Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Lý luận chung về vốn và tạo lập vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
dụng có thể thấy đơc trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng kí
kinh doanh với nhà nớc, về số tài sản đã hình thành từ vốn vay ngân
hàng Còn nhiều cách phân loại vốn khác nh thành vốn cố định và vốn lu
động, phân chia theo khoản mục.Mỗi cách phân loại sẽ phục vụ những mục
đích nhất định.
2. Các phơng thức tạo lập vốn của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trờng, các phơng thức tạo lập vốn cho doanh
nghiệp đợc đa dạng hóa. Vì thế, cơ hội huy động vốn của doanh nghiệp từ các
nguồn khác nhau là rất lớn. Về cơ bản doanh nghiệp có thể huy động vốn
theo các phơng thức sau đây:
2.1. Huy động vốn chủ sở hữu.
Có thể thấy rằng vốn chủ sở hữu là nguồn vốn quan trọng hàng đầu của
mọi doanh nghiệp. Nó có yếu tố để đánh giá sức mạnh về tài chính của doanh
nghiệp. Và nó cũng là căn cứ quan trọng để quyết định khả năng huy động
các nguồn vốn khác của doanh nghiệp.
2.1.1/ Ngân sách Nhà nớc cấp.
Đối với doanh nghiệp nhà nớc thì vốn chủ sở hữu sẽ do Ngân sách Nhà
nớc cấp. Đây là số vốn do Nhà nớc giao cho doanh nghiệp quản lý và sử dụng
trên cơ sở bảo toàn và phát triển vốn. Mức vốn Nhà nớc cấp phụ thuộc vào
yêu cầu nhiệm vụ Nhà nớc giao cho các doanh nghiệp. Nhà nớc có thể cấp
vốn ban đầu khi doanh nghiệp mới thành lập hoặc cấp vốn bổ sung trong quá
trình hoạt động. Tùy thuộc vảo khả năng ngân sách nhà nớc và mức độ kiểm
tra vốn của doanh nghiệp mà cơ chế cấp vốn cho doanh nghiệp ở mỗi nớc là
khác nhau. Ví dụ nh ở Pháp, các doanh nghiệp loại 1, hoạt động theo yêu cầu
của Nhà nớc, thì Nhà nớc cấp vốn 100%. Các doanh nghiệp do Nhà nớc quản
lý, nhng tự chọn chính sách phát triển, phải cạnh tranh với các doanh nghiệp
khác (loại 2) thì Nhà nớc không cấp vốn. Nhng trên thực tế thì vốn Nhà nớc
cấp cho các doanh nghiệp loại 1 cũng không đủ. Vì vậy, từ năm 1986, trở về
trớc Nhà nớc nắm toàn bộ các doanh nghiệp nhà nớc thuộc loại này. Từ 1986
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
trở lại đây, Nhà nớc cho t nhân tham gia, do đó, hiện nay ở Pháp, vốn Nhà n-
ớc và t nhân kết hợp với nhau rất đa dạng. ở Malaisia, các công ty thuộc sở
hữu Nhà nớc đợc cấp 100% vốn cố định ban đầu. Hàng năm, công ty phải trả
lãi (theo lãi suất u đãi) trên tổng số vốn đầu t của Nhà nớc. Trong các doanh
nghiệp này, Nhà nớc quản lý trực tiếp, toàn diện, doanh nghiệp phải sản xuất
theo kế hoạch của Nhà nớc. Nhng nếu Nhà nớc chỉ muốn nắm một phần hoạt
động của doanh nghiệp thì Nhà nớc thờng thông qua việc nắm cổ phần khống
chế của doanh nghiệp.
2.1.2/ Phát hành cổ phiếu.
Một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng là phát hành cổ phiếu để huy
động vốn cho doanh nghiệp. Đây là cách thức tạo lập vốn rất phổ biến trong
nền kinh tế thị trờng. Bằng cách phát hành một số lợng các cổ phiếu lớn với
mệnh giá thấp ra công chúng, doanh nghiệp đã tích tụ những luồng vốn nhỏ,
rải rác thành một lợng vốn khổng lồ đầu t vào doanh nghiệp. Những ngời mua
các cổ phiếu này trở thành các cổ đông, chủ sở hữu của doanh nghiệp, tức là
công ty cổ phần.
Có thể xem xét một số yếu tố cơ bản liên quan đến việc phát hành và
kiểm soát các loại cổ phiếu khác nhau.
2.1.2.1. Phát hành cổ phiếu thờng.
Cổ phiếu thờng là một loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu một
cách thực sự của cổ đông đối với công ty cổ phần. Đây là loại cổ phiếu mà thu
nhập của nó lên xuống phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của Công
ty. Cổ đông sở hữu cổ phiếu thờng đợc hởng những quyền lợi nhất định:
- Quyền tham gia kiểm soát và điều khiển các hoạt động của Công ty
- Quyền yêu cầu về thu nhập, đợc chi trả lợi tức cổ phần từ lợi nhuận
sau thuế. Cổ phiếu thờng không bị giới hạn trong chi trả cổ tức. Lợi
tức cổ phiếu thờng chi trả cho cổ đông tơng đơng với mức rủi ro mà
cổ đông chấp nhận.
- Quyền yêu cầu về tài sản (quyền yêu cầu đợc chi trả sau cùng khi
công ty phá sản).
- Quyền mua trớc (quyền đợc mua cổ phiếu khi công ty phát hành
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
chứng khoán mới). Trong khi đó mỗi cổ đông chỉ phải chịu một mức
trách nhiệm hữu hạn chính là phần vốn mà họ đã đầu t vào công ty.
Về phía Công ty phát hành: Với phơng thức huy động này, công ty tạo đ-
ợc luồng vốn chủ sở hữu khổng lồ làm tấm lá chắn chống đỡ mọi rủi ro trong
quá trình hoạt động. Vì thế, chi phí huy động vốn cao hơn so với chi phí huy
động bằng các chứng khoán khác. Chi phí này chính là lợi tức yêu cầu của
nhà đầu t. Huy động vốn bằng cổ phiếu thờng có những u điểm nhất định. Tr-
ớc hết, nó tạo ra một lợng vốn lớn an toàn. Công ty còn có thể linh hoạt thay
đổi lợng vốn chủ sở hữu này sao cho thích hợp. Mới thành lập, công ty có thể
chỉ phát hành một lợng cổ phiếu nhất định. Khi muốn giảm vốn cổ phần,
công ty có thể mua lại các cổ phiếu đang lu hành, giữ nó cho đến khi bán lại
hoặc hủy bỏ. Muốn tăng vốn cổ phần, công ty có thể tiến hành phát hành cổ
phiếu mới. Ngoài ra, xem xét sự biến động của thị giá cổ phiếu trên thị trờng
có thể thấy đợc phần nào hoạt động và các yếu tố ảnh hởng tới hoạt động của
công ty. Từ đó làm cơ sở cho công ty ra quyết định tài chính nhằm khuyếch
đại giá trị vốn chủ sở hữu.
Khi huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu mới phải lu ý tới nhiều
vấn đề. Do cổ phiếu tăng nên trong tơng lai lợi tức cổ phần có thể sẽ giảm ảnh
hởng tới thị giá của công ty trên thị trờng. Mặc dù các cổ đông cũ có quyền
mua trớc nhằm tránh hiệu ứng pha loãng quyền kiểm soát song công ty cần đề
phòng nguy cơ bị thôn tính. Vấn đề chống thôn tính, bảo vệ công ty trớc sự
thôn tính bằng cổ phiếu của các công ty khác là một khía cạnh đặc biệt. Do
đó phải tính đến tỷ lệ cổ phần tối thiểu mà mỗi cổ đông đợc phép nắm giữ để
duy trì tỷ lệ cân đối về sở hữu công ty.
2.1.2.2. Phát hành cổ phiếu u đãi.
Cổ phiếu u đãi thờng chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu
đợc phát hành. Nó có đặc điểm là thờng có tỷ lệ cổ tức cố định, không phụ
thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty. Ngời chủ của cổ phiếu
này có quyền đợc thanh toán lãi trớc các cổ đông thờng. Hội đồng quản trị
của công ty có thể thay đổi cách thức và tỷ lệ trả cổ tức cho cổ phiếu u đãi
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
theo từng năm để phù hợp với tình hình cụ thể.
Rất hiếm khi cổ đông u đãi có quyền bỏ phiếu một cách đầy đủ. Trong
một số công ty của Mỹ, đôi khi có quy định những trờng hợp ngoại lệ về
quyền bỏ phiếu của cổ đông u đãi. Tuy nhiên, nếu có ít nhất 2/3 cổ đông u
tiên nhất trí về một vấn đề nào đó thì ban lãnh đạo công ty phải xem xét ý
kiến của họ. Nếu các cổ đông u đãi không đợc trả cổ tức tới một giới hạn nào
đó, chẳng hạn sáu quý cổ tức của cổ phiếu u tiên bị nợ, thì các cổ đông của
những cổ phiếu đó có thể đợc quyền bỏ phiếu.
Khác với chi phí lãi vay đợc giảm trừ khi tính thuế thu nhập công ty, cổ
tức dành cho cổ đông u đãi đợc lấy từ lợi nhuận sau thuế, tức là không đợc
tính vào chi phí để giảm thuế. Đây chính là hạn chế của việc phát hành cổ
phiếu u đãi. Mặc dù vậy, nh đã đề cập cổ phiếu u đãi vẫn có những u điểm đối
với cả công ty phát hành và nhà đầu t. Những điều kiện u đãi làm giảm rủi ro
cho loại cổ phiếu này và nh vậy có thể tăng tính hấp dẫn đối với nhà đầu t và
giảm chi phí huy động cho nhà phát hành.
Tóm lại, mặc dù chi phí cao song huy động vốn bằng cách phát hành cổ
phiếu cho phép tạo đợc một luồng vốn lớn, an toàn. Tuy nhiên việc huy động
này đòi hỏi phải có sự chuẩn bị về thời gian và điều quan trọng là doanh
nghiệp phải có đợc uy tín trên thị trờng vì doanh nghiệp có làm ăn tốt, tình
hình tài chính vững vàng mới có khả năng thắng lợi trong huy động vốn bằng
phát hành cổ phiếu.
2.1.3/ Tài trợ nội bộ.
Tài trợ nội bộ là phơng thức huy động vốn quan trọng đối với doanh
nghiệp. Có hai hình thức để thực hiện tài trợ nội bộ: Tái đầu t thông qua chính
sách phân phối cổ tức và phát hành cổ phiếu nội bộ. Điểm chung của cả hai
hình thức này đó là cổ đông chấp nhận hởng một mức lợi tức cổ phần thấp
hơn hoặc không nhận lợi tức cổ phần mà đầu t toàn bộ lợi nhuận sau thuế để
mở rộng quy mô của công ty. Nh vậy, cổ đông không bị chia sẻ quyền kiểm
soát công ty và họ có thể hởng toàn bộ giá trị thặng d thu đợc từ đầu t bao
gồm cổ tức tăng thêm và chênh lệch giá cổ phiếu trên thị trờng. Theo hình
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
thức thứ nhất, việc tái đầu t đợc thực hiện bằng cách ghi tăng giá trị sổ sách
của cổ phiếu. Giá trị danh nghĩa của cổ phiếu tăng sẽ làm tăng thị giá cổ
phiếu. Theo hình thức thứ hai, công ty sẽ phát hành thêm cổ phiếu thông th-
ờng cho các cổ đông của công ty. Cổ đông sẽ nhận cổ phiếu thay vì nhận thu
nhập của họ dới dạng cổ tức. Việc phát hành cổ phiếu thêm sẽ ảnh hởng tới
thị giá cổ phiếu. Vì vậy, để đảm bảo cho quyền lợi của cổ đông, cổ đông sẽ đ-
ợc hởng chính sách u đãi về giá.
Huy động vốn theo phơng thức này có nhiều lợi điểm:
- Tránh việc pha loãng quyền kiểm soát của các cổ đông,
- Không dẫn đến việc giảm lợi tức trên mỗi cổ phần trong tơng lai nh
việc phát hành cổ phiếu mới,
- Tránh đợc nguy cơ bị thôn tính sáp nhập.
Tuy nhiên chi phí cho huy động vốn cao. Các cổ đông kỳ vọng vào một
mức lợi tức cao hơn mới chấp nhận chính sách tái đầu t này. Vì vậy huy động
vốn phải chú ý đến hiệu quả của việc tái đầu t. Một hạn chế nữa của phơng
thức huy động vốn này đó là đôi khi lợi nhuận để lại không đủ đáp ứng nhu
cầu về vốn cho mở rộng sản xuất kinh doanh. Vì vậy, đôi khi các công ty
không thực hiện biện pháp này hoặc chỉ coi đó nh là giải pháp bổ sung cho
những hình thức huy động vốn khác. Tuy nhiên có thực hiện đợc cách thức
tạo lập vốn này hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Nói chung, ở
những nớc đang phát triển, yếu tố lợi tức là quan trọng, vì thế các cổ đông
thích nhận thu nhập dới dạng cổ tức. Trong khi đó, đối với các nớc phát triển,
các cổ đông quan tâm nhiều hơn tới yếu tố tăng giá cổ phiếu và do đó, trong
chính sách phân phối cổ tức, công ty sẽ chú trọng nhiều hơn tới vấn đề tái đầu
t từ lợi nhuận để lại. Nhiều công ty đặt ra mục tiêu phải có một khối lợng lợi
nhuận để lại đủ lớn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng. Chẳng hạn ở
Pháp, tài trợ nội bộ của các công ty chiếm 54% tổng nguồn vốn, ở Đức là
65,5%, Anh là 68,3%, ở Nhật, con số này lên tới 71,3%. Còn các công ty Mỹ
thì rất coi trọng huy động vốn theo phơng thức này. Lợi nhuận để lại bổ sung
vào vốn chiếm tới 82,8% tổng nguồn vốn.
2.2. Phát hành trái phiếu.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Phát hành trái phiếu công ty là một hình thức tạo lập vốn trung và dài
hạn cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp sử dụng hình thức này khi huy động
vốn chủ sở hữu không đủ đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn, hoặc không
thích hợp, hiệu quả bằng hình thức này và nhiều lý do khác. Cũng nh hình
thức phát hành cổ phiếu, doanh nghiệp muốn thắng trong việc phát hành trái
phiếu thì doanh nghiệp cần phải có uy tín, tình hình tài chính lành mạnh và
xu thế phát triển tốt Tuy nhiên ở đây, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm
đối với số vốn có đợc từ phát hành trái phiếu nh một khoản nợ và có trách
nhiệm trả nợ cho khoản vốn đó bởi trái phiếu là một chứng chỉ vay nợ chứng
nhận trái chủ đã cho doanh nghiệp vay một số vốn nhất định trong một
khoảng thời gian nhất định với lãi suất xác định.
Một trong những vấn đề cần xem xét trớc khi phát hành là lựa chọn loại
trái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và tình
hình trên thị trờng tài chính. Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan
trọng vì có liên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lu hành và
tính hấp dẫn của trái phiếu. Trớc khi quyết định phát hành, nhà phát hành cần
hiểu rõ đặc điểm và u nhợc điểm của mỗi loại trái phiếu.
2.2.1/Trái phiếu có lãi suất cố định.
Đây là loại trái phiếu công ty phổ biến nhất đợc các doanh nghiệp sử
dụng để huy động vốn trung dài hạn. Đặc điểm của loại trái phiếu này là lãi
suất danh nghĩa đợc ghi ngay trên mặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt
kỳ hạn của nó. Nh vậy cả doanh nghiệp lẫn ngời giữ trái phiếu đều biết rõ
mức lãi suất của khoản nợ trong suốt thời gian tồn tại (kỳ hạn) của trái phiếu.
Cách thức trả gốc và trả lãi cũng thờng đợc quy định rõ khi phát hành trái
phiếu, chẳng hạn trả gốc cuối kỳ trả lãi hai lần trong năm, Với loại trái
phiếu này, doanh nghiệp có thể chủ động trong việc tính toán chi phí lãi vay
để xác định hiệu quả của việc đi vay, trong thiết lập ngân quỹ để trả lãi cũng
nh kế hoạch trả gốc và thay thế bằng các nguồn tài chính khác khi trái phiếu
đáo hạn. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần lu tâm tới mức độ hấp dẫn của trái
phiếu khi phát hành. Tính hấp dẫn phụ thuộc vào một số yếu tố sau:
- Lãi suất của trái phiếu: Lãi suất của trái phiếu phải đặt trong mối tơng
quan so sánh với lãi suất trên thị trờng vốn, với lãi suất kho bạc Nhà
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nớc, với lãi suất cùng loại của các doanh nghiệp cạnh tranh khác.
- Kỳ hạn của trái phiếu: Công ty phải tính đến sự a thích và lựa chọn
của công chúng khi định ra kỳ hạn của trái phiếu.
- Uy tín tài chính của công ty và mức độ rủi ro: Công ty càng vững
chắc về mặt tài chính và có khả năng phát triển thì mức độ rủi ro nói
chung càng thấp và càng thu hút đợc công chúng mua trái phiếu của
công ty. Ngoài ra, khi phát hành cần chú ý tới mệnh giá để có thể tạo
ra sự lu thông dễ dàng cho trái phiếu trên thị trờng.
2.2.2/ Trái phiếu có lãi suất thả nổi.
Đây là loại trái phiếu có lãi suất phụ thuộc vào một số nguồn lãi suất
quan trọng nh lãi suất LIBOR hoặc lãi suất cơ bản. Phát hành loại trái phiếu
này thích hợp trong điều kiện có mức lạm phát khá cao và lãi suất thị trờng
không ổn định. Tuy nhiên, có một vài nhợc điểm khi công ty tiến hành huy
động vốn bằng hình thức này:
- Công ty không thể biết chắc chắn về chi phí lãi vay của trái phiếu.
Điều này gây khó khăn một phần cho việc lập kế hoạch tài chính.
- Việc quản lý trái phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn do phải thông
báo các lần điều chỉnh lãi suất.
2.2.3/ Trái phiếu có thể thu hồi.
Một số doanh nghiệp lựa chọn phát hành trái phiếu có thể thu hồi, tức là
doanh nghiệp có thể mua lại vào một thời gian nào đó (chuộc lại trái phiếu).
Loại trái phiếu nh vậy phải đợc quy định công khai ngay khi phát hành để ng-
ời mua trái phiếu đợc biết. Phải quy định rõ về thời gian và giá cả khi công ty
chuộc lại trái phiếu. Thông thờng, ngời ta quy định thời hạn tối thiểu mà trái
phiếu sẽ không bị thu hồi. Loại trái phiếu này có u điểm là đợc dùng nh một
cách điều chỉnh lợng vốn sử dụng. Khi cần thiết, công ty có thể mua lại các
trái phiếu tức là giảm số vốn vay và thay trái phiếu loại này bằng nguồn tài
chính khác.
2.3. Đi vay từ các tổ chức tài chính trung gian.
Trong nền kinh tế thị trờng, huy động vốn thông qua hệ thống các tổ
chức tài chính trung gian là một hình thức huy động vốn khá phổ biến và rất
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
quan trọng đối với các doanh nghiệp. ở những nớc phát triển, mặc dù thị trờng
chứng khoán là một kênh tạo vốn rất quan trọng đối với doanh nghiệp, nhng
vẫn có gần 70% lợng vốn của nền kinh tế đợc luân chuyển thông qua kênh
dẫn vốn gián tiếp này. Đối với những nớc có thị trờng chứng khoán cha phát
triển, nguồn vốn từ các tổ chức tài chính trung gian đặc biệt các ngân hàng
thơng mại càng trở nên quan trọng hơn. Hình thức tạo lập vốn này cho phép
doanh nghiệp có cơ hội, khả năng tiếp cận với một lợng vốn đủ lớn để doanh
nghiệp có thể sử dụng vào mục đích chiến lợc, dài hạn. Nguồn vốn từ các
ngân hàng thơng mại còn tạo cho doanh nghiệp một luồng vốn ngắn hạn
thích hợp đáp ứng nhu cầu vốn lu động tránh sử dụng các nguồn dài hạn một
cách lãng phí. Nói chung đây là nguồn vốn vay tơng đối linh hoạt. Các điều
khoản nh khối lợng vay, phơng thức giải ngân, lãi suất, lịch trình hoàn trả
đều đợc thỏa thuận giữa ngân hàng và doanh nghiệp và đợc phản ánh trên hợp
đồng tín dụng.
Doanh nghiệp có thể vay dài hạn hoặc vay ngắn hạn từ các tổ chức tài
chính trung gian tùy theo nhu cầu về vốn vay:
2.3.1/ Vay dài hạn: Là hình thức doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng,
các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính với thời gian đáo hạn trên 1 năm.
Khi cho vay các tổ chức tài chính trung gian thờng xem xét rất kỹ lỡng về
tình hình tài chính doanh nghiệp, về tính khả thi của dự án xin vay để đánh
giá khả năng trả lãi và gốc nợ vay. Doanh nghiệp có thể vay theo nhiều hình
thức: vay thế chấp, vay tín chấp hay vay có bảo lãnh. Song thông thờng, đặc
biệt là với những khoản vay có khối lợng lớn và dài hạn, vay có thế chấp hay
có tài sản bảo đảm là phổ biến, các hình thức khác chỉ là bổ sung. Ngân hàng
dựa trên giá trị của tài sản bảo đảm, đặc tính cũng nh tính dễ hoán chuyển của
nó trên thị trờng để xác định khối lợng cho vay. Ngoài ra còn căn cứ vào nhu
cầu xin vay và các điều kiện khác. Tài sản bảo đảm là một vấn đề khó khăn
của doanh nghiệp khi vay dài hạn ở các ngân hàng. Một số doanh nghiệp
không có đủ tài sản thế chấp để đảm bảo xin vay một lợng vốn lớn. Một số
doanh nghiệp khác nếu đem thế chấp dây chuyền công nghệ sẽ không thể tiến
hành đổi mới công nghệ bắt kịp nhu cầu thị trờng. Một điểm cần nhấn mạnh
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nữa đối với các khoản nợ vay dài hạn từ ngân hàng là thông thờng các khoản
nợ vay sẽ đợc trả dần dần theo định kỳ trong suốt thời hạn cho vay thay vì đợi
đến ngày đáo hạn thì trả hết một lần. Nh vậy có nghĩa là thời hạn thực tế của
khoản vay bị thu ngắn và chi phí nợ vay lúc này hay lãi suất thực của vốn vay
là cao hơn lãi suất danh nghĩa đã đợc thỏa thuận. Về phí tổn vay vốn dài hạn
từ ngân hàng thì có thể thay đổi theo giá trị tiền vay, tình hình tài chính và cả
phẩm chất của ngời đi vay cùng nhiều yếu tố khác. Lãi suất có thể cố định
hoặc linh hoạt thay đổi trong suốt thời hạn vay tuỳ theo thỏa thuận của hai
bên. Những điểm lợi chính của vay dài hạn từ các tổ chức tài chính trung gian
đó là khi đồng ý cho vay, ngời cho vay bảo đảm trớc một thời hạn khá lâu là
sẽ có vốn cho ngời vay lúc cần sử dụng đến, khác với các hình thức huy động
vốn trung dài hạn khác nh phát hành cổ phiếu, trái phiếu cần phải thắng lợi
trong phát hành thì mới có vốn. Ngân hàng có thể là nguời rất sành sỏi trong
lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp hoặc dự án xin vay và sẽ trở thành ngời
t vấn đắc lực đa doanh nghiệp đến chỗ thành công. Đây là mối lợi vô hình mà
nhiều khi là rất đáng kể.
2.3.2/ Vay ngắn hạn: Trong các tổ chức tài chính trung gian thì dờng
nh chỉ có ngân hàng là đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho doanh nghiệp. Đây
là phơng thức tạo lập vốn ngắn hạn chủ yếu. Một doanh nghiệp có thể vay
vốn ngắn hạn từ các ngân hàng bằng nhiều hình thức. Có thể kể ra sau đây
một số hình thức cơ bản:
- Chiết khấu thơng phiếu: Thơng phiếu là chứng từ biểu thị một quan
hệ tín dụng, một nghĩa vụ trả tiền, đợc lập ra trên cơ sở các giao dịch thơng
mại. Chiết khấu thơng phiếu là nghiệp vụ qua đó ngân hàng dành cho khách
hàng đợc quyền sử dụng trớc thời hạn một khoản tiền của thơng phiếu sau khi
đã trừ đi khoản lãi phải thu tức tiền chiết khấu và các khoản chi phí chiết
khấu. Đây là hình thức tạo vốn ngắn hạn nhằm bổ sung nhu cầu vốn một cách
tức thời khi doanh nghiệp cần đến. Khoản chênh lệch giữa số tiền của thơng
phiếu và số tiền nhận đợc từ việc chiết khấu thơng phiếu chính là chi phí cho
hình thức huy động này. Chi phí này chủ yếu dựa trên lãi suất chiết khấu của
ngân hàng Trung ơng song phụ thuộc rất nhiều vào chất lợng thơng
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phiếu.Chất lợng thơng phiếu tốt thì chi phí thấp và ngợc lại ngân hàng cảm
thấy khả năng thu hồi vốn từ thơng phiếu kém thì chi phí cao bù đắp cho rủi
ro mà ngân hàng phải gánh chịu. Tuy nhiên, nếu chất lợng thơng phiếu quá
tồi ngân hàng sẽ không tiến hành nghiệp vụ cho doanh nghiệp.
- Vay theo hợp đồng: Hình thức cho vay này đợc áp dụng khi một công
ty có những hợp đồng về sản xuất, gia công cho khách hàng thì ngân hàng có
thể cho vay căn cứ vào các hợp đồng đã đợc ký kết. Hình thức cho vay theo
hợp đồng tỏ ra tơng đối phù hợp với những doanh nghiệp nhỏ.
- Tạo vốn bằng cách bán nợ: Một công ty nào đó có thể gia tăng nguồn
vốn ngắn hạn bằng các khoản nợ của mình. Các tổ chức mua nợ thờng là một
ngân hàng, một công ty tài chính hay một công ty mua nợ. Những khoản nợ
đợc mua cao hay thấp tuỳ thuộc vào tính chất và mức độ khó đòi. Sự chênh
lệch giữa giá trị khoản nợ và giá mua bán nợ chính là chi phí cho việc tạo vốn
bằng cách bán nợ. Đối với những khoản nợ khó đòi thì chi phí này rất cao tuy
nhiên nó làm lành mạnh hóa tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Ngoài ra, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn bằng cách thế chấp các
khoản phải thu, thế chấp bằng hàng hóa
- Vay theo hạn mức tín dụng: Khi phát sinh nhu cầu bổ sung vốn một l-
ợng nhất định và thời hạn xác định, doanh nghiệp sẽ làm đơn xin vay và vay
một trong các hình thức nói trên. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp có nhu cầu vốn
bổ sung thờng xuyên trong suốt quá trình kinh doanh, doanh nghiệp sẽ thực
hiện vay theo hạn mức tín dụng và phải đáp ứng những điều kiện nhất định
mà ngân hàng đặt ra. Theo hình thức này, doanh nghiệp và ngân hàng thỏa
thuận một hạn mức tín dụng cho một thời gian nhất định (ví dụ một năm).
Hạn mức tín dụng đợc xác định dựa trên nhu cầu vốn bổ sung của doanh
nghiệp và mức cho vay tối đa mà ngân hàng có thể chấp nhận. Căn cứ vào
hạn mức tín dụng đã thỏa thuận, doanh nghiệp có thể nhận tiền vay bất cứ lúc
nào mà ngân hàng không cần thẩm định lại, nhng tổng các món nợ sẽ không
vợt quá hạn mức đã xác định. Hạn mức tín dụng đợc ngân hàng tạo sẵn cho
công ty là do mối quan hệ kinh tế giữa họ. Nhng thông thờng, hạn mức này
mỗi năm đợc thỏa thuận lại một lần tùy thuộc vào tình hình cụ thể. Đây là
hình thức tạo lập vốn có chi phí rất thấp nhng đôi khi cũng có một số trục trặc
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét