Trang
5
lựa chọn trước, đó là các cá nhân, thể nhân, các định chế tài chính hoặc các tập đồn
kinh tế lớn. Các nhà đầu tư thường đầu tư một lượng vốn tương đối lớn và đổi lại họ
u cầu về kỹ năng quản lý quỹ rất cao để đảm bảo yếu tố sinh lợi trên số vốn đầu
tư. Vì vậy, quỹ đầu tư mạo hiểm là một quỹ đầu tư tư nhân.
• Cấu trúc hoạt động hai lớp
.
Nhà đầu tư cung cấp tài chính, còn các cơng ty quản lý quỹ (được th) sẽ chịu
trách nhiệm về mọi hoạt động đầu tư và rút vốn.
• Lợi tức dành cho các nhà quản lý quỹ
.
Là sự kết hợp giữa một khoản chi phí cố định (thường là thấp) cùng với một
phần trong khoản lợi nhuận thu được từ các dự án đầu tư mà họ chịu trách nhiệm
quản lý.
• Số lượng dự án nhiều
.
Dòng vào của các dự án phải nhiều, do thường là số dự án được xem xét để có
thể tiến tới một cuộc đàm phán là khá ít, cho nên hoạt động của vốn đầu tư mạo
hiểm này cũng đòi hỏi một nền kinh tế thật năng động và khuyến khích kinh doanh.
• Phần lớn là đầu tư gián tiếp
.
Hình thức đầu tư chủ yếu ban đầu của quỹ đầu tư mạo hiểm là đầu tư trực tiếp,
tuy nhiên từ đầu những năm 80, hình thức đầu tư đã thay đổi, việc tiến hành đầu tư
được thực hiện thơng qua nhà quản lý đầu tư tư nhân chun nghiệp. Xu hướng này
ngày càng phổ biến thể hiện tính chun mơn hóa trong lĩnh vực đầu tư vốn mạo
hiểm và dần hình thành ngành cơng nghiệp đầu tư vốn mạo hiểm .
• Có sẵn lối thốt vốn
:
Thị trường chứng khốn cung cấp một lối thốt “tự nhiên” cho các nhà đầu tư
mạo hiểm. Tuy nhiên, việc tạo ra nhiều kênh thốt vốn khác nhau như hợp nhất, bán
lại cơng ty đang quản lý hoặc chuyển quyền sở hữu cơng ty cũng là vấn đề quan
trọng. Vì vậy, hoạt động này đòi hỏi một thị trường với những qui định rỏ ràng hoặc
có tính chất quốc tế.
Đó là những đặc điểm nổi bậc được rút ra từ các quỹ đầu tư mạo hiểm đang hoạt
động thành cơng trên khắp thế giới. Tuy nhiên, khơng phải bất cứ quỹ đầu tư mạo
Trang
6
hiểm nào cũng mang tất cả những đặc điểm nêu trên, tùy vào mơi trường kinh
doanh, các đặc điểm kinh tế- xã hội của từng quốc gia mà hoạt động của quỹ có
những thay đổi tương ứng.
1.4) Qui trình hoạt động của quỹ ĐTMH
.
Q trình để có thể xây dựng một quỹ ĐTMH là một q trình tốn kém nhiều mặt.
Các thành viên thường phải mất nhiều thời gian, cơng sức và chi phí để tiếp thị,
thuyết phục các nhà đầu tư tiềm năng tham gia vào quỹ, tin tưởng vào khả năng
quản lý quỹ cũng như xây dựng niềm tin và lợi nhuận của những khoản đầu tư trong
tương lai. Q trình hoạt động một quỹ đầu tư mạo hiểm thường trãi qua các giai
đoạn sau:
- Giai đoạn hình thành quỹ
:
Đây là giai đoạn để có thể hình thành nên một quỹ ĐTMH, các nhà tư bản
mạo hiểm nghiên cứu tìm kiếm các nguồn cấp vốn cho quỹ, đồng thời trong thời
gian này các nhà quản lý quỹ tiến hành nghiên cứu, tìm kiếm các cơ hội đầu tư tốt,
song song đó họ cũng tiến hành các thủ tục chuẩn bị về mặt pháp lý cho sự hình
thành và hoạt động của quỹ.
• Các thành viên tổng qt cảm nhận và phát hiện các cơ hội đầu tư có
tiềm năng phát triển tốt đẹp, có mức tăng trường nhanh và triển vọng lợi nhuận cao.
Thơng thường thì các thành viên tổng qt phải bỏ ra nhiều cơng sức, thời gian, chi
phí để xây dựng hồ sơ dự án, chuẩn bị nền tảng cho triển khai dự án, và phát hiện
các nguồn vốn tương lai khả thi.
• Các thành viên tự thẩm định dự án để lựa chọn sản phẩm, thị trường,
các chiến lược phát triển cũng như lựa chọn hình thức tổ chức doanh nghiệp phù
hợp và cách tổ chức tiếp cận các nguồn tài chính để đi đến quyết định thực hiện.
• Xây dựng mơ hình tổ chức và tính pháp lý của quỹ đầu tư mạo hiểm:
cơng ty đầu tư, quỹ hỗ tương, quỹ đầu tư dạng đóng, mở.
• Sau đó, các thành viên xem xét và ra quyết định về mức vốn, số lần gọi
vốn, mơ hình, chi tiết thể thức đầu tư, cơ cấu thành phần quỹ, hội đồng quản trị, hội
đồng điều hành,…Vì phần lớn các thành viên là những định chế tài chính, những
Trang
7
tập đồn cơng nghiệp đầu tư nên họ trở thành những người tham gia xem xét thận
trọng các chi tiết thành lập để góp phần đảm bảo cho thành cơng của quỹ.
• Các thành viên ra quyết định vế các chiến lược thực hiện và chiến lược
chiếm lĩnh thị trường,…
- Giai đoạn gọi vốn
:
• Tổ chức huy động vốn, ấn định ngày đóng quỹ.
• Hợp đồng với các đối tác cung cấp vốn.
Thời kỳ đóng quỹ, gọi vốn đầu tư có thể kéo dài 2-3 năm. Các nhà đầu tư sẽ
có được những quyền ngang nhau căn cứ theo tỉ lệ góp vốn. Quyền lợi đó tiếp tục
được duy trì trong q trình đóng vốn trừ khi từng thành viên quyết định thay đổi vị
trí và bán đi cổ phần của mình. Trong q trình hoạt động các nhà đầu tư sẽ thường
xun báo cáo để thấy được số tiền đầu tư như thế nào vào các danh mục đầu tư, và
giá trị thị trường của từng danh mục, từng thời kỳ.
- Giai đoạn đầu tư
:
Lợi ích của các nhà đầu tư cũng như các nhà quản lý quỹ phụ thuộc rất lớn
vào kết quả do cơng cuộc đầu tư mang lại. Do đó, trong từng thời kỳ đầu tư vào các
danh mục và dự án, các nhà quản lý quỹ ln phải mất nhiều thời gian, cơng sức để
chọn lọc, thẩm định các dự án đầu tư, thương thuyết mua cổ phiếu hay tham gia vốn
vào các dự án. Để có thể đầu tư hết số vốn mà quỹ hoạt động được, các nhà quản lý
quỹ phải làm việc với hiệu quả rất cao, khơng ngừng nâng cao kiến thức cũng như
chất lượng kỹ thuật đầu tư để đảm bảo lợi nhuận như cam kết ban đầu. Trong q
trình này tiếp tục có những đợi gọi thêm vốn để đáp ứng nhu cầu cho đầu tư.
Bên cạnh đó, xuất phát từ quyền lợi của quỹ ln gắn với hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp mà quỹ tiến hành đầu tư, các quỹ có quyền tham gia giám sát, hỗ
trợ, tư vấn,…tích cực về các mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp như: hệ thống quản lý, nhân sự, tài chính, marketing,… để có thể làm tối đa
hóa giá trị doanh nghiệp của doanh nghiệp mà quỹ đầu tư.
Trang
8
- Giai đọan tăng cao giá trị:
Sau khi đã thực hiện đầu tư vào các danh mục, các nhà tư bản mạo hiểm tiếp
tục xây dựng bộ máy quản trị quỹ và đặt thêm quan hệ với các tổ chức tài chính,
kinh doanh để tăng thêm vốn quỹ. Trung bình quỹ đầu tư mạo hiểm sẽ thu hoạch lợi
nhuận sau 5 năm đầu tư.
- Giai đoạn thốt vốn
:
Sau thời gian tăng cao giá trị, giá trị của các dự án đầu tư đã đạt đến mức
mong muốn, các quỹ ĐTMH sẽ thực hiện việc thốt vốn, thốt vốn là một khâu vơ
cùng quan trọng trong q trình hoạt động của quỹ ĐTMH và nó phản ánh kết quả
đầu tư của quỹ, cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của quỹ, các quỹ thốt vốn
bằng cách:
• Phát hành cổ phiếu lần đầu ra cơng chúng – IPO (Initial Public Offerings).
• Bán tồn bộ doanh nghiệp: là việc bán hoặc sáp nhập 1 cơng ty cho một cơng
ty khác lớn hơn hoặc bán cơng ty cho một cá nhân, tổ chức nào đó.
• Nhượng lại cổ phiếu cho doanh nghiệp nhận đầu tư.
• Bán số cổ phiếu đã đầu tư cho 1 cá nhân, hoặc tổ chức nào đó.
Kết quả thu được qua việc thốt vốn của nhà đầu tư có thể được thể hiện bằng
tiền mặt hoặc các cổ phiếu có khả năng thanh khoản cao trên thị trường vốn.
Tồn bộ thời gian từ giai đoạn hình thành quỹ, gọi vốn, đầu tư đến thu hoạch
của một quỹ có thể khác nhau vì số lượng và thời gian đầu tư của các dự án của một
quỹ có thể biến thiên khác nhau. Tuy nhiên, thời gian để hình thành mục tiêu đầu tư
và thu hoạch của các dự án tối thiểu là 5 năm, có khi có thể dài hơn (5-10 năm) để
các dự án của họ có thể đạt được lợi nhuận.
Trang
9
Sơ đồ1: Qui trình hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm.
GIÁM SÁT VÀ TẠO GIÁ TRỊ
• Hỗ trợ của HĐQT/BGĐ
• Đánh giá hoạt động và kiểm tra
• Tuyển cán bộ quản lý
• Hỗ trợ quan hệ với bên ngồi
• Hỗ trợ dàn xếp bổ sung tài chính
THU HOẠCH KẾT QUẢ ĐẦU TƯ
• IPO
• Bán thương mại
• …
Xúc tác các thỏa thuận Củng cố các cam kết đầu tư
ĐĨNG QUỸ GỌI VỐN LẦN ĐẦU
PHÁT TRIỂN KHÁI NIỆM QUỸ
Chọn lọc
DAĐT
Thẩm
định các
DAĐT
Thương
thuyết các
thương vụ
và các
giai đoạn
đầu tư
Tiếp tục
các lần
gọi vốn
Đầu tư
vốn vào
dự án
Trang
10
1.5) Phân loại quỹ đầu tư mạo hiểm:
1.5.1) Nếu xét về cơ cấu tổ chức thì có các hình thức tổ chức của một quỹ
đầu tư mạo hiểm:
+ Mơ hình hợp danh hữu hạn:
Tổ chức theo mơ hình hợp danh hữu hạn (limited partnership) cho đến nay được
xem là ưu việt hơn trong việc tạo ra một cơ chế phân chia trách nhiệm và quyền lợi
hợp lý, hiệu quả. Trong hình thức tổ chức này có hai loại thành viên: thành viên
tổng qt (general partners) và thành viên hợp danh hữu hạn (limited partners).
• Các thành viên tổng qt :
Họ là những người lập ra và quản lý vốn đầu tư mạo hiểm chun nghiệp, họ
có chức năng tổ chức, kêu gọi vốn từ các nhà đầu tư mạo hiểm, tìm kiếm và lựa
chọn các cơ hội đầu tư tốt nhất, sau đó tiến hành đầu tư, quản trị dự án. Việc đầu tư
vốn vào các doanh nghiệp đòi hỏi các thành viên tổng qt phải tốn nhiều thời gian,
cơng sức để theo dõi, giám sát, tư vấn và hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhận đầu tư.
Trong q trình quản lý quỹ, các thành viên tổng qt sẽ nhận một khoản phí quản
lý (lương) và một tỉ lệ nhất định từ tổng số lợi nhuận thu được sau khi thực hiện
cơng cuộc thốt vốn để đổi lại những đóng góp của họ cho quỹ. Điều này đã tạo ra
động lực mạnh mẽ để các thành viên tổng qt khơng ngừng nổ lực để tạo ra nhiều
lợi nhuận hơn cho quỹ.
• Những thành viên hợp danh hữu hạn :
Họ là những nhà đầu tư mạo hiểm, họ góp vốn vào quỹ và được chia lợi
nhuận (hoặc chịu rủi ro), họ khơng có bất cứ vai trò gì trong các quyết định đầu tư
của quỹ. Các thành viên hợp danh hữu hạn thường là các tập đồn cơng nghiệp hoặc
là các tổ chức tài chính như ngân hàng, cơng ty bảo hiểm, quỹ hưu trí,…
Với hình thức này, các doanh nghiệp được đầu tư khơng những nhận được sự
hỗ trợ về vốn mà còn nhận được sự hỗ trợ về các mặt quản lý, hoạt động điều
hành,…
Trang
11
Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức của quỹ ĐTMH theo mơ hình hợp danh hữu hạn.
THÀNH VIÊN TỔNG QUÁT
-Huy động vốn
-Tìm kiếm, thẩm đònh, chọn lọc DT
-Đàm phán đầu tư
-Giám sát, tư vấn
-Thu hoạch đầu tư
Thành
lập
công ty
quản lý
quỹ
đầu tư
mạo
hiểm
Đóng
góp công
sức và
vốn
Phí quản
lý và chia
lợi nhuận
QUỸ ĐẦU TƯ
MẠO HIỂM
Đóng
góp
vốn
Được
chia lợi
nhuận
Tài trợ
Vốn+lợi
nhuận (lỗ).
THÀNH VIÊN TRÁCH
NHIỆM HỮU HẠN
-Tập đoàn công nghiệp
-Tổ chức tài chánh ( ngân hàng,
công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí,…)
-Chính phủ
-Cá nhân
DOANH
NGHIỆP
Thoát vốn
-IPO
-Bán thương mại
-Mua lại cổ phần
Trang
12
+Mơ hình cơng ty con:
Ngồi hình thức hợp danh hữu hạn, còn có một hình thức tổ chức khác của
quỹ đầu tư mạo hiểm, đó là hình thức quỹ là cơng ty con của các tập đồn cơng
nghiệp hay các tổ chức tài chính lớn (mơ hình này là nét đặc trưng của các quỹ đầu
tư mạo hiểm ở Nhật). Trong hình thức này, cơng ty mẹ thực hiện tài trợ vốn đầu tư
mạo hiểm cho doanh nghiệp là nhằm tạo mối quan hệ với những doanh nghiệp mới
để cung cấp những dịch vụ khác hoặc hi vọng vào những khoản lợi nhuận trong
tương lai.
So với hình thức hợp danh hữu hạn, loại hình này có những khuyết điểm như sau:
• Hội đồng quản trị của cơng ty con sẽ đưa ra quyết định phê chuẩn các
khoản đầu tư, trong đó việc quản lý các khoản đầu tư của quỹ lại do một cơng ty
quản lý vốn mạo hiểm được th đảm trách. Như vậy, hình thức này sẽ khơng tạo ra
được các nhà đầu tư chun nghiệp, mà nếu có thì năng lực của họ cũng bị lãng phí
và họ khơng có quyền đưa ra các quyết định đầu tư.
• Thù lao cho những người quản lý quỹ là một khoản tiền lương và một
khoản thưởng nào đó, khơng gắn liền với thành quả đầu tư, vì thế tính chất khuyến
khích khơng mạnh.
• Cơng ty phải trung thành với lợi ích của cơng ty mẹ chứ khơng phải vì lợi
ích của cơng ty được nhận đầu tư. Điều này đơi khi dẫn đến xung đột lợi ích giữa
nguồn tài trợ và người khởi nghiệp, giữa quỹ của cơng ty với nhà đầu tư mạo hiểm
khác.
• Đội ngũ nhân viên quản lý của cơng ty con là do cơng ty mẹ cử tới, sau một
thời gian hoạt động, họ trở về làm việc cho cơng ty mẹ, tốc độ ln chuyển cơng
việc cao, vì thế khó hình thành một đội ngũ chun gia đầu tư vốn mạo hiểm
chun nghiệp.
+Mơ hình tín thác (dạng hợp đồng):
Trong mơ hình này quỹ đầu tư mạo hiểm khơng có tư cách pháp nhân nhân
mà chỉ là một lượng tiền nhất định do các nhà đầu tư đóng góp. Mơ hình này thể
hiện rõ ở vai trò của ba bên tham gia vào hoạt động của quỹ: cơng ty quản lý quỹ,
Trang
13
ngân hàng giám sát và các nhà đầu tư.
Cơng ty quản lý quỹ đứng ra thành lập quỹ, tiến hành huy động vốn,
thực hiện việc đầu tư theo những mục tiêu đã đề ra trong điều lệ quỹ.
Ngân hàng giám sát: ngồi vai trò giám sát, bảo quản vốn và tài sản của
quỹ, ngân hàng giám sát còn làm nhiệm vụ giám sát hoạt động của cơng ty quản lý
quỹ, đảm bảo việc tn thủ các mục tiêu và chính sách đầu tư đã đề ra. Quan hệ
giữa cơng ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát được thể hiện bằng hợp đồng quản
lý giám sát, trong đó qui định quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong việc thực
hiện và giám sát việc đầu tư để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư.
Các nhà đầu tư góp vốn bằng việc mua các chứng chỉ đầu tư do cơng ty
quản lý quỹ thay mặt quỹ phát hành. Các nhà đầu tư trong mơ hình này khơng phải
là các cổ đơng như mơ hình cơng ty mà chỉ đơn giản là những người thụ hưởng kết
quả kinh doanh từ hoạt động đầu tư của quỹ.
1.5.2) Nếu dựa vào nguồn huy động vốn: quỹ hải ngoại và quỹ nội địa.
Quỹ hải ngoại: Nguồn vốn huy động vào quỹ 100% là nguồn vốn nước
ngồi, cơng ty quản lý quỹ được đăng ký thành lập ở nước ngồi và quỹ được quản
lý bởi các chun gia quản lý vốn quốc tế. Các quỹ sẽ tìm kiếm cơ hội và đầu tư
vào các dự án trong nước để thu lợi nhuận. Cổ phiếu của quỹ được niêm yết ở thị
trường nước ngồi.
+ Quỹ hải ngoại có những điểm mạnh như sau:
• Có thể thu hút lượng vốn lớn từ nước ngồi.
• Mơi trường thuế và pháp chế ổn định.
• Cơ cấu pháp lý đã thành cơng ở nhiều nước và có nhiều kinh nghiệm
trong hoạt động đầu tư.
+ Tuy nhiên quỹ đầu tư hải ngoại cũng có một số điểm yếu như:
• Bị hạn chế số vốn đầu tư, về ngành nghề kinh doanh.
• Khâu tiếp cận doanh nghiệp trong nước còn nhiều khó khăn do có sự
khác nhau về mơi trường, văn hóa kinh doanh.
• Rủi ro tỉ giá trong chuyển vốn và chuyển lợi nhuận.
Trang
14
Quỹ nội địa: Yếu tố then chốt của quỹ nội địa là sẽ huy động vốn trong nước để
đầu tư vào các cơng ty trong nước, cơng ty quản lý quỹ đăng ký thành lập trong
nước và những quỹ này sẽ do các chun gia trong nước quản lý là chính. Cổ phiếu
của quỹ được niêm yết ở thị trường trong nước.
+ Quỹ nội địa có những điểm mạnh như sau:
• Huy động nguồn vốn từ trong nước nên tránh được rủi ro về tỉ giá.
• Huy động được nguồn tài chính đa dạng trong nước.
• Khơng bị hạn chế vốn và ngành nghề đầu tư.
• Quỹ có thể duy trì lâu bền hơn với sự tham gia của nguồn nhân lực ổn
định trong nước.
• Hoạt động của quỹ nội địa sẽ góp phần tạo niềm tin cho các quỹ hải ngoại
mới đi vào thị trường trong nước, làm cho thị trường vốn mạo hiểm ngày
càng phát triển hơn.
+ Một số điểm yếu của Quỹ nội địa
• Nguồn vốn khơng lớn mạnh như quỹ đầu tư hải ngoại.
• Cần nhiều thời gian để thành lập và đi vào hoạt động.
• Ít kinh nghiệm và tính chun nghiệp thấp hơn.
1.5.3) Nếu dựa vào cách thức huy động: chúng ta có thể chia thành 2 loại là quỹ
đầu tư dạng đóng và quỹ đầu tư dạng mở.
+ Quỹ đầu tư dạng đóng:
Quỹ chỉ phát hành cổ phiếu, chứng chỉ đầu tư ra cơng chúng tại những thời
điểm định sẵn với số lượng nhất định và quỹ khơng thực hiện việc mua lại cổ phiếu,
chứng chỉ đầu tư khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại. Sau khi phát hành lần đầu ra
cơng chúng, cổ phiếu đầu tư được giao dịch như các chứng khốn niêm yết khác
trên thị trường tập trung (sở giao dịch chứng khốn). Các nhà đầu tư có thể mua
hoặc bán để thu hồi vốn cổ phần hoặc chứng chỉ đầu tư của họ trên thị trường thứ
cấp thơng qua các nhà mơi giới, giá cổ phần được xác định bởi lượng cung, cầu trên
thị trường.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét