5 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
khác nhau trong từng khu vực. Do đó, một điều quan trọng là khung phân tích giới cần phải được
xây dựng dựa trên một bối cảnh, địa điểm và lĩnh vực cụ thể.
Do đó, chương này sẽ giới thiệu một khung phân tích giới rất cụ thể cho khu vực ĐNA, lĩnh vực
cụ thể là QLMTĐT, đặc biệt chú trọng vào những tiểu lĩnh vực: nước và vệ sinh, quản lý chất
thải rắn và ô nhiễm không khí. Để đặt ra những bối cảnh địa lý và lĩnh vực, chương này sẽ đầu
tiên trình bày tổng quát về tình trạng phụ nữ trong lĩnh vực QLMTĐT ở ĐNA từ những nghiên
cứu và thống kê hiện thời. Dựa theo đó, chương này sẽ giới thiệu một khung phân tích có thể
được sử dụng để xác định những vấn đề giới trong QLMTĐT ở ĐNA và xác định những lĩnh vực
cần có sự can thiệp của dự án.
Mặc dù không có khung phân tích giới cụ thể trong lĩnh vực QLMTĐT, nhưng có một vài khung
phân tích giới liên quan và khung phân tích này sẽ được xây dựng dựa trên những nền tảng đó.
Hướng dẫn trong phân tích về nước và vệ sinh do Wendy Wakerman xây dựng (1995) trong quá
trình ESCAP (2003) xây dựng một loạt những chỉ số giới sử dụng những thống kê kinh tế vĩ mô.
Cũng đã có những khung phân tích đã được xây dựng hoàn thiện và được ứng dụng như khung
phân tích Harvard, Moser, Khung ma trận phân tích giới, Khung trao quyền của Lơngwe, và cách
tiếp cận quan hệ xã hội của Naila Kabeer. Khung phân tích giới cho lĩnh vực QLMTĐT ở ĐNA
đã được xây dựng vì:
“Không có một tiêu chuẩn lý thuyết nào về phát triển, giới và môi trường, nhưng có
khung phân tích bối cảnh về sự phát triển, phụ nữ và môi trường phản ứng và tương tác
với nhau. Điều đó để nói rằng, quan hệ giữa phụ nữ và môi trường chỉ có thể được hiểu
thông qua phân tích thể chế, mà ở đó hai yếu tố này tương tác với nhau, nơi mà ở đó sự
phát triển diễn ra” (Zein-Elabdin, 1996, p.930).
Do đó, để cho kết quả tốt nhất, một khung phân tích tách biệt phải được xây dựng cụ thể cho
từng bối cảnh và vấn đề cụ thể. Hơn nữa, khung phân tích giới được ứng dụng tại thực địa trong
quá trình xây dựng dự án sẽ không phải lúc nào cũng do những chuyên gia giới thực hiện. Mục
đích của việc phát triển khung phân tích giới thực sự đã cho phép những chuyên gia không thuộc
lĩnh vực giới tham gia vào việc phân tích giới. Theo nghĩa này, cần thiết phải xây dựng khung
phân tích giới mà ở đó cần hoàn cảnh hoá rõ rang, thậm chí khó có thể thực hiện trong từng và
mỗi bối cảnh cụ thể.
QLMTĐT là một lĩnh vực tương đối mới. Tổng quan nghiên cứu về phụ nữ/những khía cạnh giới
và môi trường chỉ ra rằng vai trò phụ nữ, trách nhiệm và việc sử dụng nguồn lực như đất, rừng và
nước. Những nhấn mạnh về nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường thường đi đôi với tài
nguyên thiên nhiên. Levy (1992:144) chú ý “cách đơn giản nhất gắn giới và môi trường là việc
sử dụng nguồn tài nguyên của phụ nữ và nam giới”, nhận ra những hệ thống sản xuất và tiêu thụ
nơi họ đang vận hành trong những bối cảnh cụ thể”.
6 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
Trong bối cảnh QLMTĐT, sản xuất và tiêu thụ không trực tiếp với nhau, chúng phụ thuộc lẫn
nhau. Do đó, ngoài sản xuất và tiêu thụ, chúng ta cần chú ý đến lao động và những dịch vụ cung
cấp. Vai trò của thị trường và nhà nước như là những người giữ cổng hay những rào cản của lao
động và việc làm cho thể kết nối trực tiếp hơn ở khu vực đô thị hơn là nông thôn. Do đó, khung
phân tích được sử dụng trong tổng quan về giới và môi trường không trực tiếp ứng dụng được
cho việc phân tích giới trong QLMTĐT.
CÁC VẤN ĐỀ GIỚI TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ Ở ĐÔNG NAM Á
NƯỚC VÀ VỆ SINH
Huynh (2007) chỉ ra rằng 48% hộ gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng bởi lũ lụt. Ở
Dili, Đông Timor, chỉ có 43.8% dân số được tiếp cận đến nước sạch và 80% đã bị các bệnh do kí
sinh trùng gây ra hay những bệnh khác. Không có hệ thống nước thải dẫn đến những bệnh dịch
do muỗi và nước bẩn gây ra (Robertson, 2007).
Trong những người dân sống trên thuyền ở Việt Nam, cả phụ nữ và nam giới phải làm việc dưới
nước cả ngày và nước lụt lội đã gây ra những vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng. Phụ nữ dễ bị tổn
thương nhiều hơn vì chức năng tái sản xuất của mình và sức khoẻ sinh sản của do ảnh hưởng của
nước bị ô nhiễm.
Một phân tích giới ở Metro Manila chỉ ra rằng 33% dân số sống cùng với nước không thể sử
dụng cho ăn uống, và 29% dân số không có thiết bị vệ sinh (Rivesa, 2007). Ở Deli, chỉ có 30%
hộ gia đình được trang bị đường ống nước sạch, và 10% phải lấy nước từ nguồn không đảm bảo
(Robertson,2007). Thiếu tiếp cận đến nước sinh hoạt là một vấn đề nghiêm trọng ở Dili, với 94%
phụ nữ đã cho rằng tiếp cận đến nước là một nhu cầu quan trọng nhất.
Ở thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, người dân phải mua nước từ những người bán nước rong
và số tiền hàng tháng cho tiền nước có thể lên đến 100,000 VND, tương đương với 6.25 USD
1
(Huynh, 2007). Trong khi những người phải mua nước sạch chỉ có thu nhập từ 20.000 đến
30.000 VND/ngày thì đây quả là một số tiền không nhỏ cho người nghèo. Phân tích giới ở
Surabaya, Indonesia chỉ ra rằng chỉ có 24.5 % những người được phỏng vấn có hệ thống nước
máy (Wisjibroto, 2007). Trung bình, phụ nữ mất khoảng 30 phút để đi lấy nước hàng ngày, thậm
chí nhiều người mất đến 60 phút.
Thiếu tiếp cận đến các dịch vụ vệ sinh ở khu vực đô thị gây nên những tổn thất cho phụ nữ về
vấn đề sức khỏe, tiền bạc và thời gian. Những nguồn lực tài chính cần thiết cho nguồn nước cũng
1
16.000VNĐ = 1 Đôla Mỹ
7 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
như quản lý chất thải rắn là những gánh nặng cho phụ nữ do phân chia lao động giới truyền
thống. Phụ nữ thường là người quản lý tài chính trong gia đình, và điều này là những gánh nặng
cho họ vì việc mua nước sẽ làm cho kinh tế của gia đình khó khăn hơn, điều này dẫn đến việc họ
phải làm việc dài hơn và ít tiền hơn cho việc mua thức ăn. Ở Philippine, người dân thường có xu
hướng sử dụng nước bị ô nhiễm làm nước uống nếu như nguồn cung cấp nước uống bị cắt cho
việc chưa trả tiền (Rivetra-Santander, 2004).
Là những người phải đi lấy nước, phụ nữ và trẻ em gái thường bị ảnh hưởng nhiều hơn. Ngoài
tiền, sức khỏe và thời gian bỏ ra nhiều hơn, sức khỏe thể chất của phụ nữ cũng bị ảnh hưởng cho
việc thiếu các dịch vụ môi trường đô thị. Ở Surabaya, 66.6% người trong nhóm được nghiên cứu
sử dụng lòng sông cho việc đi vệ sinh và sử dụng nước sông hồ để tắm, mặc dù những hoạt động
này gây nên những vấn đề không an toàn cho phụ nữ (Wisinubroto, 2007).
Nhà xí ở trường học cũng gây ra những ảnh hưởng giới, đặc biệt ở những học sinh lớn.
Syphoxay (2005) nghiên cứu tại một trường cấp ba ở Vientianne, Lào tìm ra rằng 68% học sinh
nữ về nhà để đi vệ sinh trong khi chỉ có 38% học sinh nam làm điều này. Điều này bởi vì nhà xí
ở trường học rất bẩn thỉu, và học sinh nữ cảm thấy ngượng ngùng khi sử dụng những nhà xí gần
trường học. Trang thông tin điện tử về giới phát hiện ra rằng học sinh nữ, đặc biệt là học sinh
mới lớn bỏ trường học vì thiếu những trang bị vệ sinh đúng cách.
Nhà vệ sinh thường được nam giới thiết kế, trong khi những người này thường không nhạy cảm
với những nhu cầu cụ thể của các trẻ em gái. Nhà vệ sinh của trẻ em trai và trẻ em gái thường
được xây dựng quá gần nhau. Chỗ đi tiểu cho các bé trai thường quá cao nên thường xuyên chạy
sang chỗ vệ sinh của các bé gái để đi vệ sinh. Trích dẫn trong một báo cáo của UNICEF của một
nhóm làm việc liên tổ chức về nước và giới (2004) chỉ ra rằng một dự án về vệ sinh cho các
trường học với những trang thiết bị riêng rẽ cho các trẻ em trai và trẻ em gái giúp đẩy nhanh việc
đi học của trẻ em trai và gái đã giúp tăng số lượng trẻ em gái đi học tăng 11% qua các năm từ
năm 1992 đến 1999.
Phụ nữ cũng cần những trang thiết bị vệ sinh hơn nam giới. UNDP (2003:66) chỉ ra rằng ở
những nước như Cambodia, Indonesia và Việt Na, phụ nữ rất ưu tiên việc xây dựng buồng vệ
sinh trong ngôi nhà của họ, và đã thành công trong việc thuyết phục chồng họ để xây dựng
buồng vệ sinh ngay trong nhà.
Ở Nam Á, nơi phụ nữ thường bị phân biệt, phụ nữ dễ bị tổn thương khi có những trận lũ lụt vì
những thực hành về văn hóa đòi hỏi phụ nữ đi ra ngoài thường phải có ai hộ tống (Parkinson,
2003). Mặc dù ở ĐNA thì đây không phải là việc phổ biến nhưng phụ nữ cũng bị ảnh hưởng
nhiều do việc lũ lụt. Phụ nữ thường bị ảnh hưởng do hệ thống thoát nước nghèo nàn và việc lũ
lụt ở những khu vực nấu nướng. Parkinson (2005) chỉ ra rằng khối lượng công việc nhiều của
phụ nữ bị tăng lên cho một số lý do sau: 1) thiệt hại kinh tế, 2) sự đổ vỡ của hệ thống sinh kế mà
trong đó họ có vai trò quan trọng trong việc xây dựng lại, 3) đối mặt với những thay đổi xã hội
8 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
t nơi.
và tinh thần do phải đối mặt với cái chết, bệnh tật và cạn kiệt nguồn thức ăn sau khi lụt lột xảy
ra. Ở Nam Á, Bapat và Agarwal (2003) đã chỉ ra trong nghiên cứu của họ tại Mumbai và Puna ở
Ấn Độ rằng nước và vệ sinh là một trong những khó khăn gây nhiều sức ép và tiêu tốn về thời
gian nhất, đặc biệt cho phụ nữ.
Nhìn chung, trong lĩnh vực nước và vệ sinh ở ĐNA đã nhận thấy việc cần thiết tập trung vào
nước nông thôn (xem Wackmen, 1995, Nhóm làm việc liên tổ chức về Giới và nước), trong khi
nước và vệ sinh ở khu vực nông thôn đã được nhìn nhận là không nổi trội hơn.
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Quản lý chất thải rắn đô thị có thể được phân loại thành rác thải sinh hoạt, chất thải nguy hiểm,
chất thải từ nông nghiệp và công nghiệp, bệnh viện và chất thải sinh học- y tế. Vấn đề quản lý
chất thải rắn là những vấn đề liên quan đến việc thu lượm, xử lý chất thải, xử lý để tái sử dụng.
Những nguy hiểm về sức khỏe là rất cao thông qua việc tiếp xúc với chất bài tiết hay những chất
thải thô. Bệnh viêm gan, ỉa chảy, những bệnh dị ứng về da và mắt là rất phổ biến
Phụ nữ và nam giới đóng vai trò khác nhau trong việc quản lý chất rắn. Thiếu các dịch vụ quản
lý chất rắn có thể gây nên những khó khăn cũng như những nguy hiểm sức khỏe cho cả phụ nữ
và nam giới. Ở Yogyakarta, Indonesia, dịch vụ thu gom chất thải rắn chỉ phục vụ được khoảng
25% các hộ gia đình (Sumiarani và Ayum, 2005). Phụ nữ thường có xu hướng bị thiệt thòi nhiều
hơn do việc thiếu các dịch vụ do họ phải chịu trách nhiệm về việc vứt rác của gia đình.
Ở Đông Timo, đã có báo cáo rằng vai trò của phụ nữ trong việc quản lý chất thải rắn đã gây cho
họ không chỉ những nguy hiểm sức khỏe khi tiếp cận đến những nơi dổ rác ngoài trời, mà còn
tạo nên những nguy hiểm cho họ khi những nơi vứt rác thải thường ở ngoài cộng đồng và đường
đi đến nơi đổ rác thường không an toàn
2
. Phụ nữ và trẻ em thường ở nhà nhiều hơn nam giới,
và ở những khu vực nông thôn nghèo, những phụ nữ làm việc tại gia đình thường có phải làm
việc ở những nơi có điều kiện vệ sinh không an toàn vì nhà và nơi làm việc là mộ
Ngamnetr (2005) báo cáo rằng những người lao động làm công việc tại gia đình thường làm việc
dưới điều kiện không đảm bảo sức khỏe, không thông thoáng, nóng, chất độc hại hóa học và bụi,
hệ thống rác thải nghèo nàn, và thời gian làm việc lâu tại nhà. Mạng lưới HomeNet ở Thái Lan
đã và đang giới thiệu một công nghệ sạch cho những người làm việc tại gia đình nhằm cải thiện
điều kiện làm việc của họ.
Một điều quan trọng đó là phụ nữ phải được tham gia vào việc lên kế hoạch quản lý chất thải rắn.
Ở những nơi như Lào và Thái lan, chất thải được ném trực tiếp xuống kênh, rạch và làm ô nhiễm
kênh, rạch. Chounlemountry (2007) báo cáo rằng các cộng đồng ở ven các kênh ở Vientiane, phụ
2
Đối thoại cá nhân với Gabrielle Groves
9 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
nữ nhạy cảm hơn nam giới về tầm quan trọng của việc quản lý chất rắn hơn nam giới (55% phụ
nữ, 46% nam giới).
Trong những người làm công nhân rác thải, phụ nữ thường là người thu lượm rác, trong khi nam
giới thường là người vận chuyển
3
. Do đó, phụ nữ dễ bị tổn thương hơn nam giới khi tiếp xúc với
rác thải và từ đó cần phải yêu cầu việc bảo vệ được cải thiện và tập huấn đào tạo trong việc tiếp
xúc với rác thải. Phụ nữ thường mang theo trẻ con nhỏ khi họ đi nhặt rác vì họ không sắp xếp
được dịch vụ chăm sóc sức khỏe, và từ đó trẻ em cũng có nguy cơ đối mặt với môi trường ô
nhiễm. Medina (trong trang web của WIEGO) chú ý rằng ở Port Said, Ai Cập, tỉ lệ trẻ em chết
yểu ở những cộng đồng thu lượm rác cao gấp nhiều lần so với những cộng đồng khác do cứ ba
trẻ em thì có một trẻ em chết dưới một tuổi. Muller và Schienberg (trong trang thông tin điện tử
GDRC) chỉ ra rằng phụ nữ nhặt rác dễ bị tấn công/hiếp dâm trong khi làm việc ở những nơi hẻo
lánh như là bãi rác. Rác rưởi từ công nghiệp có thể có những ảnh hướng bất lợi lên sức khỏe phụ
nữ hơn so với nam giới. Ở Philippine, Maramba và các đồng nghiệp (2006) đã nghiên cứu về
những ảnh hưởng của mỏ thủy ngân bị cấm. Họ đã phát hiện ra rằng tỉ lệ thủy ngân ở nhóm phụ
nữ mang thai bị dễ ảnh hưởng hơn nhiều, điều này đương nhiên sẽ ảnh hưởng phụ nữ và trẻ em.
Ô NHIỄM KHÍ
Ô nhiễm không khí ở những thành phố Châu Á đang tăng nhanh. Mặc dù mọi người đều bị ảnh
hưởng bởi ô nhiễm khí, nhưng trẻ em và người già là những nhóm dễ bị tổn thương nhất. Đã có
sự tăng nhanh tác động về hệ hô hấp đối với khu vực thành thị. Gần hai triệu trẻ em dưới 5 tuổi
chết hàng năm do ảnh hưởng về hệ hô hấp, theo cáo cáo từ trang web của Trung tâm kiểm soát
và phòng chống bệnh dịch, Sở sức khỏe và dịch vụ con người. Tổ chức sức khỏe thế giới WHO
cũng ước chừng có khoảng 40% trường hợp có vấn đề về hệ hô hấp là do điều kiện môi trường.
Với vai trò là những người chăm sóc người ốm, những ảnh hưởng do gánh nặng về khối lượng
công việc lại tăng lên khi do những ảnh hưởng của môi trường lên sức khỏe của các thành viên
trong gia đình.
Một vài phụ nữ va nam giới nghèo không có sự lựa chọn nào và phải làm việc trong những khu
vực ô nhiễm khí. Những người bán hàng di động chủ yếu là khu nữ ở khu vực ĐNA, công an
giao thông, chủ yếu là nam gới là những nhóm có nguy cơ rất cao do những ảnh hưởng của ô
nhiễm không khí đường phố. Karita và các đồng nghiệp đã nghiên cứu sự liên hệ của bệnh ho
mãn tính và ho đờm của nhóm công an giao thông ở Bangkok (nơi ô nhiễm khí nặng) và ở
Ayuttay (nơi ít tắc nghẽn giao thông). Tuy nhiên, nghiên cứu đã chỉ ra rằng do một số định kiến,
3
Thành phố Inbadan ở Nigieria, đã chỉ ra sự phân công lao động theo giới trong ngành rác thải sinh học y tế.Phụ nữ
qutét và thu lượm rác, trong khi đó nam giới vận chuyển rác. Việc thu lượm rác được thực hiện bằng tay, do đó có
những nguy cơ sức khoẻ cao hơn. Họ cũng không được đào tạo hiệu quả trong việc quản lý việc truyền bệnh như thế
nào (Chương trinh quản lý đô thị, 2001)
10 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
một vài cảnh sát giao thông đã giấu những triệu chứng bệnh của họ do sợ mất việc. Họ cũng chỉ
ra rằng nếu những định kiến như vậy là đúng, sự khác biệt sẽ rõ hơn nhiều.
Phụ nữ và nam giới nghèo cũng phải đối mặt với ô nhiễm khí tại nơi làm việc. Ở Thái Lan, phụ
nữ làm việc trong ngành may mặc bị ảnh hưởng rất nhiều do bệnh phổi nhiễm bụi bông, bệnh
phổi do bụi vải. Hơn ba phần tư công nhân đã đòi chủ lao động phải bồi thường về những thiệt
hại này (trang điện tử CSR. Ngamnetr (2005) cũng chỉ ra nhiều người làm việc tại gia đình phải
làm việc trong những điều kiện không thoáng mát.
Phụ nữ là những người phải chịu thiệt thòi nhiều nhất do ô nhiễm khí trong gia đình do việc nấu
nướng. Trang thông tin của Ngân hàng thế giới Philippine chú ý về một nghiên cứu của Sở Y tế
ở Manila năm 1999 chỉ ra 48% trong 108 hộ gia đình được lựa chọn một cách ngẫu nhiên đã
vượt qua mức ô nhiễm khí cho phép trong gia đình. Nghiên cứu kết luận rằng “ô nhiễm khí có
thể lả một nguyên nhân chính, các kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khói trong nhà do đun
bằng dầu hỏa, củi, than cũng là những yếu tố chính dẫn đế việc ô nhiễm trong gia đình.
Ô nhiễm khí trong gia đình do việc nấu nướng bằng dầu cũng có xu hướng ảnh hưởng sức khỏe
nhiều hơn nam giới. Shretha (2006) nghiên cứu tại hai làng ở Phnompenh, Cambodia đã phát
hiện ra rằng hầu hết những người bị bệnh đường hô hấp là phụ nữ. Hơn 90% người nấu nướng
trong gia đình là phụ nữ vì họ phải dùng ít nhất từ 1-2 giờ đồng hồ hàng ngày. Khu bếp thường
nhỏ và ít thông thoáng. Chỉ có khoảng20-25% những người tham gia trong cuộc nghiên cứu sử
dụng gas cho việc đun nấu nhưng gas thường đắt hơn so với các loại chất đốt khác.
PHỤ NỮ LÃNH ĐẠO VÀ TRAO QUYỀN CHO PHỤ NỮ
Do phụ nữ bị những ảnh hưởng khác nhau do môi trường đô thị xuống cấp và vai trò đặc biệt mà
họ đang nắm giữ, nên quan niệm của họ về QLMTĐT cũng khác so với nam giới (Muller và
Schienberg). Phụ nữ không chỉ là nạn nhân mà còn là một tác nhân quan trọng trong việc quản lý
nguồn nước. Chan va Nittivatananon (2006) có ghi lại rằng vai trò của phụ nữ quyết định những
công nghệ tiết kiệm nước ở Malaysia, và nhấn mạnh sự tham gia của phụ nữ trong quản lý nước
như là yếu tố quyết định cho những nỗ lực nhằm tiết kiệm nước.
Trường hợp ở Hua Lamphong Klong ở Thái Lan (ADB 2006) đã chỉ ra vai trò vô cùng quan
trọng mà phụ nữ đã thực hiện trong việc giữ gìn kênh rạch sạch sẽ. Chung và Poon ghi lại rằng ở
Hongkong, phụ nữ là những người tham gia nhiều nhất trong việc quản lý rác, và thái độ của
người vợ là yếu tố quyết định cho sự thành công trong việc phân loại rác thải ngay từ trong gia
đình
Trong tất cả các quốc gia trong khu vực, phụ nữ thường chỉ nắm giữ những vị trí không quan
trọng so với nam giới. Sự đại diện của họ trong các vị trí ra quyết định ở những nơi công cộng
thấp hơn nam giới. Sự tham gia của họ trong các cơ quan ra quyết định thường thấp. Ví dụ, một
phân tích giới ở Yogyakarta (Surmiarmi và Arum, 2007) chỉ ra rằng ở ban quản lý dân phố chỉ
11 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
có 2.5% phụ nữ. Muller và Schienberg (trang web của GDRC) chỉ ra một vấn đề là phụ nữ
thường gặp nhiều vấn đề trong việc sắp xếp thời gian để tham dự các cuộc họp vì họ phải dùng
thời gian của mình chủ yếu cho việc kiếm tiền để hỗ trợ gia đình.
Mặt khác, phụ nữ cũng được nhìn nhận là tham gia rất tích cực trong công việc xây dựng tại
cộng đồng so với nam giới. Fong và các đồng nghiệp (1996: trang 21) ghi lại rằng phụ nữ đóng
góp nhiều công lao động hay nấu thức ăn tự nguyện trong quá trình xây dựng đường ở các quốc
gia như Pakistan, Ấn độ, Thái Lan và Bangladesh. Đây cũng là điều dễ nhận thấy trong nhiều dự
án tại cộng đồng của dự án SEA-UEMA nơi phụ nữ thường làm rất nhiều công việc tự nguyện
cho cộng đồng. Thông thường, sự tham gia của phụ nữ trong các công việc tự nguyện chỉ ra bằng
chứng về sự tham gia của phụ nữ. Tuy nhiên, những tham gia này cần phải được phân tích cẩn
thận nếu nó là một cách để trao quyền năng cho phụ nữ.
Sự tham gia của phụ nữ trong các dự án QLMTĐT có thể không thay đổi địa vị thấp của họ trong
xã hội. Địa vị thấp của phụ nữ được biểu hiện và được duy trì thông qua bạo lực chống lại phụ
nữ. Nó thường được sử dụng như một “nguyên tắc” để giữ phụ nữ đúng ở vị trí của họ. Do đó,
nó đã gây nên sự sợ hãi cho phụ nữ và khiến họ đi chệch hướng ra khỏi những chuẩn mực và
mong đợi.
Ở Yogykarta, 63% các hộ gia đình đã xảy ra trường hợp đánh đập vợ, và tình trạng này thậm chí
còn tồi tệ hơn nếu người vợ hoàn toàn không đi làm ở nhà làm việc nhà (Sumiarni và Arum
2007). Điều này chỉ ra rằng nếu phụ nữ bị phụ thuộc kinh tế vào chồng họ, sự lựa chọn của họ sẽ
rất hạn chế. Họ không có sự lựa chọn nào nhưng vẫn phải tiếp tục các quan hệ không tốt đẹp. Ở
Đông Timo, 50% phụ nữ bị bạo lực trong vòng một năm qua nhưng chỉ có 15% các trường hợp
được ghi lại và báo cáo. Điều này chỉ ra những con số chỉ là bề nổi và vấn đề thực sự có thể còn
nghiêm trọng hơn nhiều (Robertson, 2007).
Sự tham gia hạn chế của phụ nữ sẽ thực sự trở thành vấn đề. Sự tham gia của họ sẽ liên quan trực
tiếp đến sự hiệu quả của dự án, như Wendy Wakeman (1995) đã trích dẫn nghiên cứu của Deepa
Narayan hơn 100 dự án cung cấp nước ở khu vực nông thôn.
Những trường hợp được xem là thành công cũng chỉ ra sự hiệu quả của dự án không phải là do
lao động tự nguyện của phụ nữ, nhưng bởi vì do sự tham gia của phụ nữ, việc thiết kế của dự án
đã thay đổi. UNDP (2003:60) đã báo cáo về một trường hợp ở Indonesia, nơi một nhóm phụ nữ
đã chỉ ra được những vấn đề sai trong việc nghiên cứu và đưa những nhu cầu của phụ nữ vào
chương trình cũng như thành lập các ủy ban để tham gia vào việc thiết kế hệ thống cung cấp
nước mới. Enabor và các đồng nghiệp (1998) đã ghi lại kinh nghiệm ở khu nhà ổ chuột về một
dự án đã được xây dựng để phụ nữ có thể kiểm soát và quản lý đất. Phụ nữ đã thực hiện chương
trình và huy động được sự tham gia của nam giới và nam giới.
Nhóm làm việc liên cơ quan về Giới và nước đã báo cáo về chương trình vận động Aqua-Danone
ở Indonesia, phụ nữ đã tham gia một cách hiệu quả trong việc chia sẻ thông tin với gia đình và
thông qua mạng lưới không chính thức và nam giới trong việc chia sẻ thông tin ngoài gia đình và
thông qua mạng lưới chính thức. Thông qua sự tham gia trong chương trình dự án vận động, chia
sẻ những thông tin tập trung vào mảng vận động và thảo luận những vấn đề một cách hiệu quả
với các thành viên khác.
QUAN HỆ GIỚI
Phân công lao
động theo giới
Tiếp cận và kiểm
soát nguồn lực
Địa vị của phụ nữ
trong gia đình và
XH
Những khác biệt giới trong
ảnh hưởng từ sự xuống cấp
của MTĐT
Sự khác biệt giới trong việc
tíêp cận đến các dịch vụ lien
quan đến môi trường
Những khác biệt giới trong
động cơ và khả năng tạo nên sự
thay đổi
Môi trường xã hội/chính trị và
toàn cầu hoá
Các quy tắc
Nhằm trao quyền cho phụ nữ thông qua các dự án QLMTĐT, sẽ rất quan trọng trong việc xem
xét vai trò của phụ nữ được xem xét như thế nào trong từng dự án. Thậm chí nếu họ cùng làm
trên cùng một lĩnh vực tái sản xuất, cách trình bày và nhận thức về sự đóng góp của họ sẽ gây
ảnh hưởng lên địa vị của họ trong gia đình và cộng đồng. Ví dụ, nếu công việc của phụ nữ được
nhìn nhận là một phần công việc thêm vào các công việc gia đình, nó sẽ không tạo nên sự khác
biệt gì về địa vị của họ và chỉ làm tăng thêm gánh nặng cho họ. Nhưng nếu một cách khác, nếu
điều đó được nhìn nhận là công việc chính thức của cộng đồng với vai trò lãnh đạo, điều đó sẽ
thấy được địa vị của họ trong gia đình và cộng đồng. Thậm chí việc tham gia của phụ nữ vào
hoạt động của cộng đồng có thể hạn chế ở cấp cao, và ở một số nơi, phụ nữ đã nhìn nhận như là
một người lãnh đạo gia đình và cộng đồng.
Ở Indonesia, một nhóm phụ nữ ở cộng đồng đã lãnh đạo một dự án quản lý chất thải rắn. Ở
Penang, những người lãnh đạo nữ đã thực hiện thành công việc thực hiện một mô hình về quản
lý chất rắn đã có từ trước. (Khor, 2006). Những người phụ nữ thu lượm phế thải ở Phnom pênh
12 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
13 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
đã cùng nhau họp và cải thiện hệ thống thoát nước mưa và điều kiện vệ sinh ở nơi làm việc
(Kusakabe, 2006). Điều phổ biến ở những trường hợp này đó là định nghĩa về phụ nữ và công
việc của phụ nữ đã thay đổi.
Phụ nữ sẽ không còn được nhìn nhận như là những người nghe tuân thủ và thực hiện mà là
những nhà lãnh đạo. Phụ nữ không còn bị nhìn nhận là những người thu lượm phế thải bị động
mà còn là những người quản lý thị trường. Công việc thu lượm rác của phụ nữ không còn được
nhìn nhận là việc thêm vào công việc gia đình của họ nhưng còn là một dự án về quản lý chất
thải rắn cho cộng đồng của họ.
KHUNG PHÂN TÍCH GIỚI TRONG VIỆC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ Ở ĐÔNG
NAM Á
Tổng quan lý thuyết về giới và QL MT ĐT tập trung vào khu vực Châu á, đặc biệt là khu vực
ĐNA đã chỉ ra những lĩnh vực chính sau:
1. Những tác động khác biệt giới do sự xuống cấp của môi trường đô thị.
2. Những khác biệt giới trong việc tiếp cận đến các dịch vụ liên quan đến môi trường đô thị
và,
3. Khác biệt giới trong động lực và khả năng trong việc tạo nên những thay đổi.
Những ảnh hưởng khác biệt giới do sự xuống cấp của môi trường đô thị
Như một kết quả của việc phân công lao động theo giới, phụ nữ và nam giới nghèo thường phải
đối mặt với những loại ô nhiễm khác nhau. Lý do chính của những tác động khác biệt giới này là
sự phân công lao động giới cách truyền thống, sự phân công này đã định ra vai trò của phụ nữ và
nam giới trong công việc hàng ngày. Do quan điểm của xã hội thì phụ nữ và nam giới được phân
công những nhiệm vụ khác nhau và sự mong đợi của xã hội với họ là khác nhau. Do đó, công
việc của họ trong xã hội rất đa dạng do các vai trò và trách nhiệm khác nhau và điều đó tạo nên
những khác biệt giới trong việc đối mặt với những nguy cơ. Phụ nữ làm việc ở gia đình có thể bị
ảnh hưởng bởi những quá trình công nghiệp liên quan trong quá trình sản xuất. Cảnh sát giao
thông thường là nam giới, do đó họ cũng có nguy cơ cao với ô nhiễm môi trường. Những người
bán dạo trên đường phố, chủ yếu là phụ nữ phải kiếm sống dọc theo con phố cũng sẽ bị ảnh
hưởng nặng do ô nhiễm và bụi.
Ngoài những nguy cơ sức khỏe ảnh hưởng trực tiếp đến phụ nữ và nam giới, phụ nữ thường bị
tăng khối lượng công việc vì họ thường là người chăm sóc người ốm trong gia đình. Có trẻ em
hoặc người già mắc bệnh sen suyễn hoặc đi ngoài cũng có nghĩa là phụ nữ phải ở nhà để chăm
sóc người ốm và điều này làm họ mất các cơ hội tăng thu nhập.
14 Bình đẳng giới trong quản lý môi trường đô thị – các trường hợp cụ thể
Lý do thứ hai cho những ảnh hưởng khác biệt giới chính là do sự khác biệt trong việc tiếp cận và
quản lý các nguồn lực. Tính dễ bị tổn thương do ô nhiễm thường biểu hiện như là một vấn đề về
tầng lớp như là người nghèo thường ít có khả năng trong việc chống lại ô nhiễm. Rất nhiều phụ
nữ và nam giới không có sự lựa chọn nào khác và buộc phải làm việc trong điều kiện ô nhiễm.
Tuy nhiên, cần chú ý rằng nữ giới thường ít được tiếp cận đến các nguồn lực hơn nam giới, đặc
biệt là phụ nữ làm chủ hộ gia đình ở nông thôn. Phụ nữ thường ở những vị trí mà họ khó có thể
bảo vệ bản thân họ. Những doanh nghiệp do nữ làm chủ thường sử dụng những máy móc không
hiệu quả, cũ kĩ và ô nhiễm. “Mặc dù những công nghệ bảo vệ môi trường có trên thị trường,
nhưng phụ nữ không tiếp cận được tín dụng để mua những công nghệ này hoặc không biết sử
dụng công nghệ một cách hiệu quả và an toàn’ (UNIDO, 1995:1).
Lý do thứ ba cho những tác động giới khác nhau đó là do dự hạn chế di chuyển của phụ nữ. Bose
(1999) đã ghi lại rằng sự hạn chế và tách biệt không gian đã trực tiếp liên quan đến cơ hội công
việc cho phụ nữ ở khu nhà ổ chuột ở Calculta. Phadke (2007) và Ranade (2007) cũng chỉ ra rằng
phụ nữ và nam giới định vị và xác định họ ở những nơi và khu vực cụ thể và hạn chế/di chuyển ở
những khu vực công cộng ở Mumbai. Sự di chuyển của phụ nữ và nam giới, cũng như suy nghĩ
về không gian của họ cũng có tác động lên sự tham gia của họ đến môi trường đô thị và việc
quản lý môi trường này. Nếu họ coi những không gian này là không gian của họ, tình hình về vệ
sinh có thể được thay đổi tốt hơn. Người ta quan sát ở các khu nhà ổ chuột phát hiện ra rằng mặc
dù xung quanh ngoài ngôi nhà rất bẩn nhưng trong nhà được lau dọn sạch sẽ. Những người chịu
trách nhiệm về vệ sinh quan niệm rằng ngôi nhà là không gian của bản thân họ, trong khi bên
ngoài là khu vực công cộng và đó là nơi họ không gây được ảnh hưởng.
Trong công việc của mình về cộng đồng rác thải về sự án mìn đã phải hiện ra rằng mọi người
tham gia vào những vấn đề xã hội như là những sở thích riêng. Tuy nhiên cứu này không tách
biệt giới tính, nhưng một điều quan trọng cần ghi lại đó là dự án này có thể được định ra để thiết
lập nên mối liên hệ quan trọng giữa sở thích cá nhân và những quan tâm xã hội và sự phát triển
của cơ chế chia sẻ thông tin hiệu quả. Sẽ có thể xây dựng một quan niệm rằng quản lý rác thải ở
cộng đồng không phải chỉ là trách nhiệm của mọi người mà còn là lợi ích của họ, từ đó có thể
mở rộng quan niệm của nhiều người rằng họ chỉ làm những gì mà họ quan tâm.
Ở Dili, Đông Timo, phụ nữ rất khó trong việc tiếp cận đến nơi thu lượm rác vì con đường đến đó
không an toàn.
4
Sự hạn chế sự di chuyển của phụ nữ có thể hạn chế cơ hội việc làm, và làm cho
họ phải làm những công việc như thu lượm rác. Những không gian đô thị có thể nguy hiểm cho
phụ nữ, và những lo lắng về sự an toàn có thể làm ảnh hưởng đến việc họ sẽ làm gì nhằm đảm
bảo sự an toàn cho họ. Nhưng cần phải chú ý rằng lý do chính của việc hạn chế sự di chuyển của
phụ nữ chính là sự không an toàn. Do đó, cái chúng ta cần phải chú ý ở đây là thiếu sự di chuyển
và thiếu sự an toàn. Phadke (2007) đã lập luận rằng, “bảo vệ” phụ nữ chống lại sự không an toàn
4
Nói chuyện cá nhân với Garbielle Groves
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét