1.3.Tiết kiệm dự trữ ngoại hối và lợi ích từ việc phát hành tiền:
Khi đồng tiền chung ra đời các nước thực hiện thống nhất tiền tệ sẽ cắt
giảm giảm được số dự trữ ngoại hối dùng để giao dịch. Hơn nữa so với các
đồng tiền có mức hoạt động riêng lẻ thì đồng tiền chung có xu hướng biến
động ít hơn do trung bình của nền kinh tế được tính chung bằng một đồng tiền
thường ổn định hơn so với từng nền kinh tế đơn lẻ đối với đồng tiền riêng của
mình, vì vậy nhu cầu dự trữ ngoại hối đối với các nước sử dụng đồng tiền
chung giảm xuống.
Hơn nữa đồng tiền chung khu vực nếu trở thành một ngoại tệ mạnh
đồng nghĩa với đó là tăng thành phần của nó trong dự trữ ngoại hối các quốc
gia bên ngoài và các quốc gia trong khối sẽ thu được lợi từ việc phát hành tiền
1.4. Tiết kiệm chi phí hành chính trong kinh doanh:
Khi các nước sử dụng các đồng tiền khác nhau, chi phí hành chính
trong kinh doanh (liên quan tới quản lý rủi ro ngoại hối) có nghĩa là các công
ty phải sử dụng nguồn lực của mình để kiểm soát rủi ro ngoại hối, biến động
tỷ giá và kiểm tra chiến lược giá cả trên các thị trường khác nhau.
Bằng cách chuyển đổi sang đồng đồng tiền chung, các quốc gia thành
viên thành viên sẽ cắt giảm được một lượng chi phí khá lớn từ tiết kiệm khoản
mục này.
1.5. Tăng cường thanh khoản và hợp lý hóa thị trường tài chính:
Thị trường tài chính có thành phần chính là thị trường trái phiếu chính
phủ và thị trường cổ phiếu công ty.
Mọi khoản vay của chính phủ thành viên đểu được thực hiện bằng đồng
tiền chung làm cho thị trường trái phiếu chính phủ trở nên linh hoạt hơn, giảm
chi phí giao dịch. Thị trường cổ phiếu công ty hợp lý hóa hơn khi tất cả chính
phủ của công ty đều được niêm yết bằng một đồng tiền chung khiến giao dịch
5
trên thị trường cổ phiếu được hiệu quả, kích thích doanh số giao dịch trên thị
trường.
Do đó, thị trường tài chính hoạt động hiệu quả hơn, chính phủ và công
ty giảm được chi phí tiếp cận nguồn vốn trên thị trường tài chính.
1.6.Giá cả trở nên trung thực rõ ràng và ổn định hơn:
Khi tất cả hàng hóa và dịch vụ trong khu vực đều được yết giá bằng
một đồng tiền, các nhà sản xuất sẽ không thể duy trì chênh lệch giá giữa các
thị trường khác nhau. Đồng thời, quy luật canh tranh buộc các công ty đa
quốc gia phải áp dụng chính sách định giá hàng hóa thống nhất trên cơ sở
mức giá thấp nhất trong khu vực tiêu thụ. Do đó, người tiêu dùng sẽ được lợi
trong khi đó các công ty đa quốc gia giảm lợi nhuận.
1.7. Lợi ích riêng nếu thực hiện liên minh tiền tệ Đông Nam Á:
Những lợi ích trên có thể dễ dàng nhận thấy khi tiến hành liên minh
tiền tệ và hình thành sử dụng một đồng tiền chung ở một khu vực. Tuy nhiên,
xét trong điều kiện cụ thể của Đông Nam Á, việc hợp tác về tiền tệ còn có thể
thu được một số lợi ích khác.
Thứ nhất, khi có sự thống nhất về tiền tệ đồng nghĩa với đó là việc các
quốc gia sẽ quan tâm hơn đến chính sách vĩ mô của các quốc gia khác và có
thể đạt được sự hợp tác nhất định. Điều này có tác dụng ngăn ngừa, kiểm soát
và hạn chế tác hại khi khủng hoảng xảy ra tại một quốc gia.
Thứ hai, gần đây các nước ASEAN tăng tỷ lệ thương mại nội bộ và
cũng do các sản phẩm xuất khẩu của họ thường cạnh tranh với nhau trên các
thị trường thứ ba. Điều này khiến cho một số nước có động cơ để phá giá
nhằm tăng khả năng cạnh tranh. Do đó thay vì phá giá để tăng khả năng cạnh
tranh cho riêng hàng hoá nước mình, một cơ chế phối hợp tỷ giá hối đoái
trong khu vực có thể sẽ mang lại thế cân bằng hợp tác tốt hơn và đem lại lợi
ích cho cả các bên.
6
Thứ ba, thống nhất tiền tệ sẽ hỗ trợ các quốc gia trong việc tiếp cận
nguồn vốn từ các nước khác khi gặp khó khăn. Cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ 1997 đã cho thấy rằng các cơ chế quốc tế để hỗ trợ tài chính hiện có
(do IMF phối hợp) là không đủ đối với các nước. Các nguồn vốn do IMF nỗ
lực cung cấp chưa đủ về quy mô, tốc độ giải ngân quá chậm và thường đi kèm
với những điều kiện kinh tế vĩ mô không phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của
các quốc gia bị khủng hoảng. Do đó, thay vì tích luỹ các nguồn dự trữ ngoại
tệ lớn - một việc làm rất tốn kém, các nước ASEAN có thể tiết kiệm các
nguồn vốn đó bằng cách kết hợp các quỹ dự trữ của các nước trong khu vực
với nhau.
Bên cạnh đó, liên minh tiền tệ cũng khắc phục được những hạn chế
của chế độ tỷ giá cố định hay thả nổi mà các nước Đông Nam Á hiện nay
đang sử dụng. Đó là chế độ tỷ giá cố định và chế độ tỷ giá thả nổi. Khi sử
dụng đồng tiền chung, không cần thiết phải neo giá theo đồng tiền theo đồng
tiền lớn khác mà sử dụng trực tiếp đồng tiền chung này, các nước cùng nhau
điều hành chính sách tỷ giá nên khắc phục được hạn chế hai chế độ tỷ giá kia:
không bị ảnh hưởng khi đồng tiền yết giá biến động, vừa có thể ổn định và
kiểm soát được giá cả, đánh giá đúng giá trị đồng tiền theo quy luật cung cầu
2.Chi phí của việc thống nhất tiền tệ:
2.1. Mất quyền tự chủ trong hoạch định chính sách tiền tệ
Tại một thời điểm thì mỗi quốc gia có một tình trạng phát triển của nền
kinh tế khác nhau: Ở giai đoạn tăng trưởng nóng và có nguy cơ lạm phát cao,
NHTW muốn tăng lãi suất ngắn hạn để kìm hãm tốc độ phát triển kinh tế
lại.Còn ngược lại,ở giai đoạn suy thoái, NHTW lại muốn hạ lãi suất ngắn hạn
để kích thích kinh tế.
Nhưng khi có đồng tiền chung với một hệ thống tỷ giá cố định không
điều chỉnh và không hạn chế trong chu chuyển vốn sẽ dẫn đến hình thành
7
mức lãi suất ngắn hạn thống nhất giữa các thành viên. Các nước trong liên
minh trở nên gắn chặt với nhau trong một chính sách tiền tệ thống nhất và
NHTW các nước không thể tác động vào để đảm bảo lợi ích tối ưu cho quốc
gia mình trong từng giai đoạn cụ thể. Điều đó gây ra tình trạng mất tự chủ
trong chính sách tiền tệ của các quốc gia thành viên.
2.2.Mất tự chủ trong chính sách kinh tế vĩ mô
Các quốc gia có lựa chọn về mức độ lạm phát - công ăn việc làm khác
nhau .Có những nước chấp nhận mức lạm phát cao để giải quyết vấn đề việc
làm, cũng có nước muốn kìm hãm mức lạm phát ở mức vừa phải và chấp
nhận đánh đổi bằng tỷ lệ thất nghiệp cao hơn.Khi tham gia liên minh tiền tệ
một trong những yêu cầu đối với các thành viên là phải áp dụng một chính
sách kinh tễ vĩ mô nhằm bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động kinh tế.
Điều này gây ra sự mất tự chủ của các nước thành viên khi nền kinh tế rơi vào
tình trạng lạm phát và thất nghiệp ở ngoài tầm kiểm soát.
2.3.Bất bình đẳng khu vực
Việc hình thành Liên minh tiền tệ có thể khiến cho một số quốc gia thu
được lợi ích nhiều, một số quốc gia thu được lợi ích ít hơn. Nó kích thích vốn
và lao động di chuyển từ khu vực có năng suất lao động thấp đến nơi có năng
suất lao động cao. Điều này có thể tạo ra hậu quả xã hội khá nghiêm trọng là
gây thiếu hụt lực lượng lao động chính ở một số khu vực.
2. 4.Chi phí thời kỳ quá độ
Khi quyết định sử dụng đồng tiền chung các quốc gia thành viên phải
chịu chi phí gọi là chi phí thời kì quá độ bao gồm chi phí thu hồi đồng bạc
hiện hành, in đồng bạc chung, thay đổi hệ thống thông tin phù hợp với đồng
tiền chung
8
CHƯƠNG II
THỐNG NHẤT TIỀN TỆ CHÂU ÂU.
1. Tổng quan về sự ra đời và quá trình thành lập của liên minh tiền tệ
Châu Âu.
1.1. Tiến trình thống nhất tiền tệ Châu Âu.
1.1.1.Ý tưởng về một đồng tiền chung
Ngày 1/1/1999 đồng tiền chung châu Âu (đồng Euro) chính thức ra mắt
và trở thành một sự kiện lịch sử đối với quá trình nhất thể hoá châu Âu và với
sự phát triển của hệ thống tiền tệ thế giới. Tham gia đồng Euro đợt đầu có 11
nước thành viên của Liên minh châu Âu EU: Đức, Pháp, Italia, Tây Ban Nha,
Hà Lan, Áo, Bỉ, Luxemburg, Bồ Đào Nha, Phần Lan và Ailen. Ba nước Anh,
Thuỵ Điển và Đan Mạch chưa tham gia đợt này, còn Hy Lạp chưa đáp ứng đủ
các tiêu chuẩn để trở thành thành viên. Tuy nhiên ý đồ cho ra đời đồng Euro
đã xuất hiện từ rất sớm và là mục tiêu phấn đấu bền bỉ trong một thời gian dài
của EU. Vào năm 1970 lần đầu tiên ý tưởng về một liên minh tiền tệ châu Âu
được cụ thể hóa với một kế hoạch đầy tham vọng gọi là kế hoạch Werner (tên
của thủ tướng Luxemburg) nhằm lập ra một liên minh kinh tế và tiền tệ trong
vòng 10 năm. Sau thời hạn đó, cộng đồng châu Âu sẽ có một thực thể tiền tệ
riêng biệt trong hệ thống tiền tệ quốc tế. Tuy nhiên hàng loạt các biến cố xảy
ra đã làm tiêu tan kế hoạch đầy tham vọng này (sự tan vỡ của hệ thống tiền tệ
Bretton Woods năm 1971, sự suy thoái kinh tế toàn cầu, khủng hoảng dầu mỏ
năm 1973 ). Thay vào đó Liên minh Tỷ giá hối đoái châu Âu được thành lập
vào năm 1972 và sau đó là Hệ thống Tiền tệ châu Âu vào năm 1979. Hệ thống
tiền tệ châu Âu có nhiệm vụ tạo ra một khu vực ổn định tiền tệ ở châu Âu
tránh các dao động lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế các nước thành
9
viên xích lại gần nhau hơn. Hệ thống tiền tệ châu Âu đã vận hành khá tốt, tạo
ra một vùng tiền tệ ổn định và giảm được các rủi ro gây ra do sự biến động
tiêu cực của đồng USD và đồng Yên Nhật. Đơn vị Tiền tệ châu Âu (tiếng
Anh: European Currency Unit – ECU), một đơn vị thanh toán, ra đời vì mục
đích này và có thể xem như là tiền thân của đồng Euro.
1.1.2.Các giai đoạn thực hiện
Năm 1988 một ủy ban xem xét về lien minh kinh tế và tiền tệ dưới sự
lãnh đạo của chủ tịch Ủy ban châu Âu Jacques Delors đã soạn thảo báo cáo
Delors dự định thành lập liên minh Kinh tế và Tiền tệ châu Âu. Liên minh
này được ghi trong chương II của Hiệp ước Maastricht vào năm 1992. Tiến
trình thành lập được triển khai theo 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1( 1990 – 1993): Tạo tiền đề
Giai đoạn này bắt đầu từ 1/7/1990 và kết thúc ngày 31/12/1993 với nội
dung chủ yếu là tăng cường sự phối hợp chính sách tiền tệ quốc gia và rút
ngắn sự cách biệt về nền kinh tế của các nước thành viên. Theo lịch trình của
giai đoạn, từ 1/7/1990 tư bản được tự do lưu thông trong các nước thành viên
của EU và từ ngày 1/1/1993 thị trường nội địa bắt đầu vận hành.
Đặc biệt trong giai đoạn tạo tiền đề này là việc thực hiện Hiệp ước
Maastricht (ký ngày 7/12/1991 tại Hà Lan), với hai mục đích: kinh tế và chính
trị. Về kinh tế, hướng đến thành lập một liên minh kinh tế và tiền tệ vào cuối
thập niên 1990 với một đơn vị tiền tệ chung và một NHTW độc lập nhằm hạn
chế sự biến động của tỷ giá thực tế giữa các nước thành viên EMU và tránh
khả năng một số nước thi hành chính sách tài khoá lỏng, dẫn đến áp lực lạm
phát trong toàn bộ liên minh, thực hiện ổn định giá hoàn thành thị trường
chung thống nhất. Về chính trị: thành lập được một liên minh chính trị bao
gồm việc thực hiện một chính sách đối ngoại và an ninh chung, tăng cường
hợp tác kinh tế.
10
Như vậy sau giai đoạn này, việc lưu chuyển vốn được tự do hóa giữa
các nước trong EU.
Giai đoạn 2( 1994 – 1999): Giai đoạn chuẩn bị
Giai đoạn này bắt đầu từ ngày 1/1/1994 và kéo dài đến ngày
31/12/1998; nội dung chủ yếu là các bước tiếp tục chuẩn bị cho các nước
thành viên áp dụng đồng tiền chung như:
- Tăng cường triển khai chiến lược hội tụ về chính sách kinh tế và thị
trường giữa các nước thành viên nhằm ổn định giá.
- Hoàn chỉnh các công tác về mặt thể chế cho đồng Euro ra đời: xây
dựng bộ máy và cơ chế vận hành của NHTW Châu Âu (ECB)
- Quyết định tỷ giá chuyển đồi, tên các đơn vị tiền tệ, căn cứ vào các
tiêu chuẩn xét các nước đủ tiêu chuẩn tham gia đồng Euro đợt đầu.
Một điều đáng lưu ý trong giai đoạn này là sự ra đời cơ quan tiền thân
của ECB là Viện Tiền tệ châu Âu (EMI) với nhiệm vụ: cụ thể hóa các khuôn
khổ pháp lý,thực hiện các công việc tổ chức và hậu cần cần thiết để ECB thực
hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình trong giai đoạn thứ 3,đồng thời
chịu trách nhiệm củng cố sự phối hợp các chính sách tiền tệ trước khi hình
thành liên minh kinh tế và tiền tệ và tư vấn cho các ngân hàng quốc gia thành
viên về mặt này.
Ngày 2/5/1998, một Hội đồng họp mặt với sự tham gia của các nguyên
thủ quốc gia, bỏ phiếu quyết định việc thành viên nào sẽ áp dụng đồng Euro
bắt đầu từ giai đoạn 3. Theo đó, đến ngày 09/05/1998 Nghị viện châu Âu phê
chuẩn 11 nước đủ tiêu chuẩn và sẽ tham gia EURO lần đầu là Đức, Pháp,
Ailen, áo, Bỉ, Bồ Đào Nha, Hà Lan, ý, Lucxembourg và Phần Lan. Đồng thời
ECB cũng chính thức được thành lập (1/7/1998) và bắt đầu chuẩn bị cho việc
hoạch định và thi hành một chính sách tiền tệ chung.
11
Giai đoạn 3(1/1/1999-30/6/2002): Đồng Euro chính thức đi vào lưu thông.
Từ ngày 1/1/1999, đồng Euro chính thức ra đời thay thế cho đồng ECU
và đi vào lưu thông từ song song tồn tại đến thay thế hoàn toàn các đồng bản
tệ, trở thành đồng tiền theo đúng nghĩa của nó với tỷ lệ chuyển đổi giữa đồng
tiền quốc gia của các nước thành viên với đồng Euro được ấn định không thay
đổi.
Bên cạnh đó, một cơ chế tỷ giá mới - gọi là cơ chế tỷ giá 2, ERM2 -
gắn đồng tiền các nước chưa đủ điều kiện gia nhập với đồng Euro cũng sẽ đi
vào hoạt động nhằm thúc đẩy sự hội nhập của các nước chưa đủ điều kiện với
các điều kiện kinh tế vĩ mô của khu vực đồng Euro, đồng thời giúp đảm bảo
sự ổn định của tỷ giá trong Liên minh Châu Âu nói chung.
Một số mốc thời gian đáng chú ý là : 1/1/2002, tiền giấy và tiền xu
Euro chính thức được đưa vào lưu thông, tiền giấy và tiền xu nội tệ bắt đầu
rút lui khỏi lưu thông. Ngày 28/1/2002, Hà Lan là nước đầu tiên hoàn thành
việc thay thế toàn bộ đồng tiền quốc gia cũ bằng đồng tiền chung. Ailen và
Pháp cũng kết thúc giai đoạn tồn tại song song của hai đồng tiền vào ngày 9/2
và 17/2/2002. Với 9 nước còn lại, thời kỳ này đồng loạt chính thức kết thúc
vào ngày 28/2.
1.2. Điều kiện hình thành một liên minh tiền tệ rút ra từ quá trình thống
nhất tiền tệ Châu Âu .
1.2.1.Hình thành một thị trường thống nhất về hàng hóa, vốn và sức lao động:
Để hình thành một khu vực tiền tệ thống nhất Liên minh tiền tệ Châu
Âu (EMU) đã tuần tự trải qua các giai đoạn phát triển từ thấp đến cao trước
khi đạt tới trình độ của một liên minh kinh tế và tiền tệ. Các giai đoạn đó là:
khu vực thương mại tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, giai đoạn
hài hoà và phối hợp chính sách kinh tế và cuối cùng là một liên minh kinh tế
hoàn chỉnh với một số chính sách kinh tế được hoạch định ở cấp độ khu vực.
12
Hoàn thành ba giai đoạn đầu chính là đã hình thành được một thị trường
thống nhất về hàng hoá, vốn và sức lao động.
Cụ thể trong trường hợp của châu Âu, hai giai đoạn đầu: khu vực
thương mại tự do và liên minh thuế quan được hoàn thành một cách nhanh
chóng.
Khoảng năm 1960, các nước đã cam kết cắt giảm, xóa bỏ hàng rào thuế
quan, phi thuế quan với nhau. Kết quả tính đến ngày 1/7/1968, tất cả các hàng
rào thuế quan về số lượng đối với hàng hoá và dịch vụ xuất và nhập khẩu đã
được dỡ bỏ. Tuy nhiên, việc xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan như các tiêu
chuẩn về y tế, vệ sinh, an toàn, kỹ thuật thì gặp nhiều khó khăn hơn do đó, dỡ
bỏ các hàng rào này đòi hỏi phải phối hợp nhiều chính sách và luật lệ chứ
không chỉ đơn giản là cắt giảm thuế như trường hợp các hàng rào thuế quan.
Phải đến giữa những năm 1980, Cộng đồng châu Âu mới đạt được những tiến
bộ quan trọng trong lĩnh vực này.
Giai đoạn thứ ba "thị trường chung" (ngoài việc tự do hóa thương mại,
tự do hóa dịch vụ, bảo hộ đầu tư, thúc đẩy thương mại điện tử, liên minh thuế
quan còn cộng thêm các yếu tố như tự do di chuyển các yếu tố sản xuất như :
vốn, lao động…giữa các nước thành viên) được coi là chính thức hoàn thành
ngày 31/12/1992. Tuy nhiên, kể cả cho tới ngày hôm nay, vẫn còn nhiều lĩnh
vực như dịch vụ tài chính, năng lượng, viễn thông cần được tiếp tục cải cách
để thị trường của Liên minh châu Âu thực sự là một thị trường chung.
1.2.2. Điều chỉnh kinh tế của các nước thành viên để hội nhập theo tiêu chí
thống nhất
Cụ thể Hiệp ước Masstricht năm 1991 đã đề ra thời gian biểu chi tiết và
những điều kiện để các nước tham gia vào giai đoạn cuối của quá trình hội
nhập tiền tệ châu Âu. Nội dung của Hiệp ước như sau :
13
- Đạt được mức độ ổn định cao về giá cả, thể hiện ở tỷ lệ lạm phát
(trong 12 tháng trước đó) không quá 1,5% so với tỷ lệ lạm phát của 3 nước
thành viên có tỷ lệ lạm phát thấp nhất.
- Duy trì tỷ lệ lãi suất dài hạn ổn định sao cho trung bình của thời kỳ
mười hai tháng trước đó không quá 2% so với mức trung bình của ba nước
thành viên có giá cả ổn định nhất khu vực.
- Tuân thủ biên độ dao động bình thường mà cơ chế tỷ giá hối đoái của
EMS cho phép cụ thể là một nước thành viên không được chủ ý phá giá đồng
tiền của mình so với tỷ giá trung tâm với một đồng tiền của một nước khác.
- Duy trì tình hình tài chính của chính phủ ổn định, ngân sách chính
phủ thâm hụt không quá 3% GDP và tỷ lệ nợ chính phủ trên GDP không vượt
quá 60%.
Có thể thấy hai nội dung đầu tiên của Hiệp ước Masstricht nhằm hạn
chế sự biến động của tỷ giá thực tế khi tỷ giá danh nghĩa đã được biến động.
Nội dung thứ ba đã buộc các nước thành viên tương lai khi hoạch định chính
sách tiền tệ phải cân nhắc đến lợi ích của cả khối mà không chỉ là lợi ích của
nước mình. Nội dung cuối cùng là để tránh sự mất cân đối của một nước
thành viên ảnh hưởng tiêu cực đến một nước thành viên khác thông qua áp
lực thực hiện chính sách tiền tệ lỏng quá mức hay thậm chí là cho vay để cứu
nguy cho chính phủ nước đó. Bên cạnh đó các điều kiện này còn nhằm tạo ra
một môi trường ổn định giá cả và dần dần chuyển các chính sách kinh tế vĩ
mô từ phục vụ lợi ích của từng nước sang phục vụ lợi ích của cả liên minh.
Như vậy, điều chỉnh kinh tế để hội nhập là một tiền đề quan trọng để tránh sự
bất ổn định về kinh tế vĩ mô và do đó, là một yêu cầu quan trọng trong giai
đoạn chuẩn bị cho sự ra đời của một đồng tiền chung.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét