Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
3.Ưu thế của sản xuất hàng hóa
Lịch sử phát triển sản xuất của xã hội là từ sản xuất tự cấp, tự túc tiến lên
sản xuất hàng hóa (hay từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hóa). So với nền sản
xuất tự cấp tự túc thì sản xuất hàng hóa có những u thế hơn hẳn về nhiều mặt.
Thứ nhất, nền sản xuất tự cấp tự túc là nền sản xuất khép kín làm cho nền
sản xuất bị hạn chế không phát triển mặt khác sản xuất hàng hóa là sản xuất ra
sản phẩm để bán nên nhu cầu là rất lớn và không ngừng tăng lên bởi vậy nó là
động lực để thúc đẩy sản xuất phát triển .
Thứ hai , sản xuất tự cấp tự túc là sản xuất trong một môi trờng không có
cạnh tranh, sản xuất với qui mô nhỏ, nhu cầu chủ yếu dựa vào nguồn lực tự
nhiên nên không có động lực mạnh cho việc đổi mới kỹ thuật và phát triển sản
xuất hơn nữa, những nguồn lực tự nhiên thì bị sử dụng một cách rất lãng phí.
Còn môi trờng hoạt động của sản xuất hàng hóa là một môi trờng cạnh tranh
gay gắt, qui mô sản xuất lớn, nguồn lực tự nhiên ngày càng khan hiếm, điều này
buộc những ngời sản xuất phải cải tiến kỹ thuật, linh độnh trong việc sử dụng
tài nguyên thiên nhiên, trái với sản xuất tự cấp tự túc, đây là động lực mạnh mẽ
cho sự phát triển của xã hội.
Thứ ba, đối với sản xuất tự cấp tự túc do sản xuất phát triển thấp, sản phẩm
ít và nhu cầu thấp nên ở mỗi vùng và các vùng với nhau, đời sống vật chất, văn
hóa, tinh thần rất nghèo nàn và thấp kém, không có sự giao lu trao đổi văn hóa
giữa các vùng. Nhng sản xuất hàng hóa khắc phục đợc tình trạng này, do sản
xuất hàng hóa phát triển với vai trò động lực của nhu cầu, giao lu văn hóa, kinh
tế đợc phát triển nên đời sống vật chất cũng nh đời sống tinh thần của nhân dân
đều đợc nâng cao ngày càng phong phú và đa dạng, tạo điều kiện cho phát triển
độc lập, tự do bình đẳng của mỗi cá nhân.
Thứ t , nền sản xuất tự cấp tự túc khép kín đã cản trở sự phát triển của phân
công lao động xã hội, trái lại do sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở phân công
lao động xã hội, thúc đẩy sự chuyên môn hóa các ngành sản xuất, làm cho các
ngành sản xuất ngày càng đợc chuyên môn hóa và phát triển mạnh mẽ, trình độ
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
kỹ thuật ngày càng đợc nâng cao, trên thế giới hiện nay khoa học ky thuật phát
triển vô cùng nhanh chónh nhất là trong lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử
4.Sự tồn tại khách quan của kinh tế hàng hóa tronh thời kỳ quá độ.
Ta thấy rằng, từ khi chủ nghĩa xã hội ra đời và phát triển nh một hệ thống
thế giới cho đến trớc thập kỷ 80, vấn đề có hay không tồn tại của nền sản xuất
hàng hóa trong chủ nghĩa xã hội luôn là đề tài tranh luận trong giới nghiên cứu
lý luận Mac xít. Nhìn chung, về phơng diện lý luận, quan điểm chính thống chi
phối trong suốt mấy thập kỷ qua là quan niệm: kinh tế xã hội chủ nghĩa là nền
kinh tế phát triển theo quy luật cân đối và có kế hoạch cùng với các quy luật
kinh tế đặc thù khác của chủ nghĩa xã hội, Nhà nớc có vai trò chủ yếu trong quá
trình tái sản xuất và phân phối sản phẩm mà không cần đến các quan hệ trao đổi
hàng hóa trên thị trờng. Kinh tế hàng hóa bị coi nhẹ, đợc coi là đặc trng riêng
của chủ nghĩa t bản cần phải đợc hạn chế và đi tới xoá bỏ. Nhng trên thực tế
chính điều đó là nguyên nhân chủ yếu làm trì trệ , kìm hãm đa một số nền kinh
tế của các quốc gia xã hội chủ nghĩa đến khủng hoảng và tan vỡ. Từ những thực
tế trên ta thấy quan điểm cho rằng sản xuất hàng hóa là đặc trng riêng của chủ
nghĩa t bản là hoàn toàn sai lầm. Mặt khác theo C.Mac sản xuất hàng hóa ra
đời trên cơ sở phân công lao động xã hội và chế độ t hữu về t liệu sản xuất bởi
vậy sản xuất hàng hóa tồn tại trong thời kỳ quá độ là một tất yếu khách quan vì:
Thứ nhất, khi mà phân công lao động xã hội phát triển kéo theo chuyên
môn hóa sản xuất ngày càng sâu sắc, từ đó sẽ nảy sinh thêm những mối liên hệ
kinh tế, những sự trao đổi hoạt động lao động trong xã hội.
Thứ hai, đặc điểm kinh tế của thời kỳ quá độ đó là nền kinh tế nhiều thành
phần với nhiều hình thức sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất, nhiều chủ thể
kinh tế khác nhau. Những chủ thể kinh tế này tách biệt, độc lập với nhau nhng
họ đều nằm trong một hệ thống phân công lao động xã hội, do đó sản xuất và
đời sống của họ vẫn có sự phụ thuộc lẫn nhau và quan hệ kinh tế giữa họ chỉ có
thể thực hiện bằng con đờng trao đổi hàng hóa tức là phải có sản xuất hàng hóa.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thứ ba, quan hệ hàng hóa tiền tệ là hình thức cần thiết thuận lợi để đảm
bảo sự công bằng trong quan hệ giữa kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, vì
hai đơn vị này tuy cùng là sở hữu công cộng về t liệu sản xuất nhng nó vẫn có
sự tách biệt nhất định và có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, cạnh tranh hay
hiệp tác với nhau, nó còn có sự khác nhau về trình độ kỹ thuật, trình độ quản lý,
về hiệu qủa sản xuất kinh doanh dẫn đến có sự khác biệt nhau về lợi ích kinh tế,
chúng ta không thể dùng phơng pháp bình quân, cào bằng ở đây đợc.
Thứ t, sản xuất hàng hóa và quan hệ hàng hóa tiền tệ còn chính là điều
kiện cần thiết và tất yếu trong quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các nớc trên thế
giới bởi vì mỗi nớc vẫn là những quốc gia riêng biệt, là những chủ sở hữu khác
nhau về sản phẩm hàng hóa.
Từ những lý do trên đây ta nhận thấy trong thời kỳ quá độ sản xuất hàng
hóa tồn tại là một tất yếu và cần thiết không thể cỡng lại và không thể dùng
mệnh lậnh để ngăn cấm, xóa bỏ sản xuất hàng hóa.
II.Tính tất yếu khách quan phải phát triển kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần ở Việt Nam.
1. Do yêu cầu của phát triển lực lợng sản xuất.
Lực lợng sản xuất phát triển tỷ lệ thuận với tiến trình tập trung và xã hội
hóa quan hệ sở hữu mà đỉnh cao của nó là sở hữu toàn dân. Sự hình thành của
các tập đoàn kinh tế, các công ty cổ phần, công ty đa quốc gia và xuyên quốc
gia chính là những biểu hiện của quá trình xã hội hóa quan hệ sở hữu ở một
trình độ nhất định. Khi mà lực lợng sản xuất đang ở mức thấp thì tơng ứng với
nó là sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu nhỏ và phân tán.
Thế giới ngày nay do phát triển lực lợng sản xuất của khoa học, công nghệ
mà giàu có rất nhanh nhng đi liền với nó là bất công xã hội ngày càng nhiều, sự
giàu có phát triển không làm cho bất công xã hội giảm đi mà ngày càng phát
triển, để giải quyết mâu thuẫn này không có cách nào khác là khi tăng trởng
kinh tế phải đi đôi với giải quyết công bằng xã hội, nhng giải quyết công bằng
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
xã hội ở đây không có nghĩa là cào bằng, sự siêng năng, tích cực và biếng nhác,
làm ăn có hiệu quả đều đợc hởng nh nhau, làm nh vậy sẽ làm triệt tiêu động lực
phấn đấu của con ngời, ở đây cần phải dùng quan hệ hàng hóa tiền tệ để phân
chia quyền lợi, chỉ có làm nh vậy mới giảm bớt đợc bất công của xã hội. Hơn
nữa trình độ phát triển lực lợng sản xuất ở nớc ta còn ở mức rất thấp, sự phân
công lao động xã hội gắn với sự tồn tại nhiều chủ thể sở hữu khác nhau nh các
thực thể kinh tế độc lập, do vậy việc trao đổi sản phẩm không thể thực hiện
bằng cách nào khác là thực hiện trao đổi hàng hóa thông qua tiền tệ.
Trong thời kỳ quá độ của nớc ta hiện nay muốn phát triển lực lợng sản
xuất thì phải nâng cao xã hội hóa và chuyên môn hóa lao động mà điều này chỉ
có thể diễn ra thuận lợi trong nền kinh tế thị trờng.
Ngày nay, trên thế giới, do sự phát triển của lực lợng sản xuất của khoa
học công nghệ, đang có xu hớng quốc tế hóa đời sống nhân loại, xu hóng này
mở ra cả chiều rộng và chiều nghịch, cả mặt tích cực và tiêu cực tác động đến
con ngời, đến các quốc gia. Xu thế này đòi hỏi sự giao lu hợp tác, hiểu biết lẫn
nhau giữa các vùng và các quốc gia. Do vậy cần phải phát triển sản xuất hàng
hóa ở nớc ta để việc giao lu, hợp tác với các nớc khác trên thế giới đợc dễ dàng,
tiện lợi.
Mặt khác, sản xuất hàng hóa phát triển kéo theo lực lợng sản xuất phát
triển làm sản phẩm xã hội ngày càng phong phú đáp ứng đợc nhu cầu ngày càng
tăng của con ngời.
2.Do tồn tại nhiều thành phần kinh tế.
Việc đổi mới quản lý kinh tế sử dụng đúng đắn mối quan hệ hàng hóa tiền
tệ, quản lý bằng phơng pháp kinh tế là chủ yếu đã đợc đặt nền tảng t tởng bởi
nghị quyết đại hội VI (năm 1986) có tính quyết định cho việc lựa chọn chuyển
hoạt động của nớc ta sang cơ chế thị trờng nhằm nhanh chóng đa nớc ta thoát
khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. Từ những quan điểm đó chính phủ đã chủ tr-
ơng chuyển việc mua bán t liệu sản xuất, vật phẩm tiêu dùng từ cơ chế hành
chính quan liêu bao cấp sang việc mua bán thông qua thị trờng .
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần tơng ứng với nhiều hình thức sở hữu
khác nhau về t liệu sản xuất là cơ sở kinh tế gắn liền với nó là sự tồn tai và phát
triển kinh tế hàng hóa. Đối với nền kinh tế nớc ta với lực lợng sản xuất cha đồng
đều chúng ta đã nhận định đợc rằng chỉ có phát triển kinh tế nhiều thành phần
mới có khả năng khắc phục đợc tình trạng không đồng đêù đó của lực lợng sản
xuất.
Hiện nay, nớc ta vẫn đang phải gánh chịu những hậu qủa nặng nề do sự sai
lầm về đờng lối, chính sách thời trớc đổi mới, hậu qủa chúnh ta phải gánh chịu
đó là nền kinh tế kèm phát triển, làm mất khả năng cạnh tranh và những tác
dụng tích cực của kinh tế hàng hóa. Nền kinh tế nhiều thành phần là nguồn lực
tổng hợp về nhiều mặt (huy động đợc mọi tiềm năng về vốn, kỹ thuật và phát
huy đợc mọi tiềm năng của con ngời Việt Nam) có khả năng đa nền kinh tế vợt
qua đựơc tình trạng thấp kém đa nền kinh tế hàng hóa phát triển ngay trong điều
kiện nguồn vốn, ngân sách của Nhà nớc còn hạn hẹp.
Một điều có ý nghĩa khá lớn mà chúng ta đã nhận định đợ đó là : do trong
nền kinh tế hàng hóa chịu sự tác dụng của sự thay đổi cơ cấu ngành theo hớng
ngành kinh tế dịch vụ phát triển nhanh chóng, bởi vậy lao động dịch vụ trong
ngành dịch vụ có khả năng thu hút nguồn lao động không nhỏ, góp phần giải
quyết đợc vấn đề công ăn việc làm ở nớc ta hiện nay. Trong điều kiện đó các
thành phần kinh tế có khả năng mở rộng, tác dụng làm cho kinh tế hàng hóa và
dịch vụ phát triển.
Vậy đối với nớc ta hiện nay, việc xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa là một nhu cầu khách quan, là xu
thế tất yếu hợp với thời đại.
3.Do đòi hỏi nâng cao đời sống nhân dân
Vào thời kỳ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX này, dân tộc ta bị
sống đoạ đày dới ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai. Trong
ách áp bức bóc lột nhiều phong trào yêu nớc đã kế tiếp nhau diễn ra để chống
lại bọn cớp nớc và bè lũ bán nớc nhng những phong trào đó lần lợt bị thất bại do
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
không tìm đợc ra con đờng đúng đắn. Trong bối cảnh đó Hồ Chí Minh với tên
gọi Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đờng cứu nớc tại bến cảng nhà Rồng và ngời
đã tìm ra con đờng đúng đắn để giải phóng dân tộc. Ngày từ những ngày đầu
của chính quyền cách mạng mới giành đợc, ngời đã nêu bật một chân lý nớc
độc lập mà dân không đợc hởng hạnh phúc thì độc lập chẳng có ý nghĩa gì và
ngời thờng căn dặn thắng đế quốc và phong kiến là tơng đối khó nhng thắng
nghèo nàn, lạc hậu mới khó khăn hơn nhiều.
Đối với nớc ta trong thời kỳ trớc đổi mới (1986) do những sai lầm trong
nhận thức về mô hình xã hội chủ nghĩa, cho rằng kinh tế hàng hóa là đặc trng
riêng của chủ nghĩa t bản, điều này đã làm cho nền kinh tế nớc ta lâm vào
khủng hoảng trầm trọng , lạm phat gia tăng một cách khủng khiếp (có thời kỳ
lên tới 600 700%) đời sống nhân dân khổ cực.
Trớc những thực trạng đó của đất nớc Đảng ta đã nhận ra sai lầm và đã đề
ra phơng hớng đổi mới đất nớc đó là vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trờng
có sự quản lý của Nhà nớc kể từ sau đại hội VI (1986). ở nông thôn nớc ta, sự
phát triển kinh tế hàng hóa và việc tăng tỷ lệ hàng hóa nông sản đã làm cho
hàng hóa bán ra của nông dân nhiều lên, thu nhập tăng lên một cách đánh kể.
Thực tiễn những năm đổi mới đã chỉ ra rằng, việc chuyển sang mô hình
kinh tế thị trờng là hoàn tòan đúng đắn. Nhờ mô hình kinh tế đó mà những năm
vừa qua, chúng ta đã bớc đầu khai thác đợc tiềm năng trong nớc đi đôi với thu
hút vốn kỹ thuật nớc ngoài, phát triển lực lợng sản xuất.
III. Những giải pháp phát triển kinh tế hàng hóa.
1.Thực trạng kinh tế hàng hóa nớc ta hiện nay.
1.1.Những thành tựu đạt đợc khi có chính sách mới.
Cho đến cuối những năm 80 về cơ bản, trong nền kinh tế nớc ta, sản xuất
nhỏ vẫn còn là phổ biến, trạng thái kinh tế tự nhiên, hiện vật tự cung tự cấp còn
chiếm u thế. Xã hội Việt Nam về cơ bản vẫn dựa trên nền tảng của văn minh
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nông nghiệp lúa nớc, nông dân chiếm đại đa số. Việt Nam vẫn là một nớc
nghèo nàn, lạc hậu và kém phát triển.
Từ khi có chính sách đổi mới thành tựu nổi bật nhất đó là đẩy lùi đợc lạm
phát, chỉ trong một thời gian ngắn hàng loạt các đơn vị của thành phần kinh tế
kinh doanh thơng mại đợc hình thành , hoạt động trên mọi lĩnh vực từ xuất nhập
khẩu đến kinh doanh thiết bị nhỏ lẻ trên cả nớc. Các tổ chức này ra đời đã làm
cho thị trờng trở nên sôi động, khối lợng hàng hóa và tiền vốn từ nhiều nguồn đ-
ợc huy động vào lu thông với mức mà trớc đây cha khi nào có đợc. Việc ngăn
sông cám chợ đợc xoá bỏ, việc mua bán lu thông hàng hóa đợc dễ dàng, tình
trạng khan hiếm hàng hóa đợc đẩy lùi, hiện tợng chênh lệch giá giữa các vùng,
khu vực bị hạn chế, nạn độc quyền trong kinh doanh đợc giải quyết đáng kể, đời
sống xã hội đợc nâng lên.
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế của nớc ta phát triển tơng đối
nhanh và ổn định, lơng thực từ chỗ thiếu thốn cho đến nay không những đáp
ứng đợc nhu cầu trong nớc mà còn đa nơcông suất ta trở thành một nớc xuất
khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới, nhiều công trình trọnh điểm thuộc kết cấu
hạ tầng đợc xây dựng tạo thêm sức mạnh vật chất và thế cân đối cho bớc phát
triển tiếp theo.
Một thành tựu không nhỏ nữa, đó là việc xuất hiện nhiều khu công nghiệp
mới, ngành nghề mới đã tạo thêm nhiều việc làm cho lao động xã hội từ đó
những tệ nạn xã hội cũng dần đợc kiềm chế, sự tăng trởng kinh tế cũng đã góp
phần nâng cao đời sống các tầng lớp dân c, số hộ nghèo đói ở nớc ta cũng đợc
giảm đi đáng kể, nhiều hộ gia đình từ chỗ không đủ ăn, đến nay đã có đủ ăn
thậm chí có những hộ gia đình từ khi có chính sách kinh tế mới đã mạnh dạn
đầu t sản xuất và đã trở thành những ông chủ giàu có.
1.2.Những khó khăn và thách thức mới.
Tuy rằng nhng năm qua nớc ta đã đạt đợc những thành tựu to lớn, mức
sống của nhân dân đợc nâng lên một cách đáng kể, nhng bên cạnh đó cũng đặt
ra cho chúng ta những khó khăn và thách thức mới. Việc vực dậy nền kinh tế từ
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
không đến có hay từ đói nghèo lên đến đủ ăn, đủ mặc, dù giai đoạn này có khó
khăn nhng cũng thuận lợi và dễ nhìn hơn giai đoạn tiếp theo đó là từ đủ ăn, đủ
mặc tiến lên ăn ngon mặc đẹp ở mức cao hay một nền kinh tế từ có lên đến có
nhiều hơn nữa và tiến lên giàu mạnh hơn nữa.
Nền kinh tế của nơc ta tuy phát triển cao nhng cha vững chắc, nguồn phụ
thuộc nhiều vào nớc ngoài, huy động nguồng ở trong dân vào đầu t thấp, cha tạo
đợc tâm lý yên tâm cho dân ta mạnh dạn đầu t phát triển. Việc lu thông hàng
hóa và hoạt động thơng mại chủ yếu tập trung ở những vùng thành thị, khu
đông dân và những thành phố lớn, chú ý nhiều đến kinh doanh, khai thác hàng
nhập khẩu. Thị trờng nông thôn miền núi, hàng hóa sản phẩm trong nớc nhất là
hàng nông sản thì ít đợc chú ý. Quá trình mua bán diễn ra nhanh chủ yếu chạy
theo lợi nhuận trớc mắt đã làm cho thị trờng tronh nớc bị phân đoạn, tách rời,
động lực thúc đẩy sản xuất bằng nguồn lực nội tại trong nớc của thị trờng không
đợc phát huy.
Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội ở nớc ta còn ở trình độ thấp, bên cạnh
một số lĩnh vực, một số cơ sở kinh tế đã đợc trang bị máy móc, thiết bị công
nghệ hiện đại thì bộ phận lao động thủ công vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng số lao động xã hội. Trong nhiều ngành kinh tế do máy móc cũ kỹ, công
nghệ lạc hậu, nên sc cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trờng trong nớc
cũng nh ngoài nớc còn rất yếu, số lợng chất lợng hàng hóa làm ra còn thấp,
chuyên môn hóa sản xuất cha sâu, giao lu hàng hóa còn nhiều hạn chế hơn nữa
lại bị hàng nhập khẩu chèn ép, không xuất khẩu đợc nên nhiều doanh nghiệp
không phát huy đợc hết năng lực sản xuất.
Đội ngũ những nhà quản lý doanh nghiệp thành thạo còn qúa ít, cha đáp
ứng đợc nhu cầu to lớn thực tiễn, số lợng lao động thì lớn nhng số lơng lao động
đợc đào tạo kỹ thuật, có khả năng đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của những công
nghệ hiện đại trên thế giới còn chiếm tỷ lệ quá nhỏ dẫn đến tình trạng tuy có
nguồn lực dồi dào nhng không thể khai thác triệt để vì còn thiếu nhân lực có kỹ
thuật, có tay nghề. Hơn nữa, thu nhập của ngời làm công ăn lơng cũng nh của
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nông dân lao động còn thấp, do đó sức mua hàng cha cao làm cho dung lợng thị
trờng trong nớc còn ở mức nhỏ hẹp.
2Những giải pháp phát triển kinh tế hàng hóa Việt Nam.
2.1 Đẩy mạnh quá trình đa dạng hóa sở hữu tạo điều kiện phát triển
mạnh nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nớc ta.
a) Đối với kinh tế Nhà nớc
Trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, một vấn đề
quan trọng cần nắm đợc đó là kinh tế Nhà nớc phải đóng vai trò chủ đạo. Khi
mà kinh tế Nhà nớc đủ mạnh và giữ đợc vai trò chủ đạo thì sẽ lôi cuốn đợc các
thành phần kinh tế khác theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Nếu không, thì không
loại trừ khả năng thành phần kinh tế t bản t nhân sẽ lớn mạnh hơn và kéo nền
kinh tế quốc dân theo định hớng t bản chủ nghĩa, thêm nữa thành phần kinh tế t
bản t nhân đã, đang và sẽ đợc sự hậu thuẫn rất lớn của quốc tế. Nhất là trong bối
cảnh nớc ta hiện nay mọi thế lực chống đối, phản động đang tìm mọi cách cho
kinh tế t bản t nhân của nớc ta thắng thế.
Do vậy, để kinh tế Nhà nớc thắng thế chúng ta cần phải thực hiện một số
vấn đề:
Thành phần kinh tế Nhà nớc phải đợc xác định đúng về mô hình tổ chức và
định hớng phát triển, chọn đúng cán bộ tốt, có cơ chế, chính sách phù hợp để
thành phần kinh tế này không ngừng đợc củng cố và phát triển nhằm phát huy
đợc vai trò chủ đạo, để thực hiện và phát huy đợc vai troà chủ đạo thì doanh
nghiệp Nhà nớc cần phải đợc phát triển trong những lĩnh vực có ý nghĩa mở đ-
ờng, dẫn dắt nền kinh tế phát triển. Nó phải đảm bảo phát triển sản xuất hàng
hóa công cộng còn những lĩnh vực kinh doanh có khả năng sinh lợi thì nên để
cho các thành phần kinh tế khác phát triển.
Một bộ phận quan trọng của kinh tế Nhà nớc là doanh nghiệp Nhà nớc
phải phát triển trên nguyên tắc năng suất, chất lợng và hiệu quả ngày càng cao
và phải bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác (vì chỉ
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
trên cơ sở xác định đợc hiệu quả kinh tế xã hội rõ ràng, cụ thể mới có tiêu
chuẩn tìm chọn nhân tài, có đạo đức tốt, khả năng quản lý giỏi để đẩy nhanh
nhịp độ phát triển kinh tế) phải làm sao cho doanh nghiệp Nhà nớc trở thành
một công cụ để Nhà nớc có thể khắc phục đợc những khiếm khuyết của thị tr-
ờng và có thể can thiệp vào nền kinh tế bất cứ lúc nào cần thiết.
Hiện nay, trong cơ cấu thành phần kinh tế khu vực doanh nghiệp Nhà nớc
cha đợc quan tâm nhiều đến việc đầu t đổi mới công nghệ, giải quyết vốn lu
động để phát huy năng lực sản xuất, hiện nay vẫn còn nhiều doanh nghiệp hoạt
động kém hiệu qủa, còn quá nhiều doanh nghiệp nhỏ làm ăn thua lỗ kéo dài.
Tuy nhiên để khắc phục tình trạng trên chúng ta cần phải xắp xếp lại các doanh
nghiệp Nhà nớc theo hớng: nắm ngành, khâu, mặt hàng then chốt, chuyển hẳn
sang hạch toán kinh doanh, tự chủ về mọi mặt. Việc sắp xếp lại có thể tiến hành
dới nhiều hình thức khác nhau. Để kinh tế Nhà nớc hoạt động có hiệu qủa hơn,
phát huy đợc vai trò chủ đạo của mình, chúng ta cần đổi mới theo hớng sau:
Thứ nhất, hoàn thành việc phân định các doanh nghiệp hoạt động công ích
và các doanh nghiệp kinh doanh hoạt đọng có hiệu qủa cũng nh những doanh
nghiệp kinh doanh giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Nhà nớc cần tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp này có đủ số vốn lu động cần thiết, đợc vay vốn u
đãi đểb đổi mới thiết bị, công nghệ, kiện toàn tổ chức và đổi mới cơ chế quản
lý. Còn đối với những doanh nghiệp kinh doanh chuyển sang hoạt động theo cơ
chế công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần thật sự tự chủ thì phải tự
chịu trách nhiệm về kết quả hoạt độnh của mình.
Thứ hai, xác định loại doanh nghiệp đợc Nhà nớc đầu t 100% vốn, loại
doanh nghiệp mà Nhà nớc nắm số cổ phần khống chế và những doanh nghiệp
mà Nhà nớc chỉ cần giữ cổ phần ở mức thấp và đa dạng hóa sở hữ thông qua các
biện pháp: cổ phần hóa, cho thuê kinh doanh, chuyển nhợng quyền sở hữu và sử
dụng trên cơ sở khắc phục mọi trở ngại khách quan và chủ quan để đẩy
nhanh tiến độ phát triển. Hớng dẫn, đôn đốc việc cổ phần hóa các doanh nghiệp
theo những danh mục đã xác định, đảm bảo tiến độ triển khai và kịp thời rút
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét