Báo cáo thực tập Tháng 1/2007
Các phân xưởng phụ trợ : Phân xưởng thêu in, phân xưởng bao bì, phân
xưởng cơ điện
* Sáu xí nghiệp may : 1, 2, 4, 6, 8, 9
* Ngoài ra , Công ty còn có 7 xí nghiệp thành viên ( gồm 1 liên doanh)
- Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty cổ phần May Đức Giang – Biểu số 1
1.3.Cơ cấu bộ máy kế toán của Công ty cổ phần May Đức Giang
Để phù hợp với đặc điểm của sản xuất kinh doanh, đáp ứng yêu cầu quản
lý, Công ty áp dụng hình thức tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình kế toán
tập trung.Theo mô hình này thì toàn bộ công việc kế toán được tập trung ở
phòng Tài chính kế toán của Công ty,ở các xí nghiệp và các xí nghiệp thành
viên không tổ chức bộ máy kế toán riêng mà chỉ bố trí các nhân viên kinh tế
làm nhịêm vụ hướng dẫn, kiểm tra công tác hạch toán ban đầu, kiểm tra thu
thập các chứng từ và ghi chép vào sổ sách.
Phòng Tài chính kế toán của Công ty gồm có :
- Trưởng phòng Tài chính kế toán ( Kế toán trưởng )
Là người phụ trách chung công việc của phòng Tài chính kế toán , chịu
trách nhiệm trước Tổng Giám đốc.Kế toán trưởng cũng là người thực hiện
phân tích tình hình tài chính cho Tổng Giám đốc và các cơ quan có thẩm
quyền,đưa ra các ý kiến đề xuất, cố vấn tham mưu cho Tổng Giám đốc trong
việc đưa ra các quyết định và tham gia trong việc lập các kế hoạch tài chính
và kinh doanh của Công ty.
- Phó phòng Tài chính kế toán
Là người phụ trách công tác kế toán tổng hợp, kiểm tra sổ sách kế toán,
lên Bảng cân đối số phát sinh, Bảng tổng kết tài sản cuối tháng, quý, năm, lập
Sổ tổng hợp công nợ theo từng đối tượng,lập Báo cáo kết quả sản xuất kinh
doanh cuối năm và chịu trách nhiệm trước kế toán trưởng về những công việc
được giao.
- Kế toán nguyên vật liệu
Vương Thị Thanh - 8A05
Báo cáo thực tập Tháng 1/2007
Gồm 2 nhân viên có nhiệm vụ theo dõi, hạch toán nhập xuất tồn
nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, tính toán, phân bổ nguyên vật liệu, lập
Bảng phân bổ nguyên vật liệu.
- Kế toán kho thành phẩm và tiêu thụ nội địa
Gồm 2 nhân viên có nhiệm vụ theo dõi công nợ và thanh toán công nợ
của các cửa hàng đại lý, hạch toán tiêu thụ hàng trong nước và xuất nhập của
các kho thành phẩm nội địa cũng như của cả hệ thống các cửa hàng đại lý của
Công ty
- Kế toán tiền lương và BHXH
Có nhiệm vụ quản lý chương trình tiết kiệm của toàn Công ty, thực
hiện hạch toán chi tiết, tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương cho
cán bộ nhân viên trong Công ty.
- Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm
Có nhiệm vụ tập hợp các chi phí có liên quan đến quá trình sản xuất sản
phẩm để tính giá thành sản phẩm.
- Kế toán tiền mặt và thanh toán
Có nhiệm vụ theo dõi quá trình thu , chi tiền mặt, tình hình hiện có của
quỹ tiền mặt và giao dịch với các ngân hàng.
- Kế toán tài sản cố định
Có nhiệm vụ theo dõi, quản lý nguyên giá, giá trị hao mòn và giá trị
còn lại của tài sản cố định, đồng thời, tiến hành trích khấu hao theo thời gian
dựa trên tuổi thọ kỹ thuật của tài sản.
- Kế toán tiêu thụ hàng xuất khẩu
Có nhiệm vụ theo dõi, hạch toán kho thành phẩm xuất khẩu, tính doanh
thu lãi, lỗ phần tiêu thụ xuất khẩu, đồng thời theo dõi tình hình thanh toán của
khách hàng.
- Thủ quỹ
Là người chịu trách nhiệm quản lý tiền mặt, thu chi tiền mặt và vào Sổ
quỹ tiền mặt.
Vương Thị Thanh - 8A05
Báo cáo thực tập Tháng 1/2007
*Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của Công ty – Biểu số 2
1.4. Một số đặc điểm công tác kế toán tại Công ty cổ phần May Đức
Giang
- Niên độ kế toán của Công ty bắt đầu từ ngày 01/01 đến ngày 31/12 năm
Dương lịch
- Đơn vị tiền tệ : VNĐ
- Công ty áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chứng từ
- Công ty sử dụng hầu hết các tài khoản trong Hệ thống tài khoản kế toán
Doanh nghiệp áp dụng thống nhất trong cả nước từ ngày 01/01/1996 theo
quyết định số 1141 TC-QĐ-CĐKT ký ngày 01/01/01995 của Bộ Tài chính và
được bổ sung sửa đổi theo quyết định số 167/2000 QĐ-BTC ngày
25/10/2000.
- Phương pháp tính thuế GTGT : theo phương pháp khấu trừ.
- Hệ thống báo cáo tài chính :
+Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01-DN)
+Báo cáo kết quả kinh doanh ( Mẫu số B02-DN)
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03-DN)
+ Thuyết minh báo cáo tài chính ( Mẫu số B09-DN)
- Các chứng từ sử dụng :
+ Phiếu nhập kho, xuất kho
+ Bảng thanh toán lương sản phẩm
+ Phiếu thu, chi tiền mặt
+ Hoá đơn GTGT và các chứng từ có liên quan khác
Vương Thị Thanh - 8A05
Báo cáo thực tập Tháng 1/2007
CHƯƠNG II
KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH
KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY ĐỨC GIANG
2.1. Đặc điểm nghiệp vụ bán hàng và công tác quản lý doanh thu bán
hàng ở Công ty cổ phần May Đức Giang
Hàng đem bán ở công ty May Đức Giang chủ yếu là thành phẩm ở giai
đoạn cuối, sau khi trải qua quá trình sản xuất và gia công theo đơn đặt hàng
của khách hàng. Ngoài ra công ty còn có bộ phận SX kinh doanh phụ cũng
cung cấp một số dịch vụ cho bên ngoài như dịch vụ vận tải cho khách hàng,
tận dụng phế liệu như các loại vải vụn, bông cắt thừa, vật tư thừa do tiết kiệm
nguyên vật liệu
Để kích thích quá trình tiêu thụ sản phẩm, đồng thời để phù hợp với khả
năng thanh toán của mọi khách hàng đến với công ty, công ty May Đức Giang
đã sử dụng nhiều phương thức thanh toán tiền khác nhau nhưng chủ yếu là
các phương thức bán hàng thu tiền ngay và bán hàng trả chậm.
Ngoài việc sản xuất theo đơn đặt hàng công ty còn nghiên cứu mở rộng thị
trường tiêu thụ như bán sản phẩm ở các đại lý với hình thức thanh toán định
kỳ bán được bao nhiêu hàng trả tiền bấy nhiêu, nếu không bán được hàng
công ty chấp nhận việc trả lại hàng của các đại lý. Để hỗ trợ cho việc bán
hàng, công ty còn tổ chức quảng cáo, chào hàng, giới thiệu sản phẩm ở nhiều
nơi, nhất là triển lãm, mở quầy giới thiệu sản phẩm nhằm thu hút khách hàng
Vương Thị Thanh - 8A05
Báo cáo thực tập Tháng 1/2007
ở mẫu mã, chất lượng các loại áo Jacket, sơ mi Các khách hàng đến với
Công ty cổ phần May Đức Giang đều có được sản phẩm với chất lượng cao,
phù hợp với điều kiện người tiêu dùng, giá cả hợp túi tiền và có thể lựa chọn
hình thức thanh toán thích hợp nhất. Mặt khác, với các khách hàng thường
xuyên công ty cho phép mang hàng đi, khi bán được mới phải thanh toán và
nếu hàng bị kém phẩm chất hoặc lỗi thời có thể đem tới công ty đổi lấy hàng
mới hoặc trả lại. Với các đại lý hợp đồng dài hạn sẽ được hưởng chính sách
ưu tiên như hưởng % hoa hồng và có thưởng nếu bán được nhiều hàng.
Về công tác quản lý doanh thu bán hàng, công ty luôn chú ý đúng mức
một số điểm như sau:
* Về quy cách phẩm chất sản phẩm: Trước khi cho nhập kho, thành phẩm
đã được bộ phận thu hóa ở xí nghiệp kiểm tra và đưa đến cho bộ phận KCS
của công ty kiểm tra lại một cách nghiêm ngặt về chất lượng và quy cách,
kiên quyết không cho nhập những thành phẩm không đạt yêu cầu.Khi giao
hàng cho khách hàng, công ty cử người kiểm tra kỹ lưỡng chất lượng, qui
cách sản phẩm sản xuất so với chứng từ xuất kho.
* Về khối lượng thành phẩm xuất bán: Phòng kế hoạch đầu tư đảm nhận
viết lệnh xuất kho (phiếu xuất kho) và hạch toán chi tiết thành phẩm do phòng
kế toán làm. Do đó, phòng kế toán và phòng kế hoạch nắm chắc tình hình
hiện có của từng loại, từng thứ thành phẩm là cơ sở để ký kết hợp đồng bán
hàng viết lệnh xuất giúp khách hàng có thể nhận hàng một cách dễ dàng,
nhanh chóng, khâu thanh toán tiền hàng và giao nhận hàng không gây phiền
hà gì cho khách hàng.
* Về giá cả: Công ty sử dụng giá bán động, tức là giá bán được xác định
trên cơ sở giá thành sản xuất thực tế và sự biến động của cung cầu thị trường.
Do có sự thay đổi thường xuyên về giá bán nên tại phòng kế toán luôn có
bảng thông báo giá bán để mọi khách hàng tới mua hàng đều biết. Trên bảng
thông báo có ghi rõ giá bán cho từng loại, từng thứ sản phẩm và thời hạn có
hiệu lực của giá để khách hàng tiện theo dõi.
2.2. Kế toán doanh thu bán hàng
Vương Thị Thanh - 8A05
Báo cáo thực tập Tháng 1/2007
Hiện nay, quá trình bán hàng ở công ty được thực hiện theo hai nghiệp vụ
chủ yếu: bán hàng nội địa và trả hàng gia công cho khách, tương ứng với
doanh thu bán hàng chủ yếu của công ty là: doanh thu bán hàng nội địa và
doanh thu trả hàng gia công cho khách.
2.2.1.Chứng từ, sổ sách và tài khoản sử dụng:
a.Chứng từ mà công ty sử dụng là: hóa đơn kiêm phiếu xuất kho, hóa
đơn giá trị gia tăng, và Invoi trong trường hợp trả hàng gia công xuất khẩu.
Nhưng kể từ ngày 01/01/1999 theo sự thay đổi của chế độ kế toán thì khi
công ty xuất trả hàng gia công xuất khẩu hoặc xuất bán trực tiếp trong nước
thì phòng kế hoạch công ty không viết hóa đơn kiêm phiếu xuất kho nữa mà
nay sử dụng ngay hóa đơn giá trị gia tăng để ghi vào các sổ có liên quan.
b.Kế toán doanh thu bán hàng ở công ty sử dụng các tài khoản chủ
yếu là:
- TK 511: Doanh thu bán hàng, trong đó chi tiết:
+ TK 5111 - Doanh thu gia công hàng xuất khẩu
+ TK 5112 - Doanh thu bán hàng nội địa
+ TK 5113 - Doanh thu bán vật liệu
+ TK 5114 - Doanh thu tiết kiệm
+ TK 5115 - Doanh thu bao bì
- TK 131: Phải thu của khách hàng, trong đó chi tiết:
+ TK 1311 - Phải thu của khách hàng gia công
+ TK 1312 - Công nợ đại lý
- TK 531 - Hàng bán bị trả lại
- TK 532 - Giảm giá hàng bán
- TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp nhà nước
và các TK liên quan khác.
c.Kế toán doanh thu bán hàng ở công ty mở các sổ kế toán và bảng sau:
- Sổ chi tiết bán hàng
Vương Thị Thanh - 8A05
Báo cáo thực tập Tháng 1/2007
- Sổ chi tiết TK131: “Phải thu của khách hàng” (mở theo dõi riêng từng
khách hàng nước ngoài và trong nước)
- Sổ chi tiết thuế GTGT
- Bảng kê số 11
- Bảng cân đối số phát sinh TK 511
- Bảng tổng hợp tiêu thụ
- Bảng tổng hợp các tài khoản
- Sổ cái các TK
Vương Thị Thanh - 8A05
Báo cáo thực tập Tháng 1/2007
2.2.2.Phương pháp kế toán bán hàng của Công ty cổ phần May Đức Giang
Hàng ngày khi phát sinh các nghiệp vụ bán hàng sẽ được ghi trực tiếp vào
hóa đơn GTGT. Căn cứ vào các chứng từ bán hàng (hóa đơn GTGT, Invoi xuất
hàng) kế toán ghi sổ chi tiết bán hàng. Sổ chi tiết bán hàng được mở theo từng
quý.
* Trình tự ghi sổ bán hàng ở Công ty cổ phần May Đức Giang : Biểu số 3
Ví dụ: Khi bán hàng nội địa và xuất trả hàng gia công, kế toán viết hoá
đơn GTGT như sau: hoá đơn GTGT số 0020157 – biểu số 4 , hoá đơn GTGT
số 0020182 – biểu số 5
Căn cứ vào các hóa đơn GTGT trên và các hoá đơn khác liên quan, kế toán
ghi sổ chi tiết bán hàng tháng 9/2006 như sau: Sổ chi tiết bán hàng – tháng 9
năm 2006 – Biểu số 6
Các nghiệp vụ bán hàng nội địa: Đồng thời với việc ghi sổ chi tiết bán
hàng, kế toán thuế GTGT cũng căn cứ vào hóa đơn GTGT để ghi vào sổ chi
tiết thuế GTGT như sau: Sổ chi tiết thuế – Biểu số 7
Tại Công ty cổ phần May Đức Giang , đối với nghiệp vụ bán hàng nội địa
thì chủ yếu là công ty bán thông qua các đại lý. Khi xuất hàng cho các đại lý
phòng kế hoạch viết phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ – Biểu số 9
Lúc đó hàng vẫn chưa được coi là tiêu thụ. Vì vậy, kế toán phải sử dụng
TK157 “ hàng gửi bán” để theo dõi từng lần xuất kho cho các đại lý. Chỉ khi
nào các đại lý nộp tiền hàng thì mới được coi là đã tiêu thụ. Ở Công ty cổ
phần May Đức Giang để tăng cường được lượng hàng bán ra đã khuyến khích
khách đại lý bán hàng đi đến đâu nộp tiền vào đến đó. Khi nhận được tiền
hàng của các đại lý, căn cứ vào phiếu thu, hóa đơn GTGT có ghi chú là đã
thanh toán, kế toán doanh thu ghi sổ chi tiết bán hàng và sổ chi tiết thuế ( như
đã trình bày ở trên)
Nghiệp vụ xuất trả hàng gia công: Khách đến trả hàng gia công chủ yếu
là người nước ngoài. Khi xuất hàng cho khách thì hàng xuất coi như đã tiêu
thụ trong kỳ. Đặc điểm của Công ty cổ phần May Đức Giang là khi có khách
hàng muốn đặt hàng tại công ty, thường là khách hàng giao vật tư (vải), mẫu
mã kỹ thuật, cùng với doanh thu gia công công ty được hưởng, ngày giờ nhận
Vương Thị Thanh - 8A05
Báo cáo thực tập Tháng 1/2007
hàng, thanh toán tiền hàng đã được ghi rõ trong hợp đồng. Cũng có trường
hợp khách hàng chỉ đặt hàng theo yêu cầu kỹ thuật, mẫu mã mà không giao
vật tư, do vậy công ty phải tự mua NVL để chế biến. Công ty chủ yếu sản
xuất theo các đơn đặt hàng gia công và doanh thu gia công chủ yếu là phí gia
công mà công ty được hưởng. Việc trả tiền thường sau khi giao hàng nên kế
toán doanh thu gia công phải mở sổ theo dõi từng công nợ đối với từng khách
hàng trên TK 131 “Phải thu của khách hàng”.
Chứng từ hạch toán doanh thu gia công bao gồm: Phiếu xuất kho trả
hàng gia công ( Hoá đơn GTGT), Invoice xuất hàng, giấy báo có của ngân
hàng. . .
Ở Công ty cổ phần May Đức Giang , các khách hàng đặt hàng gia công
chủ yếu là người nước ngoài, do vậy, khi xuất hàng tức trả hàng gia công thì
công ty chịu mức thuế suất GTGT 0% đối với hàng này. Vì vậy, trên hoá đơn
GTGT số thuế GTGT phải nộp sẽ bằng 0. Kế toán không cần mở sổ chi tiết
thuế GTGT để theo dõi đối với nghiệp vụ xuất trả hàng gia công.
Vào cuối mỗi tháng, căn cứ vào sổ chi tiết bán hàng, sổ chi tiết thuế
GTGT ( đối với hàng nội địa), kế toán lập bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng
hoá dịch vụ bán ra (biểu số 11). Căn cứ vào bảng này, kế toán thuế lập tờ khai
thuế GTGT
Cuối quí, căn cứ vào số liệu trên các sổ chi tiết “ phải thu của khách hàng”
của cả hai phương thức: bán hàng nội địa và gia công xuất khẩu để ghi vào
bảng kê số 11 “ Phải thu của khách hàng” (biểu số 12). Trên bảng kê số 11,
tình hình thanh toán của mỗi khách hàng được viết trên một dòng phản ánh số
tổng cộng. Cuối quí, kế toán tập hợp số liệu trên bảng kê số 11 để ghi vào
bảng tổng hợp các TK làm căn cứ ghi sổ cái.
Đồng thời cuối quí, căn cứ vào sổ chi tiết bán hàng và các chứng từ khác
liên quan, kế toán lập bảng cân đối số phát sinh TK 511 cho từng loại doanh
thu, Mẫu biểu doanh thu nội địa như sau: (Biểu số 13)
Vương Thị Thanh - 8A05
Báo cáo thực tập Tháng 1/2007
Để phản ánh tổng hợp doanh thu của từng hoạt động bán hàng trong quí,
cuối quí kế toán lập bảng tổng hợp tiêu thụ căn cứ vào bảng cân đối số phát
sinh TK 511.
Vương Thị Thanh - 8A05
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét