thực
hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, dẫn
đến việc xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là hoạt động độc lập của
Viện kiểm sát nhân danh quyền lực công.
13
- Hoặc là quá thu hẹp phạm vi quyền công tố, coi quyền công tố là
quyền của Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Toà án và thực hiện việc buộc
tội tại phiên toà hình sự sơ thẩm.
Mặt khác, các quan điểm đó đều có hạn chế là không phân định rõ
ràng khái niệm, bản chất, nội dung, phạm vi quyền công tố, hoạt động thực
hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Nhiều
quan điểm cho rằng hai chức năng của Viện kiểm sát (công tố và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật) vừa có tính độc lập tương đối, vừa liên hệ chặt chẽ,
tác động qua lại, bổ sung cho nhau, giữa chúng có những nội dung xâm nhập,
đan xen lẫn nhau không thể tách rời; tạo nên sự thống nhất trong chức năng
của Viện kiểm sát.
Bên cạnh đó, để đưa ra được quan niệm đúng về quyền công tố, cần
phải xem xét nó trong mối liên hệ với tính đặc thù của một lĩnh vực pháp luật cụ
thể. “Quyền công tố chỉ có thể được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp
luật mà từ cội nguồn lịch sử của nó đã gắn liền, không thể tách rời với việc nhân
danh Nhà nước (nhân danh công quyền) chống lại hình thức vi phạm pháp luật
nghiêm trọng (tội phạm), đó là lĩnh vực tố tụng hình sự” [46, tr.37]. Tội phạm là
vi phạm pháp luật nguy hiểm nhất; kẻ phạm tội xâm phạm trước hết đến lợi
ích của Nhà nước, lợi ích xã hội (an ninh, trật tự xã hội), sau đó mới đến lợi
ích của người bị hại. Nhà nước nhân danh xã hội dành cho mình quyền trừng
trị kẻ phạm tội.
Còn tố tụng dân sự thì đối tượng của nó là các tranh chấp dân sự liên
quan đến lợi ích của từng cá nhân. Một trong những nguyên tắc đặc thù của tố
tụng dân sự là nguyên tắc tự định đoạt của các đương sự. Ý chí, lợi ích, sự tự
thoả thuận của các đương sự quyết định sự xuất hiện, vận động và chấm dứt
hoạt động tố tụng. Trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh trước hết thuộc
về các đương sự; trong khi cốt lõi của tố tụng hình sự là hoạt động của các cơ
quan tiến hành tố tụng nhằm phát hiện, khám phá tội phạm, xác định và xử lý
kẻ phạm tội.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét