Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

WebSite đăng ký kinh doan qua mạng

Đồ án tốt nghiệp Trang 5
LỜI NÓI ĐẦU
Nhằm góp phần vào công cuộc xây dựng chính phủ điện tử và áp dụng công
nghệ thông tin vào thực tiển cuộc sống, mọi người bất cứ ai muốn hoạt động kinh
doanh một cách hợp pháp đều phải đến Sở Kế Hoạch Và Đầu Tư của tỉnh nhà để
đăng ký thành lập Doanh Nghiệp, mà hiện nay vấn đề đăng ký kinh doanh vẫn
còn làm mất thời gian và bất tiện cho không ít người, chính vì vấn đề bức thiết đó
đã giúp tôi nảy sinh ý tưởng là thiết kế một WebSite “Đăng Ký Kinh Doanh
Qua Mạng” cho Sở Kế Hoạnh Và Đầu Tư Bà Ròa – Vũng Tàu.
WebSite này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các Doanh Nghiệp có thể đăng ký
kinh doanh một cách dể dàng và nhanh chống với chi phí thấp nhưng hiệu quả
lại cao. Mọi người không cần phải trực tiếp đến Sở Kế Hoạch Và Đầu Tư để đăng
ký thành lập Doanh Nghiệp cho mình mà có thể ngồi tại nhà nhưng lại xem được
đầy đủ những thông tin hướng dẫn cũng như những thủ tục đăng ký kinh doanh
rất rỏ ràng và chi tiết, rồi sau đó tự đăng ký kinh doanh cho mình. Ngoài ra qua
Website này các doanh nghiệp có thể cùng trao đổi thông tin với nhau hoặc với Sở
Kế Hoach Đầu Tư thông qua muc Diễn Đàn Doanh Nghiệp.
Trong bản báo cáo này, tôi xin trình bày quá trình phân tích, thiết kế một hệ
thống quản lý đăng ký kinh doanh qua mạng cho “Sở Kế Hoạch Và Đầu Tư Tỉnh
Bà Ròa – Vũng Tàu” với hệ quản trò cơ sở dữ liệu SQL Server của hãng
MICROSOFT.
Bản báo cáo gồm ba phần chính:
Phần 1. Tổng quan về cơ sở lý thuyết
Phần 2. Khảo sát và phân tích hệ thống
Phần 3. Hiện thực chương trình
Sau quá trình tìm hiểu và thiết kế, nay tôi đã hoàn thành. Tuy nhiên, thời
gian nghiên cứu có hạn, kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên trong quá
trình phân tích, thiết kế cho hệ thống sẽ không tránh khỏi được những sai sót. Rất
mong sự góp ý của thầy cô và phòng đăng ký kinh doanh cùng các bạn sinh viên
gần xa để tôi có thể hoần thành tốt hơn Website của mình .
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Đức Thuần và các Cô Chú đang
công tác tại Sở Kế Hoạch Đầu Tư đã hướng dẫn và tạo nhiều điều kiện thuận
lợi cho tôi hoàn thành tốt Đồ n của mình.
Nha Trang, tháng 08 năm 2003
Sinh viên thực hiện
Lê Hữu Xuân
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần
Đồ án tốt nghiệp Trang 6
PHẦN 1.
TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần
PHẦN 1.
TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Đồ án tốt nghiệp Trang 7
CHƯƠNG I.

GIỚI THIỆU VỀ WORD WIDE WEB
Ι.1. Lòch sử
Web được sinh ra bởi Internet, và nó cho thấy khả năng tự trò và giới hạn của
kiến trúc Internet. Ngày nay, các chương trình duyệt Web có các khả năng truy cập
vào các công nghệ Internet khác nhau như : Emai, Word Wide Web…. Nhưng Web
và Internet không chỉ là một ngành kỹ thuật mà đó là môi trường để con người liên
lạc, học tập, và tác động qua lại nhau trong cùng một môi trường văn hóa.
Năm 1926, Paul Baran, mô tả trên giấy lời giải một vấn đề làm đau đầu các
nhà quân sự lúc bấy giờ, tựa :”Liên lạc phân tán qua mạng “. Anh ta đưa ra một hệ
thống máy tính rộng khắp đất nước kết nối lại với nhau sử dụng hệ thống mạng
không tập trung (decentralized) do đó nếu một hay nhiều node mạng chính bò phá
hủy thì các node còn lại vẫn tự động điều chỉnh các kết nối để duy trì việc liên lạc.
Do mạng là không tập trung (decentralized), nên ta có thể thêm vào một máy
tính thông qua đường dây điện thoại, một thiết bò phần cứng, và một số phần mềm
NCP (network control protocol), ví dụ mạng ARPAnet.
Một ứng dụng chính được phát triển đầu tiên trên ARPAnet là thư điện tử
(electronic mail). Ngày nay, email là một phần không thể thiếu được của Net và nó
được thiết kế sẵn bên trong các trình duyệt Web (ví dụ netscape) do đó một chương
trình đơn lẻ để xem email là không cần thiết.
Ι.2. Giao thức TCP/IP
Vào những năm 1970, nhu cầu trao đổi truyền tin trên các mạng phân biệt có
“ngôn ngữ ” khác biệt nhau là cần thiết. Năm 1974, Vint Cerf và Bob Kahn đã đưa
ra việc thiết kế chi tiết cho một protocol để liên lạc giữa các mạng khác nhau. Đến
năm 1982, việc thiết kế này được cài đặt và được gọi là TCP/IP (Transmission
control protocol /Internet protocol).
Phần TCP của giao thức TCP/IP cung cấp cơ chế kiểm tra việc truyền dữ liệu
giữa Client và Server: nếu dữ liệu bò mất hay hỏng TCP sẽ yêu cầu gởi lại dữ liệu
cho đến khi hết các lỗi.
Phần IP trong giao thức TCP/IP di chuyển dữ liệu từ node này sang node khác.
Nó sẽ giải mã các đòa chỉ và tìm đường để đưa dữ liệu đến đích. Nó có thể sử dụng
bởi các máy tính nhỏ để liên lạc trên các mạng LAN (ethernet hay token ring) có
thể sử dụng cả giao thức TCP/IP và các giao thức khác nhau như novel hay window
for workgroups. Một máy có thể ở mạng LAN và sử dụng TCP/IP để kết nối với
các máy khác trên thế giới .
Bộ quốc phòng Mỹ nhanh chóng đònh nghóa TCP/IP như protocol chuẩn cho
các hệ thống liên mạng của quân sự. Tuy nhiên với ưu thế của mình TCP/IP nhanh
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần
Đồ án tốt nghiệp Trang 8
chóng thâm nhập và trở thành chuẩn mới cho tất cả các hệ thống mạng dân dụng
và là tiền đề cho mạng Internet ngày nay .
Telnet
TCP/IP cung cấp khả năng login từ xa thông qua giao thức của telnet. Với
telnet, User có thể liên kết và tìm thông qua các thư mục trên một hệ thống ở xa và
chạy các chương trình.
Ι.3. Giao thức FTP
File transfer protocol: là một phần mềm (software) cho phép truyền file nhò
phân hoặc file text từ một máy này sang máy khác trên Internet, hay nói khác hơn,
FTP là dòch vụ (service) cho phép chúng ta sao chép một file từ bất kỳ Internet host
này đến bất kỳ Internet host khác.
Giống như những dòch vụ khác trên Internet, FTP sử dụng hệ thống Client
/Server. Một hệ thống Client /Server có thể hiểu như sau:
Khái quát:
Một trong những nguyên tắc sử dụng mạng là cho phép chia sẻ các tài
nguyên. Rất nhiều thời gian việc chia sẻ này được hoàn thành bởi hai chương trình
riêng biệt, mỗi chương trình chạy trên máy tính khác nhau. Một chương trình gọi là
Server, cung cấp một tài nguyên riêng. Chương trình kia gọi là Client để sử dụng
tài nguyên đó.
Dòch vụ này có tên là FTP, để kết nối vào một chương trình Server trên máy
tính từ xa. Bằng cách sử dụng chương trình Client chúng ta phát ra những lệnh được
chuyển đến Server. Server sẽ trả lời bằng cách tải những gì mà tập lệnh tới nơi
phát ra yêu cầu đó.
Để sử dụng, dùng lệnh FTP và mô tả đòa chỉ của host từ xa mà chúng ta muốn
kết nối vào.
Anonymous FTP:
Khi dùng FTP để chuyển file từ máy này đến máy khác trên Internet, có một
vài hạn chế: Chúng ta không thể truy cập vào một máy tính trừ khi được sự cho
phép. Nghóa là chúng ta phải có User ID (account name) và password thì mới xâm
nhập vào được.
Khi sử dụng chương trình FTP để kết nối vào một anonymous FTP host, nó
hoạt động giống như nghi thức FTP, ngoại trừ khi nó đòi hỏi một User ID, nó là
anonymous. Khi nó đòi hỏi password, chúng ta đánh vào đòa chỉ email hoặc tên của
mình.Vì vậy, người quản trò hệ thống có thể lần ra dấu vết ai đang truy cập vào
files của họ.
Khi người quản trò hệ thống cài đặt một máy tính như là một anonymous FTP
host đònh rõ những thư mục dùng cho việc truy cập chung. Như một biện pháp an
toàn, hầu hết những anonymous FTP host cho phép User download file, nhưng
không cho phép upload file (chép lên Server).
Nếu như một anonymous cho phép upload, người quản trò hệ thống yêu cầu
User copy tất cả những file mới này để chỉ thư mục upload đã xác đònh trước đó.
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần
Đồ án tốt nghiệp Trang 9
Sau đó, người quản trò hệ thống có dòp kiểm tra những file này, rồi chuyển chúng
đến một trong những thư mục download chung. Bằng cách này có thể ngăn chặn
được nhiều người, bảo vệ họ khỏi upload những file có thể phá hoại hệ thống.
Như một User trên Internet, chúng ta có thể sử dụng nghi thức FTP để sao
chép file giữa hai host bất kỳ trên Internet. Thực tế, mặc dù hầu hết mọi người chỉ
có một tài khoản (account) duy nhất trên Internet và nghi thức FTP hầu như được
sử dụng để download file dùng chung.
I.4. Giao Thức Word Wide Web
Word Wide Web là một tập protocol sử dụng cấu trúc trang (Web page) để
cung cấp các thông tin cho User chạy Web Client software như netscape,
navigator… Nó không những cho phép kết nối dữ liệu từ những Web page khác
nhau hoặc từ những vò trí khác nhau trong một trang mà còn cho phép truy xuất đến
các Internet services khác.



Hình :Cấu Trúc Web
Web có khả năng liên kết với những loại tài nguyên của Internet như: một file
văn bản, một phiên kết nối của telnet….
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần
HTTP
HTTP
HTML
Page
Window NT Server
Public
Internet or
Private
Internet
SQL Server
DBMS
Internet
Informatio
n Server
(Web
Server)
Active
Server Page
HTML
Form
Internet Explorer
other Web
Browser
Database
Server
Any Client Platform
Đồ án tốt nghiệp Trang 10
Giống như nhiều tài nguyên khác trên Internet, Web dùng một hệ thống
Client/Server. Các Client được gọi là Web Browser dùng để truy cập vào mọi dòch
vụ và tài nguyên trên Internet. Điều quan trọng nhất là một Browser cũng biết
cách kết nối vào Web Server để đưa ra các tài liệu hypertext công cộng.
Có rất nhiều Web Server nằm khắp nơi trên mạng Internet và hầu hết chúng
chuyên về một lónh vực nào đó.
Sự bùng nổ Web
Web sử dụng công nghệ mới HTML (hypertext markup language ) được sử
dụng để viết trang Web, một máy Web Server sử dụng HTTP (hypertext transfer
protocol) để truyền các trang này và một trình duyệt Web tại máy Client để nhận
dữ liệu, xử lý và đưa ra kết quả.
HTML là một ngôn ngữ đánh dấu (markup) có nghóa là các trang Web chỉ có
thể xem thông qua một chương trình duyệt Web.
Vào năm 1993, National Center for SupercomputingApplications (NCSA) tại
đại học Illinois đưa ra phiên bản Mosaic, một chương trình Web được thiết kế bởi
Marc Andreessen. Nó đã lan rộng trên Internet và chỉ trong vòng một năm có đến
hai triệu người sử dụng Web với Mosaic. Mọi người cùng tạo và truy cập các trang
Web. Đó là sự phát triển rất lớn chưa từng có trong lòch sử phát triển máy tính.
Vào giữa năm 1993 có 130 sites trên Word Wide Web. Sáu tháng sau có hơn
sáu trăm sites. Ngày nay, có gần một trăm nghìn Web Sites trên thế giới.
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần
Đồ án tốt nghiệp Trang 11
CHƯƠNG II.
SƠ LƯC VỀ CÁC MÔ HÌNH CSDL TRÊN MẠNG
II.1. Một số khái niệm cơ bản
II.1.1. Công nghệ Client /Server
Công nghệ Client /Server thực hiện việc phân tán xử lý giữa các máy tính. Về
bản chất, một cộng nghệ được chia ra và xử lý bởi nhiều máy tính. Các máy tính
được xem là Server thường được dùng để lưu trữ tài nguyên để nhiều nơi truy xuất
vào. Các Server sẽ thụ động chờ để giải quyết các yêu cầu từ các Client truy xuất
đến chúng. Một Client đưa ra yêu cầu về thông tin hoặc về tài nguyên cho Server.
Server sẽ lấy thông tin và gởi đến cho Client và Client hiển thò thông tin đó cho
người dùng. Chỉ có máy tính nào thực hiện tác vụ Client / Server mới được gọi là
máy Client hay Server và chương trình chạy trên máy này được gọi là chương trình
Client hay Server.
II.1.2. Internet
Internet là một mạng máy tính có phạm vi toàn cầu bao gồm nhiều mạng nhỏ
cũng như các máy tính riêng lẻ được kết nối với nhau để có thể liên lạc và trao đổi
thông tin. Trên quan điểm Client / Server thì có thể xem Internet như là mạng của
các mạng của các Server, có thể truy xuất bởi hàng triệu Client.
Việc chuyển và nhận thông tin trên Internet được thực hiện bằng nghi thức
TCP/IP. Nghi thức này gồm hai thành phần là Internet protocol (IP) và transmission
control protocol (TCP). IP cắt nhỏ và đóng gói thông tin chuyển qua mạng, khi đến
máy nhận, thì thông tin đó sẽ được ráp nối lại. TCP bảo đảm cho sự chính xác của
thông tin được chuyền đi cũng như của thông tin được ráp nối lại đồng thời TCP
cũng sẽ yêu cầu truyền lại tin thất lạc hay hư hỏng .
II.1.3. Web Server
Tùy theo thông tin lưu trữ và mục đích phục vụ mà các Server trên Internet sẽ
được phân chia thành các loại khác nhau như Web Server, email Server hay FTP
Server. Mỗi loại Server sẽ được tối ưu hóa theo mục đích sử dụng.
Web Server là Web cung cấp thông tin ở dạng siêu văn bản (các tập tin
HTML ), được biểu diễn ở dạng trang. Các trang có chứa các liên kết tham chiếu
đến các trang khác hoặc đến các tài nguyên khác trên cùng một Web Server một
trên một Web Server khác.
II.1.4. Cơ sở dữ liệu (CSDL)
Cơ sở dữ liệu là một sưu tập thông tin về một chủ đề, nhằm tổ chức hợp lý
nhằm đạt đến mục đích quản lý, tìm kiếm và xử lý thông tin được thuận tiện và
nhanh chóng.
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần
Đồ án tốt nghiệp Trang 12
II.2. Kết hợp CSDL và Web
Trong quá trình khai thác Web Server, do sự bùng nổ thông tin nên số lượng
các trang Web (mà vốn được lưu trữ dưới dạng các tập tin) tăng lên rất nhanh dẫn
đến việc quản lý Web Server ngày càng trở nên khó khăn. Web Server là trọng
tâm của hệ thống, do đó việc quản lý tốt Web Server sẽ làm cho toàn bộ hệ thống
hoạt động tốt hơn. Trong vô số các trang Web chứa trong một Web Server người ta
thấy rằng rất nhiều trang mà nội dung của chúng hoàn toàn có thể đưa vào CSDL.
Nếu thay những trang Web như trên bằng một trang Web duy nhất có khả năng
hiển thò thông tin lấy từ cơ sở dữ liệu thì tốt hơn tìm kiếm trên những tập tin rời rạc.
Như vậy vấn đề quản lý tốt Web Server dẫn đến việc xây dựng một CSDL
lưu trữ thông tin.
Khi xây dựng một ứng dụng CSDL, ngoại trừ CSDL đó chỉ phục vụ cho mục đích
cá nhân, còn không thì xem xét việc tạo khả năng để nhiều người có thể truy xuất đến
CSDL. Muốn vậy thì cần có một hệ thống gồm nhiều máy tính, tất cả đều được kết nối
với nhau và với Server chứa CSDL. Khi đó sẽ nảy sinh một số vấn đề sau:
- Với trường hợp những người muốn truy xuất đến ở xa Server với một khoảng
vài km, vài trăm hay vài ngàn km, nhưng việc thiết lập riêng một hệ thống mạng
trên diện rộng đến như thế là không khả thi.
- Các máy tính truy xuất đến CSDL có thể thuộc nhiều họ máy, chạy trên
nhiều hệ điều hành khác nhau. Do đó cần phải xây dựng các ứng dụng thích hợp
với các nền tảng đó, và các ứng dụng này sẽ được phân tích tại mỗi Client. Sau
một thời gian khai thác, khi dó nhu cầu sừa đổi các ứng dụng Client thì phải sửa các
ứng dụng trên từng Client.
Có một số chuyên gia cho rằng Worl Wide Web là một giải pháp cho vấn đề
này, vì các lý do sau:
- Hỗ trợ đa nền tảng.
- Hỗ trợ mạng.
II.2.1. Hỗ trợ đa nền tảng
Một trong những điểm nổi bậc nhất củaWeb là một trang Web có thể xem
được trên nhiều họ máy tính khác nhau. Do đó trong hệ thống CSDL Web, các
Client có thể gồm nhiều máy tính chạy trên các hệ điều hành khác nhau mà không
cần phải phát triển các ứng dụng để chạy trên từng máy mà chỉ cần xây dựng một
trang Web đặt tại Web Server. Điều này sẽ giảm thời gian và chi phí phát triển ứng
dụng, giảm chi phí bảo trì và cập nhật các ứng dụng đó.
II.2.2. Hỗ trợ mạng
Một điều quan trọng cần phải xét đến khi thiết kế các ứng dụng CSDL là làm
thế nào để truy xuất CSDL từ các máy ở xa (remote computer). Như đã đề cập ở
trên không một cá nhân hay tổ chức nào có thể xây dựng mỗi một hệ thống mạng
máy tính trải rộng trên qui mô hàng trăm, hàng ngàn km, trong khi đó đã tồn tại
một hệ thống mạng có phạm vi toàn cầu là Internet. Web Server và Web Brower
mới có những tính năng về mạng. Chúng được thiết kế để chuyển và nhận thông tin
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần
Đồ án tốt nghiệp Trang 13
thông qua Internet hay mạng cục bộ. Vậy tại sao không sử dụng Internet cho mục
đích truy cập CSDL.
Nếu xét ở khía cạnh quản lý tốt tài liệu của Web Server hay ở khía cạnh khai
thác tốt CSDL trên phạm vi rộng đều dẫn đến một nhu cầu là tích hợp Web với CSDL.
Tích hợp Web với CSDL bao gồm việc tạo khả năng truy cập và cập nhật dữ
liệu thông qua Web. Để có thực hiện việc tích hợp Web với CSDL thì cần phải xây
dựng lại hệ thống trong đó có cơ chế chuyển thông tin giữa trang Web và CSDL, cơ
chế truy cập đến CSDL và những trang Web động trong môi trường Web và phải
có những tính năng như là một hệ thống ứng dụng CSDL trên Web.
Trong trang Web thì việc giao tiếp với người sử dụng được thực hiện thông qua
các “HTML form”. Các form này chức các phần tử dùng để nhập liệu như là textbox,
checkbox, option button. Khi hoàn tất việc nhập liệu bằng cách bấm vào một nút để
chấp nhận submit, hành động này sẽ gởi nội dung của form đến Web Server.
Do Internet là hệ thống Web Client/Server nên hệ thống ứng dụng CSDL trên
Web sẽ mang những đặc điểm của một hệ thống ứng dụng CSDL Client/Server. Do
đó, việc nghiên cứu về cách tiếp cận để xây dựng hệ thống ứng dụng
Client/Server là rất cần thiết. Hiện nay đa số nhà phát triển phần mềm cho rằng
cách tiếp cận dựa trên thành phần (component_based) là cách tiếp cận tốt để phát
triển các ứng dụng Client/Server.
II.3. Các giải pháp tích hợp Web và CSDL
Trong phần này, mô tả một số mô hình đã được áp dụng cho các Web site có
tích hợp với CSDL và xem xét ở hai khía cạnh, thứ nhất là sự liên lạc giữa các
Client/Server, thứ hai là phương pháp truy xuất CSDL.
Những mô hình bao gồm:
Mô hình Web site theo kiến trúc 1 lớp.
Mô hình Web site theo kiến trúc 2 lớp cổ điển.
Mô hình Web site tích hợp với CSDL theo kiến trúc 3 lớp.
Mô hình Web site tích hợp với CSDL theo kiến trúc 3 lớp cải tiến.
II.3.1. Mô hình kiến trúc một lớp
Ứng dụng một lớp đơn giản chỉ là một lớp, một chương trình Stand-alone
chạy trên máy của User. Nó có thể liên lạc với CSDL nhưng CSDL này nằm trên
cùng một máy, một điểm chính là cả 3 dòch vụ: User, bussiness và dữ liệu được kết
nối vào trong một chương trình.
II.3.2. Mô hình kiến trúc hai lớp
Các Web Sites đầu tiên được xây dựng theo kiến trúc Client/Server hai
lớp bao gồm:
- Lớp thứ nhất có Web Browser.
- Lớp thứ hai có Web Server chứa các trang Web (các tập tin HTML),
được thiết kế từ trước.
II.3.3. Mô hình kiến trúc ba lớp
Các kiến trúc Web site được xây dựng theo mô hình này bao gồm 3 lớp như sau:
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần
Đồ án tốt nghiệp Trang 14
- Lớp thứ nhất gồm Web Browser.
- Lớp thứ hai gồm Web Server và Application Server.
- Lớp thứ ba Server CSDL, chứa CSDL và phần giao tiếp với CSDL.
II.3.4. Các vấn đề bảo mật
Đối với các nhà ứng dụng Web, có rất nhiều người truy cập đến cho nên vấn đề
bảo mật để kiểm soát quyền truy cập người dùng cũng rất phức tạp và quan trọng.
Có rất nhiều cách bảo mật, gồm:
- Vò trí đặt chế độ bảo mật
- Quyền truy cập chế độ người dùng.
- Các nguyên tắc bảo mật thời điểm thiết kế (design-time security).
- Quyền truy cập tới các ứng dụng Web, các thư mục và các tập tin.
- Các chế độ bảo mật thời điểm thực thi.
- Giới hạn truy cập Web visitor.
- Bảo mật qua đường truyền HTTP.
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét