Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Hoàn thiện kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng&cung cấp dịch vụ trong kiểm toán Báo cáo tài chính do công ty kiểm toán Aticvietnam thực hiện

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Phân theo khoản mục: là cách phân chia máy móc theo từng khoản mục hay
nhóm các khoản mục vào một phần hành. Cách phân chia này đơn giản, giảm thời
gian, chi phí nhưng hiệu quả không cao do tách những khoản mục ở vị trí khác nhau
nhưng có quan hệ mật thiết với nhau. Từ đó dẫn đến cái nhìn hạn chế của các KTV
về sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các chu trình. VD như hàng tồn kho với giá vốn
hàng bán, doanh thu với nghĩa vụ phải nộp ngân sách nhà nước(thuế)…
Phân theo chu trình: Là cách phân chia dựa theo mối quan hệ chặt chẽ lẫn nhau
giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành các yếu tố trong một chu trình chung
của hoạt động tài chính. Cách phân chia này hiệu quả hơn do được xuất phát từ mối
quan hệ vốn có của các nghiệp vụ. Theo cách tiếp cận này, các phần hành cơ bản của
kiểm toán tài chính gồm:
• Kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền
• Kiểm toán chu trình mua hàng và thanh toán
• Kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên
• Kiểm toán tiền
• Kiểm toán hàng tồn kho
• Kiểm toán tiếp nhận và hoàn trả vốn.
1.1.4.Chức năng của kiểm toán
Từ bản chất của kiểm toán, người ta thấy được rằng: kiểm toán có chức năng nền
tảng là xác minh và bày tỏ ý kiến.
* Với chức năng xác minh: Chức năng này nhằm khẳng định tính trung thực của
các tài liệu( thông tin), tính pháp lý trong việc thực hiện các nghiệp vụ cũng như lập
các Báo cáo tài chính. Chức năng này được biểu hiện thành hai mặt:
• Xác minh độ tin cậy của các con số.
• Xác minh việc tuân thủ các quy định và tính hợp thức, hợp pháp của các
biểu mẫu kế toán(gọi là xác minh quy tắc).
* Với chức năng bày tỏ ý kiến: Chức năng này có thể được hiểu rộng với nghĩa cả
kết luận về chất lượng thông tin và cả pháp lý, tư vấn qua xác minh. Nó được biểu
hiện dưới hình thức tư vấn mà sản phẩm của hình thức này là thư quản lý
(managerment letter).
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
1.1.5.Mục tiêu kiểm toán tài chính
Là một loại hình kiểm toán, kiểm toán tài chính cũng thực hiện chức năng xác
minh và bày tỏ ý kiến về đối tượng kiểm toán. Đối tượng kiểm toán thì luôn chứa
đựng những mối quan hệ về kinh tế và pháp lý phong phú, đa dạng. Do đó nên chức
năng xác minh và bày tỏ ý kiến cấn được xác minh thật khoa học. Mặt khác, ý kiến
hay kết luận kiểm toán không chỉ phục vụ cho người lập hay người xác minh mà còn
phục vụ cho người quan tâm đến tính trung thực, hợp pháp của BCTC. Chính vì vậy,
kết luận này phải dựa trên bằng chứng đầy đủ, có hiệu lực voiứ chi phí kiểm toán
thấp nhất. Để thực hiện cuộc kiểm toán đúng hướng và có hiệu quả cao, việc xác định
hệ thống mục tiêu kiểm toán khoa học trên cơ sở các mối quan hệ sẵn có của đối
tượng và của khách thể kiểm toán là thực sự cần thiết. Tầm quan trọng của nó đã
được thể hiện rất cụ thể trong Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200(Mục tiêu và
nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán BCTC). Chuẩn mực xác định: “Mục tiêu của
kiểm toán BCTC là giúp cho KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng
BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được
chấp nhận, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên
các khía cạnh trọng yếu hay không.
Mục tiêu kiểm toán tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những
tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn
vị”.
Đối với KTV hay các công ty kiểm toán, việc xác minh không chỉ dừng ở các
mục tiêu chung mà phải cụ thể vào từng phần hành kiểm toán( hay chính là mục tiêu
đặc thù). Do đó, hệ thống mục tiêu kiểm toán bao gồm cả những mục tiêu đặc thù.
Mục tiêu kiểm toán chung được chia thành hai loại là: mục tiêu hợp lý chung và mục
tiêu chung khác. Còn mục tiêu kiểm toán đặc thù được xác định trên cơ sở mục tiêu
chung và đặc điểm của khoản mục hay phần hành, cùng với hệ thống kế toán, hệ
thống kiểm soát nội bộ theo dõi chúng. Nhìn chung, hệ thống mục tiêu kiểm toán đặc
thù thường được đặt ra là:
• Mục tiêu hiệu lực
• Mục tiêu trọn vẹn
• Mục tiêu quyền và nghĩa vụ
• Mục tiêu định giá
• Mục tiêu phân loại và trình bày
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
• Mục tiêu chính xác cơ học
1.1.6. Phương pháp kiểm toán trong kiểm toán tài chính
1.1.6.1. Đặc điểm của kiểm toán tài chính với phương pháp kiểm toán
Như chúng ta đã biết, mỗi loại kiểm toán khác nhau sẽ có những chức năng, đối
tượng cụ thể khác nhau và quan hệ chủ thể, khách thể kiểm toán khác nhau. Chính vì
thế, cách thức kết hợp các phương pháp kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài
chứng từ trong kiểm toán tài chính cũng có những điểm đặc thù.
Trước hết, xét về chức năng của kiểm toán, kiểm toán tài chính hướng tới việc
bày tỏ ý kiến trên cơ sở các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và phù hợp. Để đạt được
các bằng chứng này, kiểm toán tài chính cần thực hiện các phương pháp cơ bản theo
từng trường hợp cụ thể. Thông thường, nó thường được triển khai theo hướng kết
hợp hoặc chi tiết thành các cách kiểm toán cụ thể, điều đó tùy vào tính huống cụ thể
trong suốt quá trình kiểm toán.
Đối tượng của kiểm toán tài chính là các báo cáo kế toán và các bảng tổng hợp tài
chính khác. Các bảng này vừa chứa đựng những mối quan hệ kinh tế tổng quát, vừa
phản ánh cụ thể từng loại tài sản, nguồn vốn…Do đó, kiểm toán tài chính thường là
kiểm toán liên kết và hình thành những thủ tục với việc sử dụng liên hoàn các
phương pháp kiểm toán cơ bản để đưa ra ý kiến đúng đắn, trung thực về các báo cáo
và bảng này.
Tác động đến kỹ thuật kiểm toán tài chính còn có mối liên hệ giữa nội kiểm và
ngoại kiểm trên quan điểm hiệu quả. Để đảm bảo tính hiệu quả trong kiểm toán tài
chính thì trình tự phổ biến được thực hiện là tiến hành kiểm toán theo trình tự ngược
với trình tự kế toán.
1.1.6.2.Các trắc nghiệm trong kiểm toán tài chính
Trước hết, chúng ta cần hiểu trắc nghiệm là gì?. Trong kiểm toán tài chính, người
ta thường hiểu trắc nghiệm: “Trắc nghiệm được hiểu là các cách thức xác định trong
việc vận dụng các phương pháp kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ vào xác minh
các nghiệp vụ, các số dư tài khoản hoặc các khoản mục cấu thành bảng khai tài
chính”
(4)
.
Từ các cách thức vận dụng đó hình thành nên các loại trắc nghiệm khác nhau, mà
cụ thể là hình thành ba loại trắc nghiệm cơ bản: trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm
trực tiếp số dư và trắc nghiệm phân tích.
(4)
GS.TS Nguyễn Quang Quynh-TS Ngô Trí Tuệ, Giáo trình Kiểm toán tài chính, NXB Đại học Kinh tế
Quốc dân, Hà Nội 2006, tr 19
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
1.2.Đặc điểm khoản mục doanh thu bán hàng& cung cấp dịch vụ ảnh hưởng
đến vấn đề kiểm toán Báo cáo tài chính
1.2.1.Những vấn đề chung về doanh thu bán hàng&cung cấp dịch vụ
1.2.1.1.Khái niệm và phân loại doanh thu
1.2.1.1.1. Khái niệm doanh thu
Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp của ba yếu tố: lao động, tư liệu
lao động và đối tượng lao động để tạo ra những sản phẩm cần thiết phục vụ nhu cầu
của con người. Sản phẩm đó để bán tiêu dùng hoặc là đầu vào của quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp khác. Qua tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp sẽ ghi nhận
doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ. Như vậy, khâu tiêu thụ là khâu cuối cùng của
quá trình sản xuất kinh doanh. Đây là một trong những chỉ tiêu thể hiện rõ nét khả
năng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ. Kết quả của khâu này được
thể hiện trên Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, cụ thể ở chỉ tiêu doanh
thu bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thu thuần.
Trong cuốn Lý thuyết kinh tế học của David Begg, ông đã đưa ra một cách nhìn
cụ thể về vai trò của doanh thu đối với các quyết định kinh tế của doanh nghiệp cũng
như những người quan tâm. Ông đã đưa ra một khái niệm rất đơn giản, ngắn gọn mà
súc tích về doanh thu. Đó là: “Doanh thu của một hãng là số tiền mà nó kiếm được
qua việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ trong một giai đoạn nhất định ví như
trong một năm”
(5)
.
Trong cuốn Tư bản của Mác, Người cho rằng sản phẩm không chỉ là hàng hóa,
mà là hàng hóa mang trong mình một giá trị thặng dư. Giá trị của nó bao gồm tư liệu
sản xuất và sức lao động hao phí cộng với giá trị thặng dư do tư bản sản xuất đẻ ra,
hay chính là C+V+M. Khi nhà tư bản tiêu thụ hàng hóa thì nhà tư bản thu được
doanh thu. Như vậy, “Doanh thu là kết quả của quá trình tiêu thụ, đó là quá trình thực
hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa. Qua tiêu thụ, sản phẩm chuyển từ hình
thái hiện vật sang hình thái giá trị”
(6)
.
Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14 - Doanh thu và thu nhập khác thì:
“Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán,
phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp
phần làm tăng vốn chủ sở hữu”.
Thuật ngữ Doanh thu được sử dụng chỉ bao gồm tổng giá trị các lợi ích kinh tế
(5)
Lý thuyết kinh tế học của David Begg, NXB Giáo dục, 1998
(6)
Tư bản của Mác- NXB Giáo dục 1995
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ không phải là nguồn
lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi
là doanh thu (Ví dụ: Đại lý thu hộ tiền bán hàng cho đơn vị gửu đại lý, thì doanh thu
của người nhận đại lý chỉ là tiền hoa hồng đại lý được hưởng và hạch toán vào tài
khoản 511 của bên đại lý). Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng
vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nhưng không là doanh thu.
Khái niệm trên đã cho ta thấy rõ quan niệm về doanh thu theo cả lý luận và thực
tiễn hoạt động kế toán, kiểm toán. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được xác
định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được sau khi trừ các khoản
chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại.
1.2.1.1.2. Phân loại doanh thu
Để hiểu rõ hơn nữa về doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thì cần có sự phân
loại một cách cụ thể. Phân loại doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ giúp cho việc
xác định doanh thu của từng loại được nhìn nhận và tính toán một cách chính xác.
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14, Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
của doanh nghiệp bao gồm các bộ phận sau:
* Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ(Kế toán sử dụng TK 511-Doanh thu
bán hàng và cung cấp dịch vụ): Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được phản
ánh từ các giao dịch và các nghiệp vụ sau:
Bán hàng: Bán các sản phẩm, thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán
hàng hóa mua vào
Cung cấp dịch vụ: Thực hiện công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng trong một
hoặc nhiều kỳ kế toán như cung cấp dịch vụ vận chuyển, đi lại, dịch vụ vệ sinh công
nghiệp, dịch vụ chăm sóc cỏ…
Doanh thu BH&CCDV là toàn bộ lợi ích thu được hoặc sẽ thu được từ các giao
dịch hay nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, thành phẩm, hàng hóa,
cung cấp dịch vụ cho khách hàng gồm cả những khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài
giá bán(nếu có).
• Nếu doanh nghiệp áp dụng việc tính thuế GTGT phải nộp theo phương
pháp khấu trừ thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là doanh thu chưa
có thuế, đồng thời doanh nghiệp sử dụng “Hóa đơn GTGT”.
• Nếu doanh nghiệp áp dụng việc tính thuế GTGT phải nộp theo phương
pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là doanh thu có tính
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
thuế, đồng thời doanh nghiệp sử dụng “Hóa đơn bán hàng”.
• Đối với sản phẩm, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt,
hoặc thuế xuất nhập khẩu thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng
giá thanh toán.
Doanh thu BH&CCDV mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ kế toán có thể thấp
hơn doanh thu BH&CCDV ghi nhận ban đầu do các nguyên nhân như: Chiết khấu
thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại hoặc nộp thuế tiêu thụ đặc biệt,
thuế xuất khẩu, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp được tính trên doanh thu
BH&CCDV thực tế thực hiện.
Nếu doanh nghiệp có doanh thu BH&CCDV bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại
tệ ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên
ngân hàng tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ hoặc tỷ giá thực tế tại thời điểm phát
sinh nghiệp vụ.
* Doanh thu tiêu thụ nội bộ(512): Tài khoản này phản ánh doanh thu của sản phẩm,
hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ trong một kỳ kế toán của số lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ
tiêu thụ nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty, tổng công ty…
* Các khoản giảm trừ doanh thu
Chiết khấu thương mại: là số tiền mà doanh nghiệp giảm giá niêm yết cho khách
hàng mua với khối lượng lớn.
Giảm giá hàng bán: là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hóa đơn hay hợp
đồng cung cấp dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt như hàng kém phẩm chất, không
đúng quy cách, giao hàng không đúng thời gian, địa điểm trong hợp đồng…
Hàng bán bị trả lại: là số hàng đã được tính là tiêu thụ nhưng bị người mua trả
lại, từ chối do làm không đúng quy cách, phẩm chất…như đã quy định điều khoản ở
trong hợp đồng hay như đã thỏa thuận.
Ngoài ra còn có những khoản được ghi nhận là các khoản giảm trừ doanh thu như:
thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu.
1.2.1.2.Nguyên tắc ghi nhận doanh thu
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó là chỉ tiêu đặc biệt quan trọng bởi lẽ: nó
ảnh hưởng rất lớn tới các chỉ tiêu khác trên bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả
kinh doanh như: thuế, lợi nhuận chưa phân phối, phải thu khách hàng, lãi từ hoạt
động sản xuất kinh doanh…, cũng như ảnh hưởng rất lớn đến những người quan tâm
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
tới tình hình tài chính của doanh nghiệp. Do tầm quan trọng của chỉ tiêu này nên việc
việc ghi nhận doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ cần phải tuân theo một số quy
định sau:
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14-Doanh thu và Thu nhập khác thì :
* Doanh thu bán hàng chỉ ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn năm điều kiện như sau:
• Doanh nghiệp chuyển giao phần lớn rủi ro, lợi ích gắn liền với quyền sở
hữu sản phẩm cho người mua.
• Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý, quyền kiểm soát sản
phẩm hàng hóa.
• Doanh thu xác định tương đối chắc chắn.
• Doanh nghiệp đã thu được hay sẽ thu được lợi ích kinh tế từ bán hàng.
• Xác định được chi phí liên quan đến bán hàng.
* Doanh thu về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó
được xác định một cách đáng tin cậy.
Trường hợp cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ kế toán thì doanh thu được
ghi nhận trong kỳ theo phần công việc đã hoàn thành tại ngày lập Bảng cân đối kế
toán của kỳ kế toán đó. Doanh thu cung cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn bốn
điều kiện sau:
• Doanh thu xác định tương đối chắc chắn.
• Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ cung cấp dịch vụ đó.
• Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối
kế toán.
• Xác định được chi phí phát sinh và chi phí để hoàn thành việc cung cấp
dịch vụ đó.
Chu trình ghi nhận doanh thu có thể được tóm tắt như sau:
Doanh nghiệp bắt đầu xử lý đơn đặt hàng, phiếu yêu cầu mua hàng của người
mua, sau đó là ký hợp đồng về mua bán hàng hóa dịch vụ…Trên cơ sở pháp lý này,
người bán có thể xem xét đưa ra quyết định bán qua phiếu tiêu thụ và lập hóa đơn
bán hàng. Ngay sau khi quyết định bán, cần xem xét và quyết định bán chịu một phần
hoặc toàn bộ hàng hóa. Sau chức năng duyệt bán là chức năng chuyển giao hàng. Vào
lúc giao hàng, các chứng từ vận chuyển cũng được lập(hóa đơn vận chuyển hay vận
đơn). Đây cũng là thời điểm chấp nhận được ghi sổ bán hàng, một số trường hợp thì
hóa đơn bán hàng được lập đồng thời với vận đơn hoặc kiêm chức năng chứng từ vận
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
chuyển. Tiếp theo là gửi hóa đơn tính tiền cho người mua và ghi rõ nghiệp vụ bán
hàng. Hóa đơn được lập thành ba liên, là phương thức chỉ rõ cho khách hàng về số
tiền và thời hạn thanh toán của từng nghiệp vụ, vừa là căn cứ ghi sổ Nhật ký bán
hàng, theo dõi các khoản phải thu, lúc này doanh thu được ghi nhận. Sau khi thực
hiện các chức năng vè bán hàng cùng ghi sổ kế toán các nghiệp vụ, cần thực hiện tiếp
các chức năng thu tiền cả trong điều kiện bình thường và không bình thường. Trong
trường hợp phát sinh các khoản giảm trừ doanh thu, tùy thuộc vào nguyên nhân mà
kế toán ghi vào Nhật ký giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại hay chiết khấu thương
mại. Bước cuối cùng là sau khi thẩm định, kế toán cần xóa sổ các khoản phải thu
không thu được và lập dự phòng nợ khó đòi.
1.2.1.3.Tài khoản sử dụng và chứng từ sổ sách kế toán trong hạch toán doanh thu
1.2.1.3.1.Tài khoản sử dụng
TK 511: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Nội dung phản ánh trên TK 511 như sau:
TK 511: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
*Các khoản giảm trừ doanh thu theo
chế độ( Chiết khấu thương mại, Giảm giá
hàng bán, Hàng bán bị trả lại, thuế tiêu
thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế
VAT trực tiếp.
*Kết chuyển doanh thu thuần vào TK
911-Xác định kết quả kinh doanh.
*Doanh thu bán sản phẩm,
hàng hóa, và cung cấp dịch vụ
trong kỳ.
TK 511 cuối kỳ không có số dư và được chia thành bốn tài khoản cấp hai:TK
5111: Doanh thu bán hàng hóa: Phản ánh doanh thu và doanh thu thuần của lượng
hàng hóa tiêu thụ trong kỳ của doanh nghiệp.
TK 5112: Doanh thu bán thành phẩm: Phản ánh doanh thu và doanh thu thuần của
thành phẩm tiêu thụ trong kỳ của doanh nghiệp.
TK 5113: Doanh thu cung cấp dịch vụ” Phản ánh doanh thu và doanh thu thuần
của dịch vụ cung cấp trong kỳ của doanh nghiệp.
TK 5114: Doanh thu trợ cấp, trợ giá: Phản ánh các khoản trợ cấp, trợ giá của nhà
nước khi cung cấp các sản phẩm được nhà nước trợ cấp.
TK 512: Doanh thu nội bộ
Nội dung phản ánh trên TK 512 như sau:
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TK 512: Doanh thu nội bộ
*Thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp,
Hàng bán bị trả lại, Giảm giá hàng bán.
*Kết chuyển doanh thu thuần vào TK
911: Xác định kết quả kinh doanh.
*Tổng doanh thu nội bộ trongkỳ.
TK 512 cuối kỳ không có số dư và được chi tiết thành ba tài khoản cấp hai như sau:
TK 5121: Doanh thu bán hàng hóa: Phản ánh doanh thu của khối lượng hàng hóa đã
được xác định là tiêu thụ nội bộ. TK 5121 chủ yếu dùng cho các công ty thương mại.
TK 5122: Doanh thu bán thành phẩm: Phản ánh doanh thu của khối lượng thành
phẩm cung cấp giữa các đơn vị thành viên trong một công ty hay tổng công ty. TK
5122 chủ yếu dùng cho các doanh nghiệp sản xuất.
TK 5123: Doanh thu cung cấp dịch vụ: Phản ánh doanh thu của khối lượng cung
cấp dịch vụ hoàn thành cho các đơn vị thành viên trong công ty hay tổng công ty. TK
5123 chủ yếu sử dụng trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ.
Khi sử dụng TK 512 cần để ý rằng: TK này chỉ sử dụng cho các đơn vị thành viên
hạch toán phụ thuộc trong một công ty hay một tổng công ty. Nếu doanh thu bán
hàng cho các doanh nghiệp không trực thuộc công ty hay tổng công ty thì không hạch
toán vào TK này.
TK 521: Chiết khấu thương mại
Bên Nợ: Số chiết khấu thương mại phát sinh trong kỳ.
Bên Có: Kết chuyển số chiết khấu thương mại để ghi giảm doanh thu trong kỳ.
TK 521 không có số dư cuối kỳ và có ba tài khoản cấp hai như sau:
TK 5211: Chiết khấu hàng hóa
TK 5212: Chiết khấu thành phẩm
TK 5213: Chiết khấu dịch vụ
TK 532: Giảm giá hàng bán
Bên Nợ: Tất cả các khoản giảm giá đã chấp thuận cho khách hàng.
Bên Có: Kết chuyển giảm giá hàng bán để điều chỉnh giảm doanh thu.
TK 532 không có số dư cuối kỳ.
TK 531: Hàng bán bị trả lại
Bên Nợ: Phản ánh doanh thu của số hàng bán bị trả lại phát sinh trong kỳ.
Bên Có: Kết chuyển để điểu chỉnh giảm doanh thu lúc cuối kỳ.
TK 531 không có số dư cuối kỳ.
1.2.1.3.2.Chứng từ sổ sách kế toán
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Để hạch toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, kế toán thường sử dụng
các chứng từ và sổ sách sau:
Đơn đặt hàng của người mua: Nó thể hiện yêu cầu về hàng hóa, dịch vụ cần cung
cấp.
Chứng từ vận chuyển: Là chứng từ được lập vào lúc giao hàng, vận chuyển.
Hóa đơn bán hàng: Theo quy định hiện hành thì doanh nghiệp phải sử dụng một
trong các loại hóa đơn sau:
Hóa đơn GTGT( Mẫu 01-GTKL-3LL): dùng cho các doanh nghiệp nộp thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ. Khi bán hàng cần ghi đủ các yếu tố quy định trên
hóa đơn như giá bán chưa có thuế GTGT, thuế GTGT, tổng giá thanh toán…
Hóa đơn bán hàng( Mẫu 02-GTGT): dùng trong các doanh nghiệp nộp thuế
GTGT theo phương pháp trực tiếp hay nộp thuế tiêu thụ đặc biệt. Trên hóa đơn cũng
phải ghi đủ những yếu tố cần thiết.
Nếu doanh nghiệp đề nghị và được Bộ Tài chính chấp thuận thì doanh nghiệp có
thể sử dụng hóa đơn đặc thù. Trên háo đơn cũng phải ghi đủ những yếu tố cần thiết
như giá bán chưa thuế GTGT, thuế GTGT phải nộp…
Sổ Nhật ký bán hàng: Dùng để ghi chép các nghiệp vụ bán hàng phát sinh.
Sổ chi tiết doanh thu: Sổ này ghi chép doanh thu phát sinh, chi tiết theo từng mặt
hàng của doanh nghiệp.
Sổ cái doanh thu: Được ghi vào cuối kỳ, phản ánh tổng hợp TK 511 của doanh
nghiệp trong kỳ kế toán.
Ngoài ra, khi hạch toán chi tiết tiêu thụ, doanh nghiệp còn sử dụng các bảng kê
bán lẻ hàng hóa, dịch vụ, bảng thanh toán bán hàng đại lý…
1.2.1.4.Nguyên tắc hạch toán doanh thu
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14, kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ của doanh nghiệp được thực hiện theo một số nguyên tắc sau:
Nếu doanh nghiệp nhận gia công vật tư, hàng hóa thì doanh thu là số tiền gia công
thực tế được hưởng; không bao gồm giá trị vật tư, hàng hóa nhận gia công.
Với hàng hóa nhận đại lý, ký gửi thì doanh thu là phần hoa hồng bán hàng mà
doanh nghiệp được hưởng.
Nếu bán hàng theo phương pháp trả chậm, trả góp thì doanh thu ghi nhận theo giá
bán trả tiền ngay.
Những sản phẩm được xác định là tiêu thụ nhưng vì lý do về chất lượng, về quy cách
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét