trong quá trình tâm lí, tri giác, t duy Cho nên việc tạo cho trẻ đ ợc phát triển ngôn
ngữ thông qua việc trẻ đợc nghe kể và diễn đạt lời nói của mình là rất cần thiết.
Trò chơi đóng kịch góp phần phát triển trí tuệ, tính đọc lập sáng tạo và tính tích
cực cá nhân. có tác dụng trực tiếp đến phát triển ngôn ngữ , trong quá trình đóng
kịch các nhân vật đối thoại với nhau nó sẽ phát triển ngôn ngữ độc thoại. Tạo cho trẻ
có một khoảng không gian rất rộng lớn về mặt sáng tạo, nên trẻ cần phải có ngôn
ngữ biểu cảm mạch lạc, t duy, tởng tợng, trí nhớ cũng đợc phát triển .
+ Nhờ có ngôn ngữ trong giao tiếp mà hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ:
Sự phát triển ngôn ngữ là cơ sở, là nền móngcủa sự phát triển trí dục, sự phát triển
trí tuệ của trẻ diễn ra khi trẻ lĩnh hội những tri thức đầu tiên về hiện tợng xung
quanh và học tiếng mẹ đẻ, tri giác trực tiếp xung quanh các giác quan ( các bộ máy
phân tích) và dùng từ chỉ các tri giác đợc làm cho tri giác sâu sắc và thể hiện đợc
mối quan hệ qua lại giữa hệ thống tín hiệu thứ nhất và hệ thống tín hiệu thứ hai.
Từ ngữ không những chỉ một tri giác cụ thể mà còn khái quát và là phơng tiện giữ
gìn, truyền đạt kinh nghiệm tri thức mà loài ngời thu thập đợc Tiếng mẹ đẻ là cơ sở
của sự phát triển trí tuệ và là vốn quí của mọi tri thức
- KĐ.USINXKI-
Khi tổ chức tri giác trực tiếp cô giáo dùng từ để hớng dẫn trẻ chú ý vào cái chính,
cái chủ yếu nhờ vậy mà trẻ tri giác đầy dủ hơn, sâu sắc hơn qua từ ngữ cô giáo
truyền đạt những tri thức khác nhau và hình thành cho trẻ thái độ đúng dắn với các
hiện tợng xung quanh cuộc sống, cô giáo dạy trẻ dùng từ ngữ để diễn đạt ý nghĩa
yêu cầu một cách rõ ràng ngắn gọn để kể lại những điều đã nhìn thấy, nghe thấy và
sờ thấy Dạy tiếng mẹ đẻ (ngôn ngữ ) cô giáo trang bị cho trẻ những vốn từ bằng
cách cho trẻ tiếp xúc với văn học . Trẻ học đợc ở đó biết bao từ ngữ mới mà trong
cuộc sống bình thờng trẻ ít hoặc không hề bết mà sử dụng ( chẳng hạn các từ tợng
hình, tợng thanh, từ láy) sự mở rộng nhận thức bao giờ cũng gắn chặt với mở rộng
vốn từ, bởi vì từ là hình tợng biểu đạt của khái niệm. Trong quá trình cô giáo cho trẻ
đóng kịch giúp trẻ luyện tập cách phát âm đúng nh không nói ê, a, không nói lắp,
không nói ngọng, không nói đứt, nói rõ ràng có biểu cảm
+ Ngôn ngữ là phơng tiện giáo dục đạo đức cho trẻ:
Thông qua ngôn ngữ trẻ nhận thức đợc thế giới xung quanh nhận ra vẻ đẹp của quê
hơng đất nớc, qua bài thơ thông qua các nhân vật, trong các tác phẩm trẻ nhận thức
đợc các khái niệm đạo đức, trẻ bộc lộ tình cảm đúng mực đối với các nhân vật và lấy
đó làm bài học cho hành vi đạo dức của mình. Mợn các nhân vật cậu bé, cô bé,
(phiếm chỉ) những con vật nh gà, mèo, chó, vịt, gấu các nhà văn nhà thơ đã gửi
đến trẻ những bài học giáo dục đạo đức rất nhẹ nhàng, nhng sâu sắc
Các truyện nh dê con nhanh trí Ba cô gái Chú vịt xám cô bé quàng khăn
đỏ đã cho trẻ hiểu sự cần thiết phải vâng lời cha mẹ, trẻ cảm nhận đ ợc tình thơng
yêu, sự chăm sóc của ông bà, cha mẹ đối với trẻ và ngợc lại tình cảm của trẻ yêu qúi
ông bà cha mẹ từ ngôn ngữ của cô đọc kể cho trẻ nghe những bài theo câu truyện
đã đem đến cho trẻ bài học về tình bạn, cần phải thân ái, qúy trọng bạn biết giúp bạn
khi bạn gặp khó khăn đó là mầm mống của tình bạn, tình đồng chí sau này. Tình
cảm đối với anh chị em trong gia đình
+ Ngôn ngữ là phơng tiện giáo dục thẩm mỹ :
Thông qua ngôn ngữ trẻ cảm nhận đợc cái đẹp của thế giới xung quanh: qua từ ngữ
chính xác, gợi cảm, những bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc đợc thể hiện trong bài
thơ câu truyện, trẻ cảm nhận đợc cái hay, cái đẹp trong xã hội, trong tự nhiên đồng
thời phải giáo dục trẻ biết tôn trọng giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên. Trẻ hiểu đợc cái
hay cái đẹp trong hiện thực và cái đẹp của chính ngôn ngữ tác phẩm , làm cho tâm
hồn trẻ thơ bay bổng, trí tởng tợng phong phú, sáng tạo nên cái đẹp, khao khát cái
đẹp và tình cảm thẩm mỹ sau này cho trẻ.
ở độ tuổi 5-6 tuổi ngôn ngữ của trẻ tơng đối phát triển song vẫn còn cha chính
xác, nhiều trẻ còn nói ngọng, diễn đạt cha mạc lạc biểu cảm vẫn còn hạn chế sở dĩ
có tình trạng này là do sự hớng dẫn của ngời lớn cha rõ ràng. đặc điểm ngôn ngữ của
trẻ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cơ bản khả năng diến đạt còn hạn chế, sự phát
triển các yếu tố tâm lí của trẻ ở độ tuổi này có nhu cầu giao tiếp bằng ngôn ngữ lớn,
để thỏa mãn nhu cầu này trẻ phải tích cực học hơn, không những vậy, ngôn ngữ
cong có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách cho trẻ: Ngôn ngữ
ra đời nhằm phục vụ cho xã hội, ngôn ngữ giúp cho con ngời trao đổi những tâm t,
tình cảm bộc lộ mối quan hệ của con ngời.
Chính vì vậy phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ mẫu giáo 5-6
tuổi nói riêng thông qua dạy trẻ nói đúng ngữ pháp khả năng diến dạt biểu cảm là rất
quan trọng. Ngôn ngữ của trẻ phát triển là tiền đề vững chắc cho mọi hoạt động,
nhận thức sau này của trẻ.
2. Cơ sở thực tiễn.
Thực tiễn ở trờng mầm non rất quan tâm đến vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ
trong đó có việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua việc dạy trẻ nói
đúng cấu trúc ngữ pháp và khả năng diễn đạt lu loát biểu cảm là một biện pháp và h-
ớng đi cụ thể tiếp cận ngôn ngữ một cách dễ dàng
Khi dạy trẻ nói đúng cấu trúc ngữ pháp thì điều trẻ định nói ra đã biết suy nghĩ rõ
ràng mạch lạc ngay từ trong đầu đến t duy trí tuệ của trẻ đợc phát triển từ đó giúp
trẻ cảm thụ đợc sự giàu có của ngôn ngữ, nắm đợc phơng tiện thể hiện ngôn ngữ ,
lĩnh hội sự phong phú của tiếng mẹ đẻ, tất cả điều đó tạo tiền đề phát triển ngôn ngữ
của trẻ. Chính vì thế việc dạy trẻ nói đúng cấu trúc ngữ pháp và diễn đạt mạch lạc
biểu cảm cho trẻ ngày càng quan tâm hơn nữa để vốn từ của trẻ tăng lên nhanh
chóng đạt hiệu quả cao trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ.
Quá trình đi thực hành thờng xuyên và tham quan ở một số trờng mầm non , tôi
thấy ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi phát triển cha đồng đều giữa giữa những trẻ
đợc đến trờng và cha đợc đến trờng. Khi giao tiếp trẻ cha thể hiện đúng ngữ điệu của
lời nói, nhiều trẻ nói thiếu mạch lạc, ấp úng, nói ngọng, nói không đủ câu, dùng từ
cha chính xác dẫn đến nói năng cha lu loát biểu cảm. Những trẻ nhút nhát, ít tiếp
xúc với bạn bè, kém hiếu động vốn từ bị hạn chế, nghèo nàn, diến đạt câu ngữ điệu
còn kém. Thực tế việc phát triển ngôn ngữ , khả năng diễn đạt biểu cảm ở ngoài xã
hội, trẻ nói hay trống không và rời rạc. Một phần ở gia đình bố mẹ bận công việc,
nhiều ngời cha hiểu tầm quan trọng phát triển ngôn ngữ ở lứa tuổi này, ở trờng cô
giáo cha chú trọng đến việc nói đúng câu sửa sai cho trẻ dẫn đến tình trạng trẻ hay
nói trống không, nói câu cụt cha thể hiện đợc rõ ý của mình, ngôn ngữ biểu cảm còn
nhiều hạn chế, bởi thực tế cô giáo mầm non còn ngại việc dạy trẻ đóng kịch thông
qua nội dung tác phẩm văn học vì khâu chuẩn bị hơi rích rắc và chuẩn bị mất nhiều
thời gian nên giáo viên thờng cắt xén không cho trẻ đóng kịch đó cũng là một thực
tế kìm hãm sự phát triển ngôn ngữ t duy- biểu cảm ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
Qua hai cơ sở trên, tôi thấy rằng việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là việc làm hết
sức quan trọng và cấp thiết, nó phục vụ cho cuộc sống hàng ngày, là cơ sở để sau
này cho trẻ lĩnh hội tri thức ở trờng phổ thông đợc thuận lợi hơn. Là điều kiện để
giao tiếp ngoài xã hội
Vì vậy cần có kế hoạch dạy trẻ đúng đắn, khoa học để có khả năng tự mình diễn
đạt có biểu cảm về ý kiến của trẻ. để giúp trẻ bớt đi những khó khăn trong giao tiếp.
Nên tôi chọn đề tài này Một số biện pháp rèn luyện khả năng diến đạt biểu cảm
cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. Qua việc dạy trẻ đóng kịch.
II. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này là nhằm đa ra và hệ thống hóa một
số biện pháp xây dựng cơ sở lý luận cho tiết học. Dạy trẻ kể lại truyện cụ thể là
rèn luyện khả năng diến đạt biểu cảm thông qua việc dạy trẻ đóng kịch cho trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu:
1. Tìm hiểu thực tế:
Tình hình phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trờng mầm non Hoa
Hồng- Yên Hng. Để thấy đợc mức độ phát triển ngôn ngữ cuat trẻ ở độ tuổi này đạt
kết quả đến đâu?
2. Tìm hiểu nguyên nhân.
Nắm đợc nguyên nhân tại sao ngôn ngữ của trẻ ở độ tuổi này lại bị hạn chế.
3. Đề ra ph ơng pháp thích hợp
Phơng pháp giáo dục thích hợp để cho trẻ có khả năng phát triển ngôn ngữ mạch
lạc biểu cảm .
IV. Phơng pháp nghiên cứu:
1- Tập hợp t liệu, phân tích, chọn lọc rút ra những cơ sở lý luận cần thiết liên
quan đến đề tài.
2- Nghiên cứu tài liệu tâm lí học lứa tuổi để hiểu biết đợc đặc điểm của trẻ.
3- Phơng pháp thực nghiệm: (điều tra thực trạng)
- Thực nghiệm đối chứng
- Thực nghiệm hình thành.
V. Đối tợng nghiên cứu:
Khả năng diến đạt có biểu cảm của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và hứng thú của trẻ
trong quá trình đóng kịch.
VI. Khách thể nghiên cứu:
Khả năng vận dụng một số biện pháp vào việc dạy trẻ đóng kịch cũng nh khả năng
tiếp thu, lĩnh hội tri thức đó là khả năng diễn đạt biểu cảm thông qua việc đóng kịch.
VII. Giả thuyết khoa học:
Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở thời kỳ này ngôn ngữ đang phát triển mạnh và ngày càng
phong phú có hiệu quả diễn đạt mạch lạc biểu cảm hơn nếu chúng ta sử dụng trò
chơi đóng kịch có nội dung của tác phẩm văn học phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí
của trẻ, đặc biệt là hấp dẫn của chính trò chơi chứ không phải là sự áp đặt khiến trẻ
kìm hãm sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, các nhà s phạm có thể tìm tòi hệ thống hóa
một số biện pháp từ đó xây dựng lí luận cho tiết học để đạt đợc yêu cầu và mục đích
của giáo dục .
Phần II: Nội dung
Chơng I : Cơ sở lý luận của đề tài
I. Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo liên quan đến việc tiếp nhận tác
phẩm văn học thông qua trò chơi đóng kịch:
1- T duy :
- Khái niệm t duy: T duy là quá trình nhân thức, phản ánh những thuộc tính, bản
chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tợng trong thế giới
khách quan mà trớc đó ta cha biết.
Những nhà sinh học và giải phẫu học cho biết cơ sở vật chất của đời sống trẻ phụ
thuộc vào não và hoạt động thần kinh cao cấp. Hoạt động thần kinhcủa trẻ em đợc
đảm bảo bởi sự trởng thành về giải phẫu hình thái và chức năng của hệ thần kinh đặc
biệt là của bán cầu đại não. Sự trởng thành ấy diễn ra mãnh liệt nhất ở thời kíơ sinh
và giai đoạn mẫu giáo và nó có ảnh hởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển t
duy của trẻ.
ở lứa tuổi mẫu giáo t duy của trẻ có một bớc ngoặt rất cơ bản. T duy ở trẻ mẫu
giáo đợc hình thành và đang phát triển với các tốc độ khác nhau, đặc biệt sự phát
triển t duy trực quan hình ảnh phát triển mạnh nhất nổi trội nhất chiếm u thế trong
hoạt động vui chơi của trẻ. ở lứa tuổi mẫu giáo 5-6 tuổi xuất hiện kiểu t duy trực
quan hình tợng mới và những yếu tố của kiểu t duy lô gic.
Sự phát triển t duy lô gic giúp cho trẻ lĩnh hội đợc những tri thức, những kí hiệu
ngôn ngữ toán học, âm nhạc, nghệ thuật tạo hình, văn học Ngôn ngữ ở lứa tuổi
này thực sự là công cụ tâm lý để kích thích sự phát triển t duy cho trẻ. Vì vậy nhiệm
vụ của cô giáo khi dạy trẻ kể lại truyện, đặc biệt là tái tạo lại câu chuyện khi ngời
khác xem hiểu đợc, chính là con đờng giúp trẻ tiếp nhận tác phẩm văn học có hiệu
quả nhất. Ngôn ngữ của nhân vật kịch thờng có hình thức phong phú và nội dung
đặc sắc, nhân vật kịch không chỉ trò chuyện với nhau bằng ( ngôn ngữ đối thoại) mà
còn nói về mình ( bằng ngôn ngữ độc thoại) để phát triển , rền luyện khả năng
diễn đạt lu loát biểu cảm ở trẻ.
2. Ngôn ngữ :
Ngôn ngữ là hình tợng xuất hiện ở cá thể trong quá trình sống, hoạt động trong xã
hội. đó là quá trình mỗi cá thể vận dụng ngôn ngữ chng để biểu đạt ý nghĩa, t tởng,
tìnhcảm, thái độ của mình với sự vật và hiện tợng cũng nh hiểu ý nghĩa, t tởng tình
cảm của ngời khác. Ngôn ngữ của mỗi cá nhân phát triển cùng với năng lực nhận
thức của ngời đó và bao giờ cũng mang dấu ấn của những đặc điểm tâm lý riêng.
Lứa tuổi mẫu giáo là thời kì bộc lộ tính nhạy cảm cao nhất với các hiện tợng trong
ngôn ngữ điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độ khá nhanh. ở
tuổi mẫu giáo lớn nếu nh nói năng ấp úng, pháp âm ngọng, vốn từ nghèo nàn đến
mức độ không đủ để diễn đạt những điều mà mình cần nói. Không sử dụng đợc ngữ
pháp để nói mạch lạc cho mọi ngời hiểu mình và hiểu đợc lời ngời khác nói thì có
thể đứu trẻ đó vào loại trí tuệ chậm phát triển. Chỉ trong trờng hợp bộ máy phát âm
của trẻ bị tổn thơng, hay chịu ảnh hởng của lời nói ngọng của lớn của ngời lớn trong
địa phơng thì trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi mới phạm nhiều lỗi trong việc nắm ngữ âm của
tiếng mẹ đẻ. Trẻ mẫu giáo lớn đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội
dung hay nội dung của câu chuyện mà trẻ kể Trẻ thờng dùng ngữ điệu êm ái để biểu
thị tình cảm yêu thơng trìu mến. Ngợc lại khi giận dữ trẻ lại dùng ngữ điệu thô
mạnh. Khả năng này đợc thể hiện khá rõ khi trẻ kể những câu chuyện mà mình thích
cho ngời khác nghe. Tính sáng tạo ra những từ ngữ, tính tích cực cao đối với ngôn
ngữ của trẻ mẫu giáo lớn diễn đạt có biểu cảm đặc biệt đợc thể hiện ró ràng trong
khi trẻ đóng kịch.
Trong quá trình cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học cô giáo cần chú ý tới đặc
điểm phát triển ngôn ngữ ở lứa tuổi này mà giúp trẻ đóng kịch lại một câu chuyện,
một tác phẩm nào đó mang lại kết quả cao khi điến đạt ngôn ngữ .
3. T ởng t ợng
Tởng tợng là quá trình nhận thức phản ánh những cái cha có trong kinh nghiệm
bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những hình ảnh ( biểu tợng đã
có)
Đối với trẻ em những gì làm xúc động mạnh mẽ là phơng tiện duy nhất để làm cho
trí tởng tợng và tính nhạy cảm phải hoạt động, có thể nói trí tởng tợng của mẫu giáo
đã phát triển mạnh mẽ, gặp sự tởng tợng trong các loại hình văn học nghệ thuật sẽ là
sự gặp gỡ phù hợp làm bừng sáng lên những tia lửa điện hồ quang, làm dễ dàng sự
tiếp nhận tác phẩm văn học mà đặc biệt là ở trẻ mẫu giáo phát triển trí tởng tợng cực
cao khi phải nhập vai, đóng đúng vai thể hện nhân cách sao cho thật giống với nhân
vật trong truyện.
Nhng dù kết quả của tởng tợng có mới mẻ độc đáo thế nào đi nữa thì các chất liệu
của nó cũng bắt nguồn từ hiện thực bởi trí tởng tợng có đợc nhờ ở vốn tri thức văn
hoá kinh nghiệm sống. Văn học góp phần trong phát triển trí tởng tợng của trẻ. Vì
vậy việc dạy trẻ đóng kịch tái tạo lai tác phẩm văn học để phát triển ngôn ngữ biểu
cảm vô cùng quan trọng. Qua đó nhà s phạm cần phát huy những gì đã có và phải
cung cấp cho trẻ các biểu tợng,các khả năng diến đạt lu loát, biểu cảm thông qua
dạy trẻ đóng kịch.
4. Chú ý trí nhớ:
Chú ý là quá trình định hớng các quá trình tâm lý khác. Chú ý là xu hớng và là sự
tập trung của chú ý vào một đối tợng xác định. Chú ý đợc coi nh sự tổ chức, định h-
ớng hoạt động tâm lý vì khi ta đợc coi nh sự tổ chức, định hớng hoạt động tâm lý vì
khi ta chú ý đến cái gì thì qua quá trình tri giác t duy sẽ đ ợc nhận thức sâu hơn ,
rõ hơn.
Trí nhó là một quá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm của cá nhân dới hình
thức biểu tợng bao gồm sự ghi nhớ giữ và tái tạo sau đó ở trong óc, cái mà con ngời
đã cảm giác, tri giác, rung động, hành động hay suy nghĩ trớc đây.
Đặc điểm chú ý- trí nhớ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là chú ý có chủ định. Thuộc tính
của chú ý đợc phát triển mạnh nh sức tập trung chú ý- sức bền vững chú ý- sự phân
phối chú ý- sự di chuyển chú ý. Nh vậy ở lứa tuổi trẻ có tập trung chú ý hay phân
phối chú ý thì trẻ mới tiếp thu các tri thức hay hoạt động nghệ thuật đợc nhanh nhậy.
Đặc biệt là sự di chuyển chú ý đợc chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác, rất
phù hợp với việc đóng kịch cho trẻ dù nhập vai bất cứ một nhân vật nào trong tác
phẩm văn học trẻ không những phải tởng tợng mà còn ghi nhớ, chú ý cần đợc thể
hiện từ dáng đi, đứng tang phục, lời nói thể hiện đ ợc đúng tính cách khả năng diến
đạt ngôn ngữ phải lu loát biểu cảm thì ngời nhge mới hiểu đợc vở kịch mà trẻ đóng.
chính vì vậy đặc điểm chú ý sau chủ định của trẻ thờng đợc gắn vào các trò chơi đặc
biệt là trò chơi phân vai. Dựa vào đặc điểm này mà giáo viên dạy trẻ đóng kịch rất
thuận lợi để phát triển các loại trí nhớ các ký tự ngoài ra còn có trí nhớ dài hạn và
ngắn hạn; Mà hình thức dạy bài mới giáo viên kể cho trẻ nghe tác phẩm văn học mới
trẻ ghi nhớ và hình thức ôn bài cũ trẻ đóng kịch tái hiện lại tác phẩm đó là cô đã gợi
lại chú ý dài hạn cho trẻ.
5. Xúc cảm và tình cảm.
Xúc cảm- tình cảm đó là những thái độ cảm xúc của con ngời đối với những sự vật,
hiện tợng của hiện thực khách quan, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên hệ
với nhu cầu và động cơ của họ.
Tình cảm là sản phẩm cao cấp của sự phát triển các quá trình tình cảm trong
những điều kiện xã hội.
ở trẻ mẫu giáo lớn các loại tình cảm bậc cao đã đợc hình thành, đặc điểm chính là
những rung cảm, trẻ thể hiện thái độ cá nhân rõ ràng, rứt khoát đúng hoặc sai. Trong
những tình huống quen thuộc trẻ có khả năng làm chủ những biểu hiện phản ứng
hành vi xúc cảm của chính mình trẻ có thể kìm nén những xúc cản của trẻ chính
mình trẻ có thể kìm nén những xúc cảm của trẻ chính khả năng này tạo điều kiện
cho trẻ thích ứng chuẩn bị cho trẻ vào lớp một.
Tóm lại cấu trúc tâm lý tình cảm- cảm xúc ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đợc phát triển cả
về nội dung và hình thức các loại tình cảm và vai trò của tình cảm càng ngày càng tri
phối rõ nét hơn trong đời sống sinh hoạt của trẻ theo hớng từng bớc làm chủ các
hành vi xúc của mình.
Dựa vào đặc điểm tâm lý này mà giáo viên dạy trẻ đóng kịch thể hiện tình cảm-xúc
cảm của bản thân trẻ mà từ đó diễn đạt biểu cảm trong hoạt động cá nhân cũng nh
trong cuộc sống.
Chơng II : Tìm hiểu thực trạng việc dạy trẻ nói có biểu cảm qua
đóng kịch
I. Khái quát quá trình điều tra thực trạng dạy trẻ nói có biểu cảm qua đóng kịch
(5-6 tuổi)
1- Mục đích điều tra:
Để có cơ sở nghiên cứu các biện pháp dạy trẻ nói có biểu cảm thông qua việc đóng
kịch, chúng tôi tiến hành điều tra nhằm đánh giá thực trạng tình hình chung của việc
dạy trẻ nói có biểu cảm .
2- Trờng đợc điều tra:
Trờng mầm non Hoa Hồng- Huyện Yên Hng.
3- Nội dung điều tra:
Thăm dò ý kiến giáo viên về hình thức dạy trẻ nói có biểu cảm thông qua đóng
kịch của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
Việc soạn giáo án của giáo viên
Tình hình phát triển ngôn ngữ ở trẻmg 5-6 tuổi.
4- Phơng pháp điều tra:
Thăm dò ý kiến giáo viên bằng cách trả lời câu hói trong phiếu Ankét
Khảo sát khả năng phát âm và ngôn ngữ diến đạt có biểu cảm bằng cách kẻ bảng,
điều tra nhứng từ cần phát âm chuẩn ( đúng sai) và trả lời các câu hỏi nhiều từ, ít
từ
Sử dụng phơng pháp quan sát để điều tra. Chúng tôi đến từng lớp quan sát và dự
giờ ( cho trẻ đóng kịch )để xem xét cách tổ chức của giáo viên , đồng thời ghi chép
công tác chuẩn bị ở mức độ nào? việc soạn giáo án của giáo viên nh thế nào?
II. Phân tích kết quả điều tra:
1. Khảo sát để xác định khả năng của trẻ:
- Số trẻ đợc khảo sát : 30 cháu
- Nội dung khảo sát:
1.1. Phát âm:
Số trẻ phát âm tơng đối chuẩn: 35%
Số trẻ phát âm ngọng: 65%
1.2. Tập trả lời câu hỏi:
Số trẻ nói đợc câu dài lu loát biểu cảm: 30%
Số trẻ nói đợc câu từ 4-7 từ : 30%
Số trẻ nói đợc câu từ 7-10 từ : 40%
1.3. Trẻ đóng kịch :
Số trẻ biết thể hiện tính cách, diến đạt theo nội dung các nhân vật trong chuyện mà
trẻ đóng vai : 30%
Số trẻ nhận biết và nói đợc tên các nhân vật trong chuyện nhng hạn chế về cách
diến đạt : 455
Số trẻ nhận biết diến đạt tính cách nhân vật: 25%
III. Tình hình phát triển ngôn ngữ ở độ tuổi mẫu giáo 5-6 tuổi.(trờng mầm non
Hoa Hồng- Yên Hng)
Thực tế sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 tuổi còn cha đồng đều. Trẻ cha sử
dụng chính xác các từ của tiếng Việt, từ chỉ thời gian, cha hiểu hết ý nghĩa của từ
trong hoàn cảnh giao tiếp cho nên trẻ sử dụng cha đúng nghĩa trong câu ở hoạt động
vui chơi. ở đây trẻ hay sử dụng câu rút gọn thiếu thành phần chủ hoặc vị ngữ. Tuy
trẻ mẫu giáo 5 tuổi diễn đạt cha mạch lạc câu nói của trẻ còn lộn xộn những diễn đạt
còn cha mạch lạc ngữ điệu còn thiếu biểu cảm ( cha biết lựa chọn sắp xếp từ thích
hợp) . Quá trình trẻ chơi với nhau, trong giờ học còn nói trống không nhiều trẻ hay
nói bậy. Kết quả trong quá trình sử dụng phơng pháp quan sát trẻ phơng pháp đàm
thoại 40% trẻ nói đúng, 60% trẻ nói sai
1. Bảng điều tra phát âm:
STT Những từ cần điều tra- Phát âm Từ Ghi chú
Họ và tên L N Quả lựu Quả na
1 Lê Tuấn Anh + + + + +(đúng)
2 Hoàng Thị Mai Anh + + + + - ( sai )
3 Nguyễn Ngọc Anh - - - -
4 Mai Quỳnh Lan - - - -
5 Hoàng Văn Nam + + + +
6 Lê Vũ Hoài Nam - - - -
7 Trần Thị Trang - - - -
8 Nguyễn Văn Tuân - - - -
9 Vũ Văn Lộc + + + +
10 Trần Văn Lại - - - -
11 PHạm Thu Huyền + + + +
12 Hà Thu Huyền + + + +
13 Vũ Thị Hơng - - - -
14 Nguyễn Mạnh Hng - - - -
15 NguyễnVũ Tiến Hng - - - -
1.2. trả lời phiếu Ankét của giáo viên ( 3 phiếu)
Thăm dò ý kiến giáo viên bằng phiếu Ankét nhằm mục đích tìm hiểu nhậ thức đánh
giá giáo viên mầm non về vấn đề dạy trẻ nói biểu cảm qua việc cho trẻ đóng kịch với
hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị sẵn và yêu cầu giáo viên trả lời.
- Hệ thống câu hỏi:
+ Địa bàn trờng của chị thuộc khu vực nào?
+ Điều kiện hoạt động của trờng chị nh thế nào?
+ Chị có thích dạy trẻ đóng kịch không? vì sao?
+ Để thực hiện một trò chơi đóng kịch cho trẻ chị phải làm những công việc gì?
+ Chị gặp khó khăn thuận lợi gì? khi tổ chức trò chơi đóng kịch cho trẻ?
+ Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi có hứng thú với trò chơi này không?
+ Chị đã sử dụng phơng pháp, biện pháp gì khi tổ chức trò chơi đóng kịch cho trẻ
+ Theo chị thì cơ sở lí luận về việc dạy trẻ đóng kịch đã đợc cung cấp đầy đủ cha?
+ Chị gặp khó khăn, thuận lợi gì trong việc soạn giáo án?
Nói chung về nhận thức đánh giá của giáo viên mầm non về vấn đề nầy tơng đối
đồng nhất, tuy nhiên cũng chỉ dừng lại ở mức độ nhất định.
1.3. Việc soạn giáo án của giáo viên :
Qua việc điều tra chúng tôi thấy mục đích yêu cầu đặt ra trong giáo án cong rất
chung chung. Hầu hết giáo viên đặt mục đích yêu cầu theo cuốn chơng tình chăm
sóc giáo dục trẻ em của Bộ giáo dục - Đào tạo.
Chủ yếu giáo viên chỉ xác định một số mục đích yêu cầu sau:
- Trẻ hiểu nội dung tác phẩm .
- Trẻ biết thể hiện theo giọng nói của nhân vật trong tác phẩm .
- Phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Với mục đích giáo dục thông qua các tác phẩm văn học đặc biệt là qua trò chơi
đóng kịch rèn luyện khả năng điến đạt có biểu cảm cho trẻ thì không một giáoốan
nào đề cập đến.
* Qua xem một số giờ đóng kịch của trẻ chúng tôi đã ghi chép lại:
- Lần 1: Dạy trẻ đóng kịch mới Quả bầu tiên
+ Cô cũng đã đọc và kể chuyện cho trẻ nghe toàn bộ câu truyện cô đã kết hợp cho
trẻ xem tranh, nhng giáo viên cha biết sử dụng sắc thái của giọng mình trinhg bày
tác phẩm, để thể hiện trọng vẹn nội dung t tởng, phong cách của nghệ thuật. Khi
phân vai cho trẻ còn gò ép trẻ, không cho trẻ thỏa thuận mà cô lại chỉ đích danh từng
trẻ phải đóng vai gì, Cha phát huy đợc tính tích cực sáng tạo phat huy trí tởng tợng
của trẻ , ngôn ngữ bị hạn chếbởi giáo viên làm hộ trẻ quá nhiều cô là ngời hớng dẫn
chơng trình, những câu phức trong vai diễn của trẻ khó cô lại nói hộ trẻ. Chủ yếu lại
hay gọi cháu khá giỏi đóng kịch chứ không gọi trẻ học yếu nhút nhát, trẻ hay nói
ngọng cô lại không muốn cho trẻ đóng kịch sợ trẻ nói sai ngôn ngữ khi nhập vai.
- Lần 2: Cho trẻ đóng lại kịch nhổ củ cải.
+ Bắt đầu vào cô không kích thích hứng thú, gợi cho trẻ tởng tợng nhớ lại nội dung
truyện qua đàm thoại hay tranh mà cô hỏi luôn các con đã đợc đóng kịch nhổ củ
cải cha? hôm nay cô lại cho lớp mình đóng lại kịch đó nhé!
+ Cô phân vai từng trẻ đóng theo tên nhân vật trong chuyện và cô bắt đầu dẫn
chuyện, cứ lần lợt cô dấn đến đau là các vai ra làm động tác thể hiện và nói theo trí
nhớ của mình. Cô giáo hầu nh không để ý sửa sai cho trẻ, nói câu thiếu cấu trúc ngữ
pháp hay nói ngọng. Kết thúc kịch cô yêu cầu cà lớp vỗ tay khen các bạn, trong khi
trẻ diễn kịch song, vai đúng sai nh thế nào cô cha nhận xét cho trẻ.
IV. Kết luận:
1. Ưu điểm
- Về phía cô đã chú ý đến việc soạn giáo án cho tiết dạy một vài cô cũng đã gây
hứng thú cuốn hút trẻ vào tiết học bằng cách cho trẻ xem tranh, mô hình của truyện,
đã chuẩn bị sân khấu cho trer đóng kịch .
- Về phía trẻ đã chú ý nghe cô kể chuyện và đàm thoại truyện để nhớ đợc nội dung
truyện. Những trẻ khá giỏi đã biết tham gia đóng kịch .
2. Nhợc điểm:
- Về phía cô phần lớn là soạn giáo án còn chung chung, chủ yếu là dựa vào cuốn
Chơng trình chăm sóc, giáo dục và hớng dẫn thực hiện. đây là cuốn sách mang
tính chất và phơng hớng chỉ đạo chung nên mục đích yêu câudf đặt ra cho mỗi vở
kịch rất chung chung. Cha chú ý phân mức độ trẻ trong lớp khá- trung bình- yếu.
Trong tiết học cô cha xác định đợc tiết này nên sử dụng phơng pháp gì, biện pháp
nào là chính, biện pháp nào là hỗ trợ. Khi cô sử dụng biện pháp đàm thoại ( trao đổi,
thoả thuận) nhng câu hỏi đơn giản, bắt buộc, ngay hệ thống câu hỏi cũng thiếu lô gic
, không kích thích đợc tính tích cực cho trẻ và ngôn ngữ biểu cảm càng khó phát
huy. Vì vậy khả năng diến đạt ngôn ngữ nói lu loát, mạch lạc có biểu cảm của trẻ
còn hạn chế.
Trong khi sử dụng trang phục cho trẻ đóng kịch còn đại khái thậm chí không đủ
trang phục hết cho các vai đóng kịch. Cô giáo cha chú ý chọn tác phẩm có tính kịch
nhiều, có đối thoại giữa các nhân vật tạo điều kiện phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
-Về phía trẻ: đa số trẻ cha tập trung chú ý khi cô hớng dẫn, thỏa thuận trò chơi; nên
cha hứng thú tham gia trò chơi đóng kịch nhiều. Khi đóng kịch còn nói đớt, nói
ngọng, nói lắp, câu nói còn thiếu cấu trúc ngữ pháp.
3. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên
- Giáo viên cha nhìn thấy đợc tầm quan trọng, vị trí vai trò của giáo dục nghệ thuật
đối với trẻ mẫu giáo.
- Giáo viên cha nắm vững đợc phơng pháp, biện pháp khi dạy trẻ đóng kịch, không
có sự linh hoạt sáng tạo, do vậy trong trò chơi đóng kịch không hấp dẫn.
- Giáo viên cha hiểu đợc qua việc trẻ đóng kịch có tác dụng rất lớn trong phát triển
ngôn ngữ và rèn luyện đợc khả năng diễn đạt có biểu cảm cho trẻ.
- Trong quá trình kể chuyện cho trẻ nghe giọng của cô buồn tẻ đều đều, nét mặt cử
chỉ, thiếu sinh động hấp dẫn.
- Các tiết học, thời gian có hạn số học sinh trong lớp rất đông, cô giáo không quan
tâm đến từng trẻ dẫn đến trẻ nói trống không nhiều.
Ví dụ: khi cô hỏi trẻ, trẻ đứng lên trả lời câu hỏi của cô hoàn toàn thiếu chủ ngữ
không tha cô, khi cô, ngời khác đa quà chiều trẻ cha nói con xin cô số trẻ này
còn chiếm khoảng 75-80%.
Nhiều trẻ dùng từ cha chính xác cô hỏi
con sờ quả bóng bay thấy nó nh thế nào? thì
1/3 số trẻ trong lớp trả lời quả bóng sờ thấy nó nhẵn
2/3 số trẻ trong lớp nói: sờ quả bóng thấy nó buồn buồn nh vậy cách diễn đạt
ngôn ngữ mạch lạc biểu cảm còn nhiều hạn chế.
Đặc biệt tình trạng trẻ nói ngọng (L,N) còn nhiều bởi do ảnh hởng ở địa ohơng.
Đôi khi cô giáo cong nói ngọng sai chính tả thông qua đọc thơ, kể chuyện, hát cho
trẻ nghe Đó là một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến trẻ nói ch a đúng ngữ pháp,
diễn đạt thiếu biểu cảm .
Chơng III: Một số biện pháp rèn luyện khả năng điến đạt biểu cảm trẻ
5-6 tuổi (qua đóng kịch)
I. Kế hoạch giáo dục .
Qua việc tiếp xúc trực tiếp với trẻ tôi thấy rằng cong nhiều trẻ nói cha đúng cấu trúc
ngữ pháp, điễn đạt còn yếu, cha mạch lạc biểu cảm. Nên tôi đề ra những biện pháp
sau đây để giúp trẻ diễn đạt ttot hơn, nói đúng theo ngôn ngữ tiếng Việt đúng ngữ
pháp diễn đạt có biểu cảm .
- Lập bảng kế hoạch.
Thời gian Nội dung Phơng pháp Ghi chú
2-3 ->14-3 Luyện nói đúng cấu trúc câu Đàm thoại
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét