Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Báo cáo đánh giá tác động dự thảo luật bảo hiểm tiền gửi

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
DỰ THẢO LUẬT BẢO HIỂM TIỀN GỬI
I. Giới thiệu
Trong xu thế phát triển của thị trưởng tài chính nói chung và hệ thống
ngân hàng nói riêng, việc tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm đảm bảo một
hệ thống pháp luật đồng bộ tạo điều kiện thuận lợi cho các định chế tài chính
hoạt động hiệu quả là một yêu cầu khách quan. Thêm vào đó bên cạnh những ưu
điểm, pháp luật bảo hiểm tiền gửi hiện hành vẫn còn nhiều bất cập và chưa phù
hợp với bối cảnh kinh tế mới. Luật Bảo hiểm tiền gửi được xây dựng sẽ hoàn
thiện hơn nữa các quy định về nghiệp vụ bảo hiểm tiền gửi; nâng cao giá trị
pháp lý của các quy định pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và bảo đảm cho các quy
định pháp luật về bảo hiểm tiền gửi được điều chỉnh ở văn bản pháp lý có giá trị
cao nhất là luật. Bên cạnh đó, Luật Bảo hiểm tiền gửi sẽ xác định rõ vị trí của tổ
chức bảo hiểm tiền gửi nhằm tránh chồng chéo nhiệm vụ với các cơ quan khác;
xác định rõ cơ quan quản lý nhà nước và nội dung quản lý nhà nước về bảo hiểm
tiền gửi để hoạt động bảo hiểm tiền gửi đạt hiệu quả cao hơn.
Như vậy, việc ban hành Luật Bảo hiểm tiền gửi trong bối cảnh hiện nay là
cấp thiết để khắc phục những bất cập của quy định pháp luật về bảo hiểm tiền
gửi hiện hành và nâng cao giá trị pháp lý của các quy định về bảo hiểm tiền gửi,
giúp cho hoạt động bảo hiểm tiền gửi đạt hiệu quả cao hơn, nhằm bảo vệ quyền
lợi của người gửi tiền và góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Trong những năm qua, nhiều Luật có liên quan đến hoạt động tiền tệ,
ngân hàng, bảo hiểm tiền gửi đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, ví dụ
như Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010), Luật các tổ chức tín dụng
(2010), Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư (2005)…. Việc xây dựng Luật Bảo
hiểm tiền gửi là một yêu cầu khách quan nhằm đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ
của hệ thống pháp luật.
Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy việc ban hành Luật Bảo hiểm
tiền gửi là cần thiết để khắc phục những bất cập của quy định pháp luật bảo
hiểm tiền gửi hiện hành và nâng cao giá trị pháp lý của pháp luật bảo hiểm tiền
gửi, giúp cho hoạt động bảo hiểm tiền gửi hoạt động hiệu quả hơn.
1
Ngoài ra, việc ban hành Luật Bảo hiểm tiền gửi phải đảm bảo được các
yêu cầu sau đây:
- Luật Bảo hiểm tiền gửi phải thể chế hóa được quan điểm chủ trương và
chính sách của Đảng và Nhà nước, thể hiện được tính đặc thù của hệ thống ngân
hàng Việt Nam, phù hợp với thể chế chính trị của Việt nam đã được qui định
trong Hiến pháp năm 1992.
- Luật Bảo hiểm tiền gửi phải phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở
nước ta, đặc biệt là các điều kiện về sự phát triển của thị trường tiền tệ, thị
trường vốn, sự phát triển của hệ thống ngân hàng, mức độ hiểu biết, thói quen
tiết kiệm của người dân.
- Luật Bảo hiểm tiền gửi phải kế thừa những nội dung phù hợp đã được
trải nghiệm qua thực tiễn 10 năm thực hiện pháp luật bảo hiểm tiền gửi, bảo đảm
tính kế thừa trong quản lý đồng thời khắc phục được những thiếu sót, bất cập
của pháp luật hiện hành về bảo hiểm tiền gửi.
- Luật Bảo hiểm tiền gửi phải tham khảo, học tập kinh nghiệm xây dựng
Luật bảo hiểm tiền gửi của các nước, cũng như tham khảo các hướng dẫn phát
triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả của các tổ chức quốc tế, bảo đảm Luật
Bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam có sự tương thích nhất định với các chuẩn mực
chung của quốc tế.
- Xây dựng Luật Bảo hiểm tiền gửi tạo thành một chỉnh thể thống nhất,
đồng bộ với các mảng pháp luật ngân hàng khác (Luật Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng) nhằm tạo ra hiệu quả chung của các mảng
pháp luật này, cũng như tạo ra sự phối hợp, hoạt động hiệu quả của các cấu phần
trong mạng lưới an toàn tài chính quốc gia.
II. Các vấn đề cơ bản của Luật Bảo hiểm tiền gửi
Vấn đề 1: Mô hình bảo hiểm tiền gửi
Vấn đề 2: Thời điểm tổ chức bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ trả tiền bảo
hiểm cho người gửi tiền
Vấn đề 3: Hoạt động đầu tư của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Vấn đề 4: Chủ thể được bảo hiểm tiền gửi
Vấn đề 5: Mức phí bảo hiểm tiền gửi và hạn mức bảo hiểm tiền gửi
2
III. Đánh giá tác động Luật Bảo hiểm tiền gửi
1. Vấn đề 1: Mô hình bảo hiểm tiền gửi
1.1. Xác định vấn đề
Theo quy định pháp luật hiện hành về bảo hiểm tiền gửi, ngoài chức năng
thu phí bảo hiểm tiền gửi
1
, chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền
2
, tham gia
quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá sản
3
, tổ
chức bảo hiểm tiền gửi còn có chức năng (i) theo dõi, giám sát và kiểm tra việc
chấp hành các quy định pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và các quy định về an
toàn trong hoạt động của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
4
; (ii) hỗ trợ đối
với các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi mất khả năng chi trả
5
; và (iii) can
thiệp vào các công việc nội bộ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi thông qua
quyền yêu cầu tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi thực hiện các biện pháp chấn
chỉnh kịp thời.
6
Bên cạnh đó, theo phân loại của Hiệp hội bảo hiểm tiền gửi quốc tế tồn tại
03 mô hình bảo hiểm tiền gửi cơ bản: (a) Mô hình chi trả, (aa) Mô hình chi trả
với quyền hạn mở rộng và (aaa) Mô hình giảm thiểu rủi ro.
- Mô hình chi trả: Tổ chức bảo hiểm tiền gửi chỉ thực hiện chức năng thu
phí bảo hiểm tiền gửi và chi trả tiền bảo hiểm tiền gửi cho người gửi tiền được
bảo hiểm trong trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị đổ vỡ. Các
nước theo mô hình này: Phần Lan, Cộng hòa Séc, Braxin, Lithuania, Cyprus,
Hungary, Anh, Pháp, Tanzania, Thụy Điển, Slovenia, Tây Ban Nha.
- Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng: Ngoài các chức năng của mô
hình chi trả, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thêm chức năng tham gia vào quá trình
xử lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị đổ vỡ. Các nước theo mô
hình này: Bun-ga-ri, Kazakhstan, Colombia, Jamaica, Nhật Bản, Jodan, Hàn
Quốc, Mê-hi-cô, Bồ Đào Nha, Quebec, Nga, Đài Loan, Venezuela.
1
Mục 1 Chương II Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 của Chính phủ
về bảo hiểm tiền gửi được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005
của Chính phủ (Nghị định 89/1999/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung năm 2005); và Khoản
1 Điều 5 Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày 09/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ về
việc thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg)
2
Mục 4 Chương II Nghị định 89/1999/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung năm 2005; và
Khoản 2 Điều 5 Quyết định 218/1999/QĐ-TTg
3
Mục 5 Chương II Nghị định 89/1999/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung năm 2005;
và Khoản 5 Điều 5 Quyết định 218/1999/QĐ-TTg
4
Khoản 3 Điều 5 Quyết định 218/1999/QĐ-TTg
5
Mục 3 Chương II Nghị định 89/1999/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung năm 2005;
và Khoản 4 Điều 5 Quyết định 218/1999/QĐ-TTg
6
Điều 12 Nghị định 89/1999/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung năm 2005
3
- Mô hình giảm thiểu rủi ro: Ngoài chức năng của mô hình chi trả với
quyền hạn mở rộng, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thêm chức năng (a) thanh tra,
giám sát hoạt động của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi; (b) hỗ trợ tài chính
cho tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
gặp khó khăn về khả năng chi trả và (c) can thiệp vào hoạt động nội bộ của tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi. Trong mô hình này, chức năng thanh tra, giám
sát là chức năng chủ đạo, có vai trò quyết định hiệu quả của việc thực hiện chức
năng hỗ trợ tài chính và chức năng can thiệp vào các công việc nội bộ của tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi. Các nước theo mô hình này: Canada,
Philippines, Hoa Kỳ, Việt Nam.
Như vậy, trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành về bảo hiểm tiền
gửi, căn cứ vào phân loại của Hiệp hội bảo hiểm tiền gửi Quốc tế, hệ thống bảo
hiểm tiền gửi hiện hành của Việt Nam được phân loại vào mô hình giảm thiểu
rủi ro.
Tuy nhiên, không có một mô hình bảo hiểm tiền gửi nào có thể hoạt động
hiệu quả ở mọi quốc gia. Mô hình bảo hiểm tiền gửi tại một quốc gia sẽ hoạt
động hiệu quả nhất khi nó phù hợp với nền tảng kinh tế-xã hội của chính quốc
gia đó. Với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam, khi mà (i) chức năng thanh tra,
giám sát an toàn hoạt động ngân hàng hiện đang được trao cho Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam
7
, (ii) cơ chế phối hợp và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan trong
hệ thống bảo hiểm tiền gửi giảm thiểu rủi ro đòi hỏi sự phức tạp lớn trong khi
điều kiện và hoàn cảnh kinh tế ở Việt Nam hiện chưa đáp ứng được, và (iii)
năng lực và kinh nghiệm thanh tra, giám sát an toàn hoạt động ngân hàng của tổ
chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam còn yếu, thì việc xác định mô hình bảo hiểm
tiền gửi của Việt Nam theo mô hình giảm thiểu rủi ro, theo đó tổ chức bảo hiểm
có thẩm quyền (a) thanh tra, giám sát hoạt động của tổ chức tham gia bảo hiểm
tiền gửi; (b) hỗ trợ tài chính cho tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi tổ chức
tham gia bảo hiểm tiền gửi gặp khó khăn về khả năng chi trả và (c) can thiệp vào
hoạt động nội bộ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, là không phù hợp.
1.2. Thực trạng hiện nay
a) Đối với chức năng thanh tra, giám sát hoạt động của tổ chức tham gia
bảo hiểm tiền gửi
Theo quy định của pháp luật hiện hành về bảo hiểm tiền gửi, tổ chức tham
gia bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ (i) nộp cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi các báo
cáo theo quy định của tổ chức bảo hiểm tiền gửi; (ii) báo cáo ngay với tổ chức
bảo hiểm tiền gửi trong trường hợp (a) gặp khó khăn về khả năng chi trả, (b) khi
thay đổi các thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Tổng Giám đốc
7
Khoản 11 Điều 4 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010
4
tớ yêu cậu
(Giám đốc), (c) gửi cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi các báo cáo tài chính năm
trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
8
Tổ chức bảo hiểm tiền gửi được quyền tiến hành kiểm tra việc các tổ chức
tham gia bảo hiểm tiền gửi chấp hành các qui định về bảo hiểm tiền gửi quy
định tại Nghị định 89/1999/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung năm 2005.
9
Tổ chức bảo hiểm tiền gửi được quyền tiến hành theo dõi, giám sát và
kiểm tra việc chấp hành các quy định về an toàn trong hoạt động của các tổ chức
tham gia bảo hiểm tiền gửi.
10
Như vậy là tổ chức bảo hiểm tiền gửi có cả ba quyền (i) thanh tra tại chỗ,
(ii) giám sát trực tiếp và (iii) giám sát từ xa đối với cả quy định về bảo hiểm tiền
gửi và quy định về an toàn trong hoạt động của các tổ chức tham gia bảo hiểm
tiền gửi.
Tuy nhiên, việc trao quá nhiều quyền như vậy cho tổ chức bảo hiểm tiền
gửi chưa thực sự hợp lý, bởi lẽ:
Thứ nhất, chức năng thanh tra, giám sát hiện đã được trao cho Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam. Việc có hai cơ quan cùng thực hiện thanh tra sẽ (i) gây tốn
kém chi phí xã hội khi hai cơ quan cùng thực hiện một chức năng; (ii) tạo gánh
nặng cho các tổ chức tín dụng khi phải chịu sự thanh tra của hai cơ quan khác
nhau; cụ thể trong việc chịu sự thanh tra tại chỗ, xây dựng các báo cáo theo các
yêu cầu của các cơ quan khác nhau, báo cáo và giải trình việc tuân thủ quy định
của pháp luật; và (iii) gây khó khăn cho tổ chức tín dụng trong trường hợp các
kết luận thanh tra không thống nhất.
Thứ hai, cơ chế phối hợp và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan trong hệ
thống bảo hiểm tiền gửi giảm thiểu rủi ro đòi hỏi sự phức tạp lớn trong khi điều
kiện và hoàn cảnh kinh tế ở Việt Nam hiện chưa đáp ứng được. Mô hình giảm
thiểu rủi ro chia sẻ tương đối nhiều quyền hạn cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi như
đánh giá và quản lý rủi ro, thanh tra và giám sát hoạt động của tổ chức tham gia
bảo hiểm tiền gửi, quản lý và thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền
gửi đổ vỡ. Để thực hiện được các chức năng này, khối lượng thông tin cần chia
sẻ giữa tổ chức bảo hiểm tiền gửi và các cơ quan khác như Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, Bộ Tài chính là rất lớn. Các thông tin này có thể là thông tin về trạng
thái tài chính của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, thông tin về kinh tế vĩ mô
8
Điều 11 Nghị định 89/1999/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung năm 2005.
9
Điều 13 Nghị định 89/1999/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung năm 2005, Khoản 3 Điều 5
Quyết định 218/1999/QĐ-TTg và Khoản 3 Điều 7 Điều lệ tổ chức và hoạt động của Bảo
hiểm tiền gửi Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 75/2000/QĐ-TTg ngày
28/06/2000 của Thủ tướng Chính phủ (Điều lệ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam).
10
Khoản 3 Điều 5 Quyết định 218/1999/QĐ-TTg và Khoản 3 Điều 7 Điều lệ của Bảo
hiểm tiền gửi Việt Nam.
5
từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các thông tin để tiến hành quản lý và thanh
lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đổ vỡ. Bên cạnh đó, sự phối
hợp giữa các cơ quan như Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính và Bảo
hiểm tiền gửi Việt Nam trong hệ thống bảo hiểm tiền gửi giảm thiểu rủi ro cũng
rất phức tạp, các cơ quan này phải có sự phân định quyền hạn và trách nhiệm, cơ
chế phối hợp rõ ràng thì hệ thống bảo hiểm tiền gửi mới có thể hoạt động hiệu
quả. Trong hoàn cảnh kinh tế ở Việt Nam, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chưa thể
có điều kiện thực hiện được những công việc phức tạp như vậy.
Thứ ba, năng lực và kinh nghiệm thanh tra, giám sát an toàn hoạt động
ngân hàng của tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam còn yếu. Điều này đã được
kiểm nghiệm trong thực tiễn hơn 10 năm hoạt động. Tính đến hết tháng
12/2010, hoạt động thanh tra, giám sát của tổ chức bảo hiểm tiền gửi mới chỉ
dừng lại ở 2.722 cuộc kiểm tra. Hơn nữa, hoạt động thanh tra, giám sát của tổ
chức bảo hiểm tiền gửi chỉ đó chủ yếu tập trung vào kiểm tra quỹ tín dụng nhân
dân với 2.439 cuộc chiếm 89,6% tổng số cuộc kiểm tra, trong khi đó số cuộc
kiểm tra ngân hàng thương mại trong nước chỉ là 167 cuộc chiếm 6,1%, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài là 86 cuộc chiếm 3,2%, ngân hàng 100% vốn nước
ngoài là 04 cuộc chiếm 0,1% và công ty tài chính là 27 cuộc chiếm 1%.
b) Đối với chức năng hỗ trợ tài chính
Pháp luật hiện hành về bảo hiểm tiền gửi trao cho hội đồng quản trị của tổ
chức bảo hiểm tiền gửi quyền xem xét và quyết định hỗ trợ tài chính cho tổ chức
tham gia bảo hiểm tiền gửi dưới các hình thức cho vay, bảo lãnh, mua lại nợ và
các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật, với điều kiện sau khi đã
có xác nhận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam rằng việc giải thể, phá sản của
tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm
trọng, sâu rộng đến sự an toàn của hệ thống tài chính, ngân hàng và sự ổn định
chính trị, kinh tế-xã hội.
11
Tuy nhiên, tính đến thời điểm 31/12/2010, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã
cho vay hỗ trợ đối với 05 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên tổng số 915 quỹ tín
dụng nhân dân cơ sở hiện hữu với tổng số tiền gần 7 tỷ đồng trong đó 4 quỹ đã
hoạt động trở lại bình thường và hoàn trả đầy đủ số tiền hỗ trợ cho Bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam.
Như vậy, 20% tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi được hỗ trợ tài chính đã
bị đổ vỡ và dẫn đến nguy cơ tổ chức bảo hiểm tiền gửi bị mất vốn. Hơn nữa,
trong cả 05 trường hợp này, việc đổ vỡ một quỹ tín dụng nhân dân cơ sở không
thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng, sâu rộng đến sự an toàn của hệ thống
tài chính, ngân hàng và sự ổn định chính trị, kinh tế-xã hội.
11
Điều 14 và 15 Nghị định 89/1999/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung năm 2005.
6
Qua đó cho thấy việc trao cho tổ chức bảo hiểm tiền thực hiện chức năng
hỗ trợ tài chính theo quy định hiện hành về bảo hiểm tiền gửi chưa mang lại hiệu
quả mong đợi và chưa thực sự phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội Việt Nam.
c) Đối với chức năng can thiệp hoạt động nội bộ của tổ chức tham gia bảo
hiểm tiền gửi
Pháp luật hiện hành về bảo hiểm tiền gửi trao cho tổ chức bảo hiểm tiền
gửi thẩm quyền yêu cầu các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi thực hiện các
biện pháp chấn chính kịp thời khi phát hiện tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
vi phạm các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng hoặc xét thấy hoạt
động của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có nguy cơ dẫn đến mất khả năng
chi trả, thất thoát lớn về tài sản hoặc có tác động nghiêm trọng tới các tổ chức tín
dụng khác.
12

Tuy nhiên, trên thực tế, qua 10 năm hoạt động, các báo cáo của Bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam chưa thể hiện việc Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã thực hiện
chức năng này trên thực tế. Qua đó cho thấy việc trao cho tổ chức bảo hiểm tiền
thực hiện chức năng can thiệp vào hoạt động nội bộ của tổ chức tham gia bảo
hiểm tiền gửi theo quy định hiện hành về bảo hiểm tiền gửi chưa mang lại hiệu
quả mong đợi và không thực sự phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội Việt Nam.
1.3. Mục tiêu của chính sách
Việc xác định mô hình bảo hiểm tiền gửi phù hợp với điều kiện, hoàn
cảnh cụ thể của Việt Nam, mà qua đó trao cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi các
chức năng phù hợp, nhằm các mục tiêu sau:
Thứ nhất, đảm bảo tính hiệu quả của cơ chế giám sát an toàn hệ thống các
tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.
Thứ hai, đảm bảo sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan trong mạng lưới
an toàn tài chính quốc gia.
Thứ ba, giảm gánh nặng cho các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.
1.4. Phương án lựa chọn
Phương án 1A: Giữ nguyên quy định của pháp luật hiện hành về bảo
hiểm tiền gửi, theo đó, tiếp tục trao cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi thực hiện các
chức năng (a) thanh tra, giám sát hoạt động của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền
gửi; (b) hỗ trợ tài chính cho tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi tổ chức tham
gia bảo hiểm tiền gửi gặp khó khăn về khả năng chi trả và (c) can thiệp vào hoạt
động nội bộ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.
12
Điều 12 Nghị định 89/1999/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung năm 2005.
7
Phương án 1B: Không tiếp tục trao cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi thực
hiện các chức năng (a) thanh tra, giám sát hoạt động của tổ chức tham gia bảo
hiểm tiền gửi; (b) hỗ trợ tài chính cho tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi gặp khó khăn về khả năng chi trả và (c) can
thiệp vào hoạt động nội bộ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.
Phương án 1C: Không tiếp tục trao cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi thực
hiện các chức năng (a) thanh tra tại chỗ, giám sát trực tiếp việc thực hiện các
quy định về an toàn hoạt động ngân hàng của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền
gửi; (b) hỗ trợ tài chính cho tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi tổ chức tham
gia bảo hiểm tiền gửi gặp khó khăn về khả năng chi trả và (c) can thiệp vào hoạt
động nội bộ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tuy nhiên, tiếp tục trao cho
tổ chức bảo hiểm tiền gửi thực hiện chức năng thanh tra, giám sát việc thực hiện
các quy định về bảo hiểm tiền gửi và thực hiện chức năng giám sát từ xa việc
thực hiện các quy định về về an toàn hoạt động ngân hàng của tổ chức tham gia
bảo hiểm tiền gửi theo hướng tổ chức bảo hiểm tiền gửi có chức năng tổng hợp,
phân tích và xử lý thông tin về tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi nhận được từ
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi nhằm
phát hiện và báo cáo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xử lý kịp thời những rủi ro
gây mất an toàn trong hệ thống ngân hàng, những vi phạm quy định về an toàn
hoạt động ngân hàng.
1.5. Đánh giá tác động các phương án
Phương án 1A: Việc giữ nguyên các quy định của pháp luật hiện hành sẽ
dẫn tới chồng chéo chức năng giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và tổ chức
bảo hiểm tiền gửi. Như vậy, Nhà nước sẽ phải chịu hai lần chi phí cho một hoạt
động nhằm mục đích quản lý nhà nước. Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam là cơ quan quản lý nhà nước, đang thực hiện hiệu quả chức năng thanh tra,
giám sát an toàn hoạt động ngân hàng. Hơn nữa, việc tiếp tục giao cho tổ chức
bảo hiểm tiền gửi chức năng thanh tra, giám sát tổ chức tham gia bảo hiểm tiền
gửi sẽ khiến hoạt động của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải chịu thanh
tra, giám sát hai lần bởi hai cơ quan khác nhau. Điều này sẽ dẫn đến lĩnh vực tư
phải chịu chi phí hai lần trong việc chịu sự điều chỉnh của cùng một hoạt động
quản lý nhà nước. Thêm vào đó, việc tổ chức bảo hiểm tiền gửi thực hiện chức
năng thanh tra, giám sát trong hơn 10 năm qua chưa mang lại một kết quả cụ thể
nào đối với sự an toàn của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Với việc bỏ chức năng
thanh tra tại chỗ và giám sát trực tiếp của tổ chức bảo hiểm tiền gửi đối với tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi cũng sẽ không có cơ
sở pháp lý và cơ sở thông tin cần thiết để thực hiện chức năng hỗ trợ tài chính
đối với các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi mất khả năng chi trả và chức
năng can thiệp vào các công việc nội bộ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.
8
Nếu tiếp tục trao hai chức năng này cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi, sẽ chẳng
những không mang lại kết quả tích cực mà còn gây ra những hệ quả tiêu cực gây
ảnh hưởng đến tính hiệu quả của hệ thống bảo hiểm tiền gửi.
Phương án 1B: Việc rút bỏ hoàn toàn chức năng thanh tra, giám sát của
tổ chức bảo hiểm tiền gửi cũng sẽ dẫn đến hệ quả là chẳng những không tận
dụng được bộ máy tổ chức và nhân sự sẵn có của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
về thanh tra, giám sát, mà còn phải giải quyết việc tái cơ cấu bộ máy và sắp xếp
các vị trí làm việc khác cho đội ngũ lao động hiện tại của Bảo hiểm tiền gửi Việt
Nam.
Phương án 1C: Phương án này đảm bảo kế thừa được bộ máy tổ chức và
nhân sự vốn có về thanh tra, giám sát của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đồng
thời đảm bảo việc hạn chế tối đa việc gánh chịu chi phí của cả lĩnh vực công và
lĩnh vực tư, cũng như mang lại hiệu quả tốt nhất cho hoạt động thanh tra, giám
sát an toàn hoạt động ngân hàng, đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động lành
mạnh và ổn định. Đồng thời việc trao cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi thực hiện
chức năng giám sát từ xa việc thực hiện các quy định về về an toàn hoạt động
ngân hàng của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo hướng tổ chức bảo hiểm
tiền gửi có chức năng tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin về tổ chức tham gia
bảo hiểm tiền gửi nhận được từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm phát hiện
và báo cáo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xử lý kịp thời những rủi ro gây mất
an toàn trong hệ thống ngân hàng, những vi phạm quy định về an toàn hoạt động
ngân hàng cũng phù hợp với thông lệ quốc tế về một hệ thống bảo hiểm tiền gửi
hiệu quả.
1.6. Kết luận và kiến nghị
Trên cơ sở các Phương án và đánh giá nêu trên, Phương án 1C là sự lựa
chọn tối ưu vì vừa đảm bảo hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát an toàn hoạt
động ngân hàng vừa tiết kiệm tối đa chi phí cho xã hội vừa phù hợp với bộ máy
tổ chức và nhân sự hiện có của tổ chức bảo hiểm tiền gửi.
Do đó, kiến nghị lựa chọn Phương án 1C để thể hiện trong Dự thảo Luật
Bảo hiểm tiền gửi.
2. Vấn đề 2: Thời điểm tổ chức bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ trả tiền
bảo hiểm cho người gửi tiền
2.1. Xác định vấn đề
Quy định về thời điểm tổ chức bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ trả tiền bảo
hiểm cho người gửi tiền trong pháp luật hiện hành về bảo hiểm tiền gửi một mặt
chứa đựng những quy định không còn cần thiết cụ thể là quy định đối với trường
hợp giải thể bắt buộc, một mặt chưa điều chỉnh hết các tổ chức tham gia bảo
hiểm tiền gửi cụ thể là chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
2.2. Thực trạng hiện nay
9
Theo quy định pháp luật về bảo hiểm tiền gửi hiện hành, thời điểm tổ
chức bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền là khi
cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản yêu cầu tổ chức tham gia bảo hiểm
tiền gửi chấm dứt các giao dịch để tiến hành thanh lý tài sản hoặc kể từ ngày Tòa
án thông báo quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản theo quy định của pháp luật
về phá sản.
13
Theo đó, thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản
yêu cầu tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi chấm dứt các giao dịch để tiến hành
thanh lý tài sản được áp dụng với trường hợp giải thể bắt buộc và thời điểm Tòa
án thông báo quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản theo quy định của pháp luật
về phá sản áp dụng với trường hợp phá sản.
Tuy nhiên, thời điểm này không còn phù hợp với pháp luật hiện hành, vì
trong trường hợp giải thể, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có khả năng thanh
toán các khoản nợ nên không đặt ra vấn đề chi trả bảo hiểm tiền gửi, trường hợp
giải thể nếu không có khả năng thanh toán các khoản nợ thì phải chuyển sang
thủ tục phá sản. Hơn nữa, Luật Các tổ chức tín dụng 2010 có hiệu lực từ
01/01/2011 quy định tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài có
quyền nhận tiền gửi của cá nhân, vì vậy hai loại hình này phải tham gia bảo
hiểm tiền gửi bắt buộc. Do đó thời điểm tổ chức bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ
trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền phải bao gồm cả trường hợp áp dụng đối
với tổ chức tín dụng và trường hợp áp dụng đối với chi nhánh ngân hàng nước
ngoài. Tuy nhiên, Luật Các tổ chức tín dụng 2010 không có quy định về việc
phá sản chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
2.3. Mục tiêu của chính sách
Việc xác định thời điểm trả tiền bảo hiểm phù hợp thể hiện cam kết của
Nhà nước đối với người dân trong việc đảm bảo chi trả ngay lập tức khoản tiền
bảo hiểm trong hạn mức bảo hiểm tiền gửi cho người gửi tiền khi tổ chức tham
gia bảo hiểm tiền gửi đổ vỡ nhằm bảo vệ người gửi tiền, củng cố niềm tin của
công chúng đối với hệ thống ngân hàng, hạn chế hiện tượng rút tiền hàng loại tại
tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, qua đó giảm thiểu tình trạng mất khả năng
thanh toán của ngân hàng, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
2.4. Phương án lựa chọn
Phương án 2A: Giữ nguyên quy định như hiện nay: thời điểm tổ chức
bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền là khi cơ
quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản yêu cầu tổ chức tham gia bảo hiểm
tiền gửi chấm dứt các giao dịch để tiến hành thanh lý tài sản hoặc kể từ ngày
Tòa án thông báo quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản theo quy định của pháp
luật về phá sản.
13
Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 89/1999/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung năm 2005.
10
Phương án 2B: thời điểm tổ chức bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ trả tiền
bảo hiểm cho người gửi tiền (i) đối với tổ chức tín dụng: là thời điểm Tòa án ra
quyết định mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng; (ii) Đối với chi nhánh
ngân hàng nước ngoài: là thời điểm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thu hồi giấy
phép thành lập và chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng chi trả
tiền gửi cho người gửi tiền.
Phương án 2C: thời điểm tổ chức bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ trả tiền
bảo hiểm cho người gửi tiền (i) Đối với tổ chức tín dụng là thời điểm Ngân hàng
Nhà nước có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp
dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán
mà tổ chức tín dụng vẫn lâm vào tình trạng phá sản; (ii) Đối với chi nhánh ngân
hàng nước ngoài là thời điểm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản xác
định chi nhánh ngân hàng nước ngoài mất khả năng chi trả tiền gửi cho người
gửi tiền.
2.5. Đánh giá tác động các phương án
Phương án 2A: Như đã phân tích trong phần thực trạng, việc giữ nguyên
các quy định hiện hành là không phù hợp, không điều chỉnh hết các trường hợp
tổ chức bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ chi trả tiền gửi cho người gửi tiền. Do đó,
nếu tiếp tục quy định như vậy sẽ không thực hiện được mục tiêu của hoạt động
bảo hiểm tiền gửi là bảo vệ người gửi tiền, củng cố niềm tin của công chúng đối
với hệ thống ngân hàng, hạn chế hiện tượng rút tiền hàng loại tại tổ chức tham
gia bảo hiểm tiền gửi, qua đó giảm thiểu tình trạng mất khả năng thanh toán của
ngân hàng, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Phương án 2B: Phương án này đảm bảo khắc phục được các khiếm
khuyết của pháp luật hiện hành về bảo hiểm tiền gửi, đồng thời đảm bảo xác
định thời điểm tổ chức bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho
người gửi tiền được căn cứ cụ thể vào các quyết định của Tòa án và Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, theo phương án này, đối với trường hợp chi
nhánh ngân hàng nước ngoài, việc chi trả bảo hiểm tiền gửi cho người gửi tiền là
chậm hơn rất nhiều so với trường hợp tổ chức tín dụng. Điều này chưa đảm bảo
bảo vệ tiền gửi của toàn bộ người dân và gây ra bất lợi về cạnh tranh đối với chi
nhánh ngân hàng nước ngoài.
Phương án 2C: Cũng như phương án 3B, phương án này đảm bảo khắc
phục được các khiếm khuyết của pháp luật hiện hành về bảo hiểm tiền gửi, đồng
thời đảm bảo xác định thời điểm tổ chức bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ trả tiền
bảo hiểm cho người gửi tiền được căn cứ cụ thể vào các quyết định của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam. Phương án này đảm bảo chi trả sớm nhất cho người
gửi tiền trong cả trường hợp đối với tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng
11
nước ngoài. Tuy nhiên, theo phương án này, Luật Bảo hiểm tiền gửi sẽ trao
thêm cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam một chức năng là xác định và ban
hành văn bản về việc chi nhánh ngân hàng nước ngoài mất khả năng chi trả tiền
gửi cho người gửi tiền.
2.6. Kết luận và kiến nghị
Căn cứ vào mục tiêu của Luật Bảo hiểm tiền gửi là nhằm bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống
các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động
ngân hàng, kiến nghị lựa chọn phương án 3C nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi cho
người gửi tiền.
3. Vấn đề 3: Hoạt động đầu tư của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
3.1. Xác định vấn đề
Việc cho phép tổ chức bảo hiểm tiền gửi, với vai trò là tổ chức bảo hiểm
cho số tiền gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, được gửi tiền tại tổ chức
tham gia bảo hiểm tiền gửi mà cụ thể là tổ chức tín dụng nhà nước là một quy
định không hợp lý, gây rủi ro cho quỹ bảo hiểm tiền gửi, dẫn đến rủi ro mất khả
năng thanh khoản của quỹ bảo hiểm tiền gửi và tác động tiêu cực đến quyền lợi
của người gửi tiền.
3.2. Thực trạng hiện nay
Theo quy định hiện hành về bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi
có quyền mua trái phiếu Chính phủ, Trái phiếu, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam hoặc tổ chức tín dụng nhà nước; gửi tiền tại Kho bạc nhà nước; Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam hoặc tổ chức tín dụng nhà nước nhằm bảo đảm an
toàn vốn, bảo tồn vốn, dù đắp chi phí.
14
Tuy nhiên, quy định này vẫn còn có điểm chưa hợp lý, bởi lẽ việc cho
phép tổ chức bảo hiểm tiền gửi mua trái phiếu, tín phiếu của tổ chức tín dụng
nhà nước hoặc gửi tiền tại tổ chức tín dụng nhà nước sẽ dẫn đến việc tổ chức
bảo hiểm sẽ trở thành người gửi tiền không được bảo hiểm đối với những khoản
tiền gửi của mình tại tổ chức tín dụng nhà nước. Như vậy, điều này sẽ có những
tác động rất xấu đến hiệu quả của hệ thống bảo hiểm tiền gửi, cụ thể là trong
trường hợp tổ chức tín dụng nhà nước đổ vỡ, (i) tổ chức bảo hiểm tiền gửi sẽ có
khả năng không thu hồi được khoản tiền gửi tại tổ chức tín dụng nhà nươc đó và
dẫn đến quỹ bảo hiểm tiền gửi sẽ bị hao tổn; và (ii) liên quan đến các rủi ro đạo
đức, tổ chức bảo hiểm tiền gửi sẽ có nguy cơ thực hiện hành vi trì hoãn hoặc gây
khó khăn trong khi thực hiện các chức năng của mình về bảo hiểm tiền gửi như
giám sát từ xa, thu phí bảo hiểm tiền gửi, chi trả tiền bảo hiểm tiền gửi.
14
Khoản 8 Điều 7 Mục I Chương II Điều lệ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
12
3.3. Mục tiêu của chính sách
Hoạt động đầu tư của tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải tuân theo nguyên tắc
bảo toàn nguồn vốn và duy trì tính thanh khoản của quỹ bảo hiểm tiền gửi.
3.4. Phương án lựa chọn
Phương án 3A: Giữ nguyên quy định hiện hành, theo đó cho phép tổ
chức bảo hiểm tiền gửi mua trái phiếu Chính phủ, Trái phiếu, tín phiếu Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam hoặc tổ chức tín dụng nhà nước; gửi tiền tại Kho bạc
nhà nước; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoặc tổ chức tín dụng nhà nước
Phương án 3B: Luật Bảo hiểm tiền gửi quy định tổ chức bảo hiểm tiền
gửi được sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để mua trái phiếu Chính phủ, tín
phiếu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và gửi tiền tại Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam; và không cho phép tổ chức bảo hiểm tiền gửi gửi tiền tại tổ chức tín dụng
nhà nước để tránh việc thất thoát quỹ bảo hiểm tiền gửi.
3.5. Đánh giá tác động các phương án
Phương án 3A: Phương án này tạo điều kiện cho tổ chức bảo hiểm tiền
gửi có các sự lựa chọn phong phú trong hoạt động đầu tư, qua đó giúp tổ chức
bảo hiểm tiền gửi thu được nhiều lợi nhuận từ hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, song
song với khả năng sinh lợi cao, phương án này cũng mang lại rủi ro cho quỹ bảo
hiểm tiền gửi trong trường hợp tổ chức nhận tiền gửi của tổ chức bảo hiểm tiền
gửi đổ vỡ.
Phương án 3B: Ngược lại với phương án 4A, phương án này không
mang lại khả năng sinh lợi cao cho quỹ bảo hiểm tiền gửi nhưng lại đảm bảo
tính bảo toàn và khả năng thanh khoản của quỹ bảo hiểm tiền gửi.
3.6. Kết luận và kiến nghị
Trên cơ sở hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi không nhằm mục tiêu
lợi nhuận và tính bảo toàn và khả năng thanh khoản của quỹ bảo hiểm tiền gửi là
vô cùng quan trọng nhằm đạt được mục tiêu của Luật Bảo hiểm tiền gửi, kiến
nghị lựa chọn phương án 4B, theo đó Luật Bảo hiểm tiền gửi quy định tổ chức
bảo hiểm tiền gửi được sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để mua trái phiếu
Chính phủ, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và gửi tiền tại Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam.
4. Vấn đề 4: Chủ thể được bảo hiểm tiền gửi
4.1. Xác định vấn đề
Theo quy định của pháp luật, chủ thể bảo hiểm tiền gửi bao gồm cá nhân,
hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh
15
. Việc mở
15
Điều 3 Nghị định 89/1999/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung năm 2005
13
rộng chủ thể được bảo hiểm tiền gửi đối với hộ gia đình, tổ hợp tác, công ty hợp
danh đã nảy sinh một số bất cập và không thống nhất với các quy định khác của
hệ thống pháp luật ngân hàng.
4.2. Thực trạng hiện nay
Nghị định 109/20005/NĐ-CP mở rộng chủ thể được bảo hiểm tiền gửi đối
với một số loại hình doanh nghiệp là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh.
Quy định trên là một sự phân biệt đối xử đối với các loại hình doanh nghiệp
khác như công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu
hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần. Mặt khác, mục đích của Nghị định
109/20005/NĐ-CP là bổ sung người được bảo hiểm tiền gửi đối với các chủ thể
không có tư cách pháp nhân. Tuy nhiên, theo quy định mới tại Luật doanh
nghiệp năm 2005 thì công ty hợp danh lại là loại hình doanh nghiệp có tư cách
pháp nhân
16
.
Việc mở rộng các chủ thể được bảo hiểm tiền gửi tại Nghị định
109/20005/NĐ-CP không thống nhất với hệ thống pháp luật ngân hàng về hoạt
động nhận tiền gửi như Quy chế mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam và tổ chức tín dụng
17
, Quy chế về tiền gửi tiết kiệm
18
. Theo
Quy chế mở và sử dụng tài khoản, tổ chức tín dụng mở các loại tài khoản tiền
gửi sau: (i) tài khoản tiền gửi của cá nhân; (ii) tài khoản tiền gửi của đồng chủ
tài khoản (là tài khoản có ít nhất hai người trở lên cùng đứng tên mở tài khoản,
đồng chủ tài khoản có thể là cá nhân hoặc tổ chức); (iii) tài khoản tiền gửi của tổ
chức. Theo Quy chế về tiền gửi tiết kiệm, đối tượng gửi tiền tiết kiệm là cá nhân
hoặc đồng cá nhân (đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm). Như vậy, chủ thể mở tài
khoản tiền gửi, gửi tiền tiết kiệm hoặc là đứng tên cá nhân hoặc đứng tên đồng
chủ sở hữu hoặc đứng tên tổ chức (đối với việc mở tài khoản). Không có chủ thể
mở tài khoản tiền gửi hoặc gửi tiền tiết kiệm với tư cách hộ gia đình, tổ hợp tác.
Do đó, việc đặt ra vấn đề bảo hiểm tiền gửi với hộ gia đình, tổ hợp tác là không
thực tế.
4.3. Mục tiêu của chính sách
Mục tiêu của việc quy định cụ thể về chủ thể được bảo hiểm tiền gửi
nhằm bảo vệ những người gửi tiền nhỏ lẻ, thiếu thông tin.
4.4. Phương án lựa chọn
16
Khoản 2 Điều 130 Luật Doanh nghiệp năm 2005
17
Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN2 ngày 21/11/2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam.
18
Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/9/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét