trờng tiêu thụ kịp thời các sản phẩm trên để duy trì và thúc đẩy sản xuất trong
nớc phát triển.
Ngoài các mặt hàng lớn tổng công ty còn tổ chức và tìm một số nguồn
hàng khác để xuất khẩu nh lập xí nghiệp gạch Yên Hng , liên hệ với các cơ
sở sản xuất của trung ơng và các địa phơng tham gia sản xuất hàng xuất khẩu
nh acid clo , acid sunphuric , đất đèn , vôi bột , hàng tiểu ngũ kim
Nhìn chung trong thời kỳ đầu , nhiệm vụ xuất khẩu của công ty cơ bản
đã đợc hoàn thành , tiến độ xuất khẩu tăng dần qua các năm , từ 1957 đến
1964 kim ngạch xuất khẩu tăng 3 lần , cụ thể với một số thành quả đáng kể
đạt đợc ở các mặt hàng chủ lực năm 1964 nh sau:
STT Tên mặt hàng Đv tính Số lợng
% tăng so với
1957
1 Than triệu tấn 2 300
2 Apatite vạn tấn 70 250
3 Xi măng vạn tấn 30 250
4 Gang vạn tấn 7 300
5 Super lân vạn tấn 4,4 350
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực năm 1964
Công tác nhập khẩu
Tổng công ty phải tiếp nhận hàng viện trợ của các nớc đồng thời nhập
khẩu một số nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nớc nh than để luyện gang,
pyrite sắt, thép chế tạo, các hoá chất cho cao su thuỷ tinh, diêm, giấy, xà
phòng, đờng, da và các loại phân bón hoá học, thuốc trừ sâu. Có thể nói
công tác nhập khẩu của công ty đã đáp ứng một số lợng khá lớn nguyên
nhiên vật liệu cho các ngành công, nông ngiệp trong nớc lúc bấy giờ. Tổng
kim ngạch nhập khẩu từ năm 1956 đến năm 1964 so với toàn ngành bình
quân chiếm tỷ lệ 22%.
Giai đoạn 1965 - 1974
Công tác xuất khẩu :
Lúc này cuộc chiến tranh xâm lợc của đế quốc Mỹ mở rộng ra miền Bắc
bằng không quân, các tuyến giao thông bị đánh phá, việc vận chuyển hàng
xuất khẩu gặp khó khăn.
Tổng công ty đã vợt lên khó khăn để tiếp tục bám trụ và duy trì hoạt
động, bằng nhiều biện pháp nh làm kho bãi tạm thời để giấu hàng, chuyển
sang vận chuyển ban đêm, vận chuyển bằng đờng thuỷ, chuyển hớng bán
than và hàng hoá khác theo điều kiện CIF bằng cách thông qua Vietfracht
thuê tàu các nớc mang cờ khác nhau vào cảng của ta vừa để thực hiện nhập
khẩu và xuất khẩu
Mặc dù chiến tranh ác liệt, nhng hàng xuất của tổng công ty vẫn qua
biên giới bán ra thị trờng nớc ngoài, quan hệ giao dịch và ký kết hợp đồng
xuất khẩu với các nớc xã hội chủ nghĩa và các thị trờng truyền thống vẫn đợc
duy trì. Trong các năm chiến tranh, kim ngạch xuất khẩu có bị giảm sút : nh
năm 1969 chỉ còn 5.026.000 R$ và thấp nhất là năm 1972 kim ngạch giảm
xuống chỉ còn 2.079.000 R$. Tính bình quân trong 10 năm chiến tranh, kim
ngạch xuất khẩu so với toàn ngành chiếm tỷ lệ 15,78%.
Công tác nhập khẩu
Đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, việc nhập khẩu của tổng công ty diễn
ra theo hai hớng: tiếp nhận hàng viện trợ của các nớc xã hội chủ ngĩa và một
số nớc khác ; đồng thời giao dịch với các nớc t bản để mua một số mặt hàng
cần thiết, hàng cấm vận.
Các mặt hàng nhập khẩu chính trong thời kỳ này là xăng dầu, phân bón ,
các hoá chất, thuốc nổ, sắt thép, đờng ray, dầm cầu, tân dợc, xi măng
Tổng kim ngạch nhập khẩu thực hiện trong thời gian này so với toàn
ngành chiếm tỷ lệ 23%.
Giai đoạn 1975 - 1982
Công tác xuất khẩu :
Cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi hoàn toàn , đất nớc ta đợc tự do
độc lập và thống nhất, nhân dân cả hai miền Bắc Nam tiến hành khắc phục
hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế .
Bớc vào giai đoạn mới , nhiệm vụ xuất khẩu trở thành cấp bách nhằm đáp
ứng một phần cho nhu cầu nhập khẩu rất lớn của toàn quốc.Kim ngạch xuất
khẩu của Bộ giao cho tổng công ty tăng lên mạnh. Cũng do trong nớc nhu
cầu về một số mặt hàng nh than đá cho công ngiệp , apatite cho nông
nghiệp , xi măng và gang khá lớn nên những mặt hàng này thay vì xuất
khẩu nh trớc đây nay không xuất nữa, thậm chí phải nhập khẩu thêm. Cơ cấu
hàng xuất khẩu do đó có nhiều thay đổi theo hớng chuyển sang các mặt
hàng khoáng sản và một số sản phẩm công nghiệp nh muối , cát trắng, thuỷ
tinh, dợc gia công
Căn cứ vào tình hình thực tế và nhiệm vụ đợc giao, tổng công ty đã tìm mọi
biện pháp để thực hiện. Ngoài các mặt hàng chính do các xí nghiệp quốc
doanh vẫn giao cho xuất khẩu , tổng công ty còn nghiên cứu thêm các mặt
hàng mới để xuất khẩu.
Tính đến hết năm 1981 kết quả đạt đợc ở các mặt hàng mới xuất khẩu
nh sau:
STT Mặt hàng % tăng so với 1975
1 Muối 400
2 Que hàn 475
3 Chai lọ 450
4 Thuỷ tinh 550
5
ống tiêm
450
6 Phèn chua 425
7 Gạch men 650
Bảng 2 - Tốc độ tăng các mặt hàng mới xuất khẩu năm 1982 so 1975
Ngoài ra tính đến năm 1981 thì mặt hàng dầu cao cũng tăng lên đáng kể,
tiếp tục đợc mở rộng cơ sở sản xuất và mở rộng thị trờng tiêu thụ. Việc hợp
tác gia công xuất khẩu sang Liên Xô (cũ) cũng đợc tiến hành. Kim
ngạch xuất khẩu của công ty chiếm trên 20% so với toàn ngành.
Nói tóm lại, hoạt động của Tổng Công ty xuất nhập khẩu khoáng sản
trong 26 năm đầu tiên đóng vai trò quan trọng trong ngành ngoại thơng Việt
Nam trong những năm đất nớc ta còn chiến tranh và mới giành đợc độc lập .
Tổng công ty đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đợc giao.
Giai đoạn hai: Thời kỳ thu hẹp hoạt động kinh doanh 1982 - 1992
Năm 1982 chấp hành chủ trơng của nhà nớc, những mặt hàng quan trọng
chủ lực của công ty dần bị tách sang các ngành và các công ty khác. Đây là
những năm kinh doanh bị giảm sút về mọi mặt.
Năm 1982 mặt hàng than chuyển sang bộ Mỏ và than.
Năm 1986 mặt hàng dợc chuyển sang bộ Y tế .
Năm 1988 mặt hàng xi măng chuyển sang bộ Xây dựng.
Năm 1988 mặt hàng sắt thép chuyển sang bộ Vật t.
Năm 1989 mặt hàng phân bón chuyển sang bộ nông nghiệp .
Năm 1990 mặt hàng hoá chất chuyển sang Tổng công ty hoá chất Việt
Nam.
Các quyết định trên, trong vòng 10 năm đã liên tiếp gây ra sự xáo trộn lớn
lao và ảnh hởng tới tất cả mọi mặt của tổng công ty. Cụ thể là:
+ Những mặt hàng bị tách đi là những mặt hàng kinh doanh chủ lực của
tổng công ty, đặc biệt là than.
+Sự tách đi các mặt hàng kéo theo sự tách, cắt giảm theo về mặt cơ sở vật
chất kỹ thuật và đội ngũ lao động liên quan đến mặt hàng đó. Mỗi mặt hàng
tách đi kéo theo nó là các cán bộ chuyên môn liên quan đến nó, cơ sở vật
chất thuộc về nó, thậm chí là mọi giấy tờ, tài liệu thuộc về nó.
Do vậy , tổng công ty đơng nhiên nh bị rút hết những bộ phận chủ lực
ở mọi phơng diện.
+Sự cắt giảm mặt hàng làm giảm thị trờng xuất nhập khẩu của tổng công
ty. Các nớc bạn hàng lớn, các hợp đồng lớn cũng không còn.
Nói tóm lại, Tổng Công ty xuất nhập khẩu khoáng sản hầu nh chỉ còn lại
là cái bóng của chính nó khi những gì là quan trọng nhất bị rút đi. Kinh
doanh giảm sút, mọi mặt đều bị thu hẹp và gặp khó khăn.
Đứng trớc thực tế đó, đội ngũ cán bộ công nhân viên còn lại của tổng
công ty không nản lòng mà tiếp tục cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình
để tổng công ty đứng vững; bằng chất lợng hàng hoá xuất nhập khẩu tốt, giá
cả hợp lý và chữ tín với khách hàng. Bên cạnh đó, tổng công ty chủ trơng sáp
nhập các phòng xuất khẩu và nhập khẩu riêng lẻ trớc đây thành phòng xuất
nhập khẩu, tiến tới làm giảm chi phí quản lý và tăng hiệu quả kinh doanh,
ngoài ra tổng công ty tiến hành cải tiến cơ cấu tổ chức của các chi nhánh, đại
diện.
Nhờ những nỗ lực này mà tổng công ty đã đứng vững và tiếp tục hoàn
thành các nhiệm vụ của mình.
Đến tháng 4 năm 1993, Tổng Công ty xuất nhập khẩu khoáng sản đã
đăng ký xin thành lập lại, đổi tên thành công ty xuất nhập khẩu khoáng sản,
bớc vào một thời kỳ mới.
Giai đoạn III: 1993 đến nay: giai đoạn phục hồi.
Tháng 4 năm 1993 , Công ty xuất nhập khẩu khoáng sản đợc thành lập
lại theo quyết định thành lập doanh nghiệp nhà nớc số 331 TM / TCCB ngày
31 tháng 3 năm 1993 của Bộ thơng mại. Đăng ký thành lập doanh nghiệp nhà
nớc số 10837 ngày 21 tháng 4 năm 1993 tại Sở kế hoạch đầu t Hà Nội.
Giấy phép đăng ký kinh doanh số 11600 ngày 25 tháng 5 năm 1993 của
Bộ thơng mại. Công ty xuất nhập khẩu khoáng sản vẫn lấy tên giao dịch quốc
tế cũ là :
VIET NAM NATIONAL MINERALS IMPORT - EXPORT
COORPORATION
Tên viết tắt : Minexport .
Trụ sở chính tại 35 Hai Bà Trng quận Hoàn Kiếm Hà Nội, cùng các chi
nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh và đại diện giao nhận tại Hải Phòng.
Số vốn kinh doanh ban đầu là 13.042.000.000 VNĐ trong đó có 60% là
vốn ngân sách và 40% là vốn công ty bổ sung.
Theo quyết định này thì công ty xuất nhập khẩu khoáng sản là doanh
nghiệp nhà nớc trực thuộc Bộ thơng mại, có t cách pháp nhân , có con dấu
riêng theo quy định nhà nớc, thực hiện chế độ hạch toán độc lập, có tài khoản
tại Ngân hàng ngoại thơng Việt Nam (VIETCOMBANK) và ngân hàng xuất
nhập khẩu (EXIMBANK). Các mặt hàng kinh doanh xuất nhập khẩu nằm
trong danh mục hàng hoá đã đợc Bộ thơng mại phê duyệt và phù hợp với
chính sách quy định của nhà nớc về xuất nhập khẩu .
Trong thời kỳ này, thực hiện chủ trơng, chính sách mới của Đảng và Nhà
nớc, theo đó khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia hoạt động
xuất nhập khẩu tăng thu ngoại tệ cho đất nớc, phục vụ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc, mặt hàng và thị trờng xuất nhập khẩu của công ty từng bớc
đợc phục hồi và mở rộng. Sở dĩ nh vậy vì trong quá trình tồn tại và phát triển
của minh, công ty đã có uy tín và kinh nghiệm làm ăn lâu dài với phía đối tác
nớc ngoài nên thị trờng và mặt hàng xuất nhập khẩu dần đã đi vào ổn
định.Tính đến cuối năm 2002 các lĩnh vực và mặt hàng kinh doanh của công
ty, cũng nh các thị trờng giao dịch xuất nhập khẩu đã trở nên rộng khắp trên
mọi lĩnh vực và trên toàn thế giới, cũng tơng đơng nh những năm của thời kỳ
vàng son về bề rộng, tuy bề sâu thì không bằng.
Từ đó đến nay(cuối 2002 ) đã gần đợc 10 năm. Tuy không có đợc tầm
vóc nh thời kỳ vàng son, nhng xét trong thời cuộc và hoàn cảnh đổi mới công
ty đã có những bớc cố gắng và đạt đợc những bớc thành tích nhất định.
Trong những năm tiếp đến, công ty đã đặt mục tiêu và đang cố gắng nỗ lực
hết mình vì sự phồn thịnh của chính mình cũng nh sự phát triển của đất nớc.
B. Thực trạng sản xuất kinh doanh
1. Sản phẩm
Hiện nay, mặt hàng và lĩnh vực kinh doanh của công ty khá đa dạng và bao
trùm rộng khắp, chứ không dừng lại ở lĩnh vực khoáng sản nh tên gọi của
công ty.Cụ thể nh sau:
Về xuất khẩu:
+Khoáng sản: quặng và tinh quặng, kim loại đen, kim loại màu và hợp kim.
+Hàng thủ công mỹ nghệ, hàng may mặc, giầy dép.
+Cao su, các sản phẩm cao su , tinh dầu hạt, các loại hạt điều, nguyên liệu
sản xuất thức ăn gia súc.
+Các sản phẩm thuỷ tinh, pha lê, đồ gốm sứ.
+Các sản phẩm khô, nông sản( trừ gạo).
Về nhập khẩu :
+Kim loại đen, kim loại màu, hợp kim, hoá chất, phân bón.
+Vật liệu xây dựng, vật liệu kết dính, sản phẩm giấy, hàng tiêu dùng(thiết
yếu và công nghiệp).
+Nhựa đờng, chất dẻo, dầu nhờn, các phụ gia.
+ Khí công nghiệp, vật t, thiết bị lẻ, phơng tiện vận tải.
+Máy xây dựng, vật liệu trang trí nội thất, thiết bị xếp dỡ hàng hoá.
+Trang thiết bị y tế, thiết bị âm thanh, nhạc cụ, sứ vệ sinh.
Các mặt hàng kinh doanh xuất nhập khẩu này trong những năm gần đây
đều tăng trởng với tốc độ cao, tính từ năm 2000 cụ thể nh bảng sau:
a. Tình hình hàng hoá xuất khẩu các năm 2000, 2001, 2002
STT Năm Số mặt hàng xuất
khẩu (loại)
Trị giá hàng xuất
khẩu (triệu USD)
% tăng so với năm tr-
ớc
Về số mặt
hàng
Về giá
trị
1 2000 16 2,8
2 2001 14 3,3
3 2002 10 2,811
Trong đó:
STT Mặt hàng Đv
tính
Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Khối l-
ợng
%
tăng
so với
năm
trớc
Khối l-
ợng
%
tăng
so với
năm
trớc
Khối l-
ợng
%
tăng
so với
năm
trớc
1 Gang các loại Tấn 405 383,7 799
2 Wolframite
3 Inmenite
4 Túi xách
5 Lụa tơ tằm
6 Khăn tơ tằm
7 Tơ tằm
8 Hoá chất
CaHPO4
9 Thiếc thỏi
10 Sodium
11 Tinh dầu
12 Hoá chất
13 áo sơ mi
14 Gỗ
15 Dây chun
16 Bột barite
17 Gốm sứ
Máy đóng gói
mỳ
Lới câu
Đá xay
Hàng tiêu
dùng tổng hợp
Thép
Tình hình hàng hoá nhập khẩu các năm 2000, 2001, 2002
STT Năm Số mặt hàng xuất
khẩu(loại)
Trị giá hàng xuất
khẩu (triệuUSD)
% tăng so với năm
trớc
Về số mặt
hàng
Về giá
trị
1 2000 31 11,5
2 2001 37 17,87
3 2002 37 15,698
STT Mặt hàng Đv
tính
Năm 2000 Năm2001 Năm2002
Khối
lợng
%tăng
so với
năm
trớc
Khối
lợng
%tăng
so với
năm
trớc
Khối
lợng
%tăng
so với
năm
trớc
1 Thiết bị điện
2 Thiết bị
PCCC
3 Hạt nhựa
4 Hoá chất
5 Giấy
6 Phân bón
7 Tinh dầu
8 Thiết bị y tế
9 Nhôm thỏi
Dầu điều chế
cao su
10 Nguyên liệu
may GC
11 Máy may CN
12 Khuôn găng
tay
13 Máy cuốn
sợi bánh
14 Mầu thành
phẩm
15 Thạch cao
16 Đất đèn
17 Bột lọc bia
18 ống thuỷ tinh
chì
19 Ô tô qua sử
dụng
20 Phụ tùng ô tô
21 Thép
22 Máy nghiền
đá
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét