Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Bộ văn hóa muốn kiểm soát việc viết hồi kí

(trả lời: HongYen)
Post #: 3
Hồi Ký * Trần Quang Cơ - 26.12.2006 22:28:41
HongYen
VIP

Bài viết đã đăng: 7553
Gia nhập ngày: 25.7.2003
Đến từ: Sài Gòn
Hiện trạng: offline

Chương 1
VIỆT NAM TRONG THẬP NIÊN 70 CỦA THẾ KỶ
20

Nước Việt Nam ta trong những năm 70 của thế kỷ 20 đã trải qua
những sự kiện to lớn: Hiệp định Paris 1973 về Việt Nam kết thúc
cuộc đàm phán “ma-ra-tông” 1968-1973 giữa Việt Nam và Mỹ toàn
thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 đã đưa Việt Nam tới
đỉnh cao của giải phóng dân tộc và uy tín quốc tế. Thắng lợi của
Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ không chỉ là một tác nhân
đưa đến những thay đổi rất quan trọng trong chiến lược của các
nước lớn mà còn làm chuyển đổi cục diện chính trị khu vực Đông
Nam Á. Nể sợ sức mạnh quân sự và ý chí kiên cường của Việt Nam,
mặt khác lo ngại mối đe doạ từ nước Trung Hoa khổng lồ tăng lên
một khi Mỹ rút khỏi Đông Nam Á, đồng thời lại có yêu cầu phát
triển kinh tế, các nước ASEAN sốt sắng bình thường hóa cải thiện
quan hệ với Việt Nam; tổ chức liên minh quân sự SEATO tan rã; xu
hướng hoà bình, ổn định ở Đông Nam Á phát triển. Sau khi bị “gáo
nước lạnh” ở Việt Nam Mỹ lo tháo chạy khỏi Đông Nam Á, song lại
sợ tạo ra một “khoảng trống” có lợi cho các đối thủ của mình. Một
mặt sợ Liên Xô thừa thế mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á và thế
giới, mặt khác lo Trung Quốc phát huy vai trò nước lớn Châu Á để
lấp chỗ “trống” đó nên Mỹ vừa tìm cách khai thác mâu thuẫn Xô -
Trung vừa muốn có một nước Việt Nam độc lập cả với Trung Quốc
lẫn Liên Xô để duy trì thế cân bằng chiến lược giữa ba nước lớn
trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Trong tập Tài liệu Lầu Năm Góc[1] của Mỹ có viết: “Báo cáo của đại
sứ Mỹ tại Anh gửi Bộ Ngoại Giao Mỹ ngày 1.3.67 ghi lại một đối
thoại ngắn ngoại trưởng Anh Brown và ngoại trưởng Ba Lan
Rapacski tại Luân- đôn ngày 22.2.67. Khi Brown hỏi nhận định của
Rapacski về mức độ thế lực của Kossyguine (thủ tướng Liên Xô lúc
đó) đối với Hà Nội. Rapacski trả lời: “ Không kém của ông đối với
Hà Nội”. Và khi Brown hỏi: “Giữa Trung Quốc và Liên Xô nước nào
có nhiều ảnh hưởng hơn đối với Hà Nội?” Rapacski trả lời: “Bắc Việt
Nam””. Đường lối độc lập tự chủ đó của Việt Nam thể hiện rõ nét
trong suốt thời gian đàm phán với Mỹ ở Paris.
Sau cuộc đàm phán với Mỹ ở Paris, năm 1973 tôi được đề bạt làm
vụ trưởng vụ Bắc Mỹ nên có đầy đủ điều kiện trực tiếp theo dõi và
xử lý mối quan hệ của nước ta với Mỹ sau chiến tranh.
Vào quãng hơn một tháng sau khi giải phóng miền Nam, ta có nhờ
Liên Xô chuyển cho Mỹ một thông điệp miệng “Lãnh đạo Việt nam
Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) tán thành có quan hệ tốt với Mỹ trên
cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Trên tinh thần đó, phía Việt Nam đã tự
kiềm chế trong khi giải phóng, tạo cơ hội cho người Mỹ không bị
cản trở trong việc tiến hành di tản nhân viên của họ. Phía Việt Nam
đã cố gắng làm moị sự cần thiết để không làm xấu đi quan hệ với
Mỹ trong tương lai. Không có sự thù địch với Mỹ ở Việt Nam và Việt
Nam cũng không muốn thấy như vậy ở phía Mỹ”.
Ngày 12.6.75, Mỹ gửi đến sứ quán ta ở Paris bức thông điệp đáp
lại: “Về nguyên tắc, Mỹ không thù hận gì VNDCCH. Đề nghị trên cơ
sở đó tiến hành bất cứ quan hệ nào giữa hai bên[2]. Mỹ sẵn sàng
nghe bất cứ gợi ý nào mà phía VNDCCH có thể muốn đưa ra”.
Thông điệp này do Sứ quán Mỹ ở Paris gửi tới Sứ quán ta, nội dung
không nói rõ là của Bộ Ngoại Giao Mỹ hay của cấp nào.
Ngày 11.7.75, ta gửi thông điệp cho Mỹ, chủ yếu nhắc lại đoạn nói
về Mỹ Trong báo cáo của Ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh đọc trước
Quốc hội ngày 4.6.75: “Việc Chính phủ Hoa kỳ tôn trọng các quyền
dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, từ bỏ hoàn toàn sự can
thiệp vào công việc nội bộ miền Nam Việt Nam, làm nghĩa vụ đóng
góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây
dựng lại sau chiến tranh ở cả hai miền Việt Nam, sẽ tạo điều kiện
thiết lập quan hệ bình thường giữa VNDCCH và Hoa kỳ theo tinh
thần Điều 22 Hiệp định Paris về Việt Nam”.
Cuộc tiếp xúc đầu tiên sau chiến tranh giữa ta và Mỹ diễn ra tại
Paris ngày 10.7 ở cấp bí thư thứ nhất đại sứ quán (Đỗ Thanh –
Pratt) chủ yếu bàn về vấn đề MIA, cụ thể phía Mỹ xin được trao trả
một số hài cốt phi công Mỹ bị bắn rơi ở miền Bắc. Đến cuộc gặp
tiếp theo ngày 5.9.75, cũng vẫn giữa Đỗ Thanh và Pratt, ta đồng ý
sẽ giao cho Mỹ 3 bộ hài cốt “giặc lái”, song mãi tới tháng 12 ta mới
cho phép một đoàn 4 hạ nghị sĩ Mỹ do Chủ tịch Uỷ ban POW/MIA[3]
G.V. Montgomery dẫn đầu vào Hà Nội nhận. Đoàn này đã được Thủ
tướng Phạm Văn Đồng tiếp.
Sang năm 1976 Mỹ lại thông qua Liên Xô thăm dò việc tiếp xúc với
ta, song khẳng định sẽ không thực hiện điều 21 của Hiệp định
Paris. Công hàm ngày 26.3.76 của Henry Kissinger – lúc này là
ngoại trưởng – gửi ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh cảm ơn ta đã
đón tiếp đoàn Montgomery và sẵn sàng mở cuộc thảo luận về việc
thiết lập mối quan hệ giữa hai nước[4]. Ngày 30.4 Bộ trưởng ngoại
giao ta gửi công hàm trả lời, nêu lại những vấn đề tồn tại giữa hai
nước (vấn đề bồi thường chiến tranh và vấn đề người Mỹ mất tích
trong chiến tranh), trên cơ sở giải quyết 2 vấn đề đó sẽ bình
thường hoá quan hệ với Mỹ theo quy định của điều 22 Hiệp định
Paris. Ta sẵn sàng xem xét đề nghị cụ thể của Mỹ về việc mở
thương lượng giữa hai bên. Ta sẽ có trả lời không để quá lâu, song
sẽ không trước khi Quốc hội Mỹ bàn về việc bỏ cấm vận đối với Việt
Nam. Gần như đồng thời với việc G. Ford bác kiến nghị của Quốc
hội Mỹ yêu cầu tạm ngưng trong 6 tháng lệnh cấm vận buôn bán
với Việt Nam, Bộ Ngoại Giao Mỹ gửi thông điệp khẳng định sẵn
sàng sớm có thảo luận với Việt Nam, song nhận xét quan điểm ta
đặt thương lượng trên cơ sở “áp dụng một cách có chọn lọc các
Hiệp định đã ký” [5] là không đem lại kết quả xây dựng; vấn đề “
kiểm điểm đầy đủ” [6] về MIA sẽ là một trong những vấn đề hàng
đầu của Mỹ, chỉ khi nào vấn đề này được giải quyết “một cách cơ
bản [7] mới có thể tiến bộ thật sự tới bình thường hóa quan hệ giữa
hai nước chúng ta. Đề nghị Việt nam xem lại một cuộc họp bàn về
các vấn đề tồn tại là có bổ ích hay không ?
Tình hình nhùng nhằng như vậy kéo dài cho tới khi Jimmy Carter
trúng cử tổng thống thay Gerald Ford năm 1977. Chính quyền mới
của Đảng Dân chủ có quan điểm chiến lược khác và thái độ đối với
Việt Nam mềm mỏng hơn. Nguyên nhân quan trọng khiến chính
quyền Carter quan tâm ngay từ đầu đến việc thiết lập mối quan hệ
mới với Việt Nam là lợi ích chiến lược của Mỹ ở khu vực châu Á -
Thái Bình Dương. Đại sứ Mỹ tại LHQ, Andrew Young, đã nói rõ điều
đó: “Chúng tôi coi Việt Nam như một Nam Tư ở châu Á. Không phải
là bộ phận của Trung Quốc hay của Liên Xô, mà là một nước độc
lập. Một nước Việt Nam mạnh và độc lập là phù hợp với lợi ích quốc
gia của Mỹ” (tháng 1.77).
Ngày 6.1.77, thông qua Liên Xô, Mỹ lại đưa ra một kế hoạch 3 bước
về bình thường hoá quan hệ với Việt Nam:
1. Việt Nam cho biết tin về những “người Mỹ mất tích trong chiến
tranh” (MIA).
2. Mỹ chấp nhận Việt Nam vào LHQ và sẵn sàng lập quan hệ ngoại
giao đầy đủ, cũng như bắt đầu buôn bán với Việt Nam.
3. Mỹ có thể đóng góp khôi phục tại Việt Nam bằng cách phát triển
buôn bán, cung cấp thiết bị và các hình thức hợp tác kinh tế khai
thác.
Ngày 3/3/1977 chính quyền Carter quyết định nới lỏng một phần
cấm vận đối với ta, cho phép tàu thủy và máy bay nước khác chở
hàng sang Việt Nam được ghé các cảng và sân bay của Mỹ để lấy
nhiên liệu (nhưng vẫn cấm người Mỹ buôn bán với Việt Nam, cấm
tàu Mỹ đến Việt Nam đến cảng và sân bay Mỹ). Ngày 9.3.77, Mỹ
cho phép công dân Mỹ được đi thăm Việt Nam, Cu Ba, Bắc Triều
Tiên, Campuchia kể từ ngày 18.3.77.
Đến giữa tháng 3 ta nhận tiếp đón Léonard Woodcock, đặc phái
viên của tổng thống Mỹ Carter sang Việt Nam. Ngày 17.3.77 Thủ
tướng Phạm Văn Đồng đã tiếp L. Woodcock và 4 thành viên trong
đó có Thượng nghị sĩ Mansfield – tại Chủ tịch phủ ở Hà Nội. Ngày
hôm đó, đoàn Mỹ cũng đã đến chào Ngoại trưởng Nguyễn Duy
Trinh.
Sau chuyến đi thăm mở đường này, hai bên đã thoả thuận mở cuộc
đàm phán về bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ tại
Paris. Đoàn ta lúc đó do Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền dẫn đầu,
thành viên có tôi, vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ, anh Vũ Hoàng, vụ trưởng
vụ Lãnh sự và mấy cán bộ vụ Bắc Mỹ: (các) anh Bùi Xuân Ninh,
Cương, Hà Huy Tâm, Lê Mai. Anh Lê Mai khi đó là cán bộ vụ Bắc
Mỹ, làm phiên dịch cho trưởng đoàn. Sứ quán ta ở Pháp có anh Đỗ
Thanh, bí thư thứ nhất, và anh Nguyễn Thiện Căn, tùy viên báo chí,
tham gia đoàn. Phía Mỹ do R. Holbrooke làm trưởng đoàn. Cuộc
đàm phán diễn ra khá lâu, phải qua 3 vòng đàm phán trong tháng
5, tháng 6 và tháng 12 năm 1977. Địa điểm luân phiên ở đại sứ
quán ta và đại sứ quán Mỹ tại Pháp. Trong đàm phán vòng 1 (ngày
3-4.5.77), lập trường của Mỹ là hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao
đầy đủ ngay và vô điều kiện, còn những vấn đề khác giữa hai bên
để lại giải quyết sau; Mỹ sẽ không cản Việt Nam vào LHQ. Còn về
điều 21 (của Hiệp định Paris về VN), Mỹ có khó khăn về pháp luật
nên không thực hiện được, hứa sẽ thực hiện khi đã có quan hệ, bỏ
cấm vận buôn bán và xét viện trợ nhân đạo. Theo chỉ thị đã nhận
trước khi đi, ta kiên quyết đòi phải giải quyết “cả gói” [8] 3 vấn đề:
ta và Mỹ bình thường hoá quan hệ (bao gồm cả việc bỏ cấm vận và
lập quan hệ ngoại giao đầy đủ), ta giúp Mỹ giải quyết vấn đề MIA
và Mỹ viện trợ 3,2 tỷ đô-la cho Việt Nam như đã hứa hẹn trước đây.
Trở ngại lớn nhất cho việc bình thường hoá quan hệ là việc ta đòi
Mỹ viện trợ 3,2 tỷ đô-la cho ta vì Quốc hội Mỹ khi đó dứt khoát
không chấp nhận viện trợ làm điều kiện cho việc bình thường hoá
quan hệ với Việt Nam. Ngày 2-3.6, đàm phán vòng 2, Mỹ nêu lại
các đề nghị hồi tháng 5. Ngày 19.7.77, tại Hội Đồng Bảo An Liên
Hiệp Quốc (LHQ), Mỹ quyết định rút bỏ việc phủ quyết Việt Nam
vào LHQ. Sau vòng 2, anh Phan Hiền đã phải bay về Hà Nội báo cáo
và xin chỉ thị, thực chất là đề nghị trên nên có thái độ thực tế và
đối sách mềm dẻo hơn, nhưng nghe nói cả 4 vị lãnh đạo chủ chốt
của ta lúc đó đều nhất trí lập trường trên. Trước đòi hỏi kiên quyết
của ta, tại vòng 3 (19-20.12.78), Mỹ đề nghị nếu chưa thoả thuận
được về việc thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ thì có thể lập
Phòng Quyền lợi [9] ở thủ đô hai nước, nhưng như vậy thì chưa bỏ
cấm vận được. Sau khi có Phòng quyền lợi thì sẽ tuỳ tình hình mà
xét bỏ cấm vận, song ta vẫn giữ lập trường cũng nhắc đòi giải
quyết “cả gói” 3 vấn đề.
Rõ ràng năm 1977 chính quyền Carter thực sự muốn bình thường
hoá quan hệ với Việt Nam. Ngoại trưởng Mỹ C. Vance, ngày 10.1.77
tuyên bố: “Việc tiến tới bình thường hoá quan hệ Mỹ – Việt nam
phù hợp với lợi ích của hai nước” Năm 1977 đã có khả năng thực tế
để ta bình thường hoá quan hệ với Mỹ nhưng ta đã bỏ qua. Trong
khi đó, theo sự xúi giục của Bắc Kinh, chính quyền Polpot bắt đầu
chiến tranh biên giới chống ta từ ngày 30.4.77 và đơn phương cắt
đứt quan hệ ngoại giao với ta ngày 31.12.77.
Từ đầu năm 1978, quan hệ giữa 3 nước lớn Mỹ-Xô-Trung bắt đầu
chuyển từ hình thái đối đầu từng đôi một sang hình thái Mỹ-Trung
cấu kết chống Liên Xô, Liên Xô nhân thế yếu của Mỹ sau thảm bại ở
Việt Nam ra sức tăng cường ảnh hưởng ở Á - Phi và Mỹ Latinh bằng
học thuyết “chủ quyền hạn chế” của Brejnev tại châu Á. Liên Xô
đưa quân vào Afghanistan (1979), đồng thời thực hiện chính sách
bao vây Trung Quốc. Việt Nam cũng bị coi là một mắt xích của vòng
vây đó. Đặng Tiểu Bình, cuối tháng 2.79, có nói với các nhà báo ở
Bắc kinh: “Chúng tôi có thể dung thứ việc Liên Xô có 70% ảnh
hưởng ở Việt nam, miễn là 30% còn lại dành cho Trung Quốc”
Cũng từ năm 1978, Mỹ đẩy nhanh quá trình bình thường hoá quan
hệ với Trung Quốc (từ tháng 2.73, khi Kissinger đi thăm Bắc Kinh.
Trung Quốc và Mỹ đã ký thoả thuận lập Cơ quan liên lạc ở thủ đô 2
nước với quy chế như một sứ quán). Nước cờ “chơi lá bài Trung
Quốc để ngăn chặn Liên Xô” của cố vấn an ninh quốc gia
Z.Brzezinski đã dần dần lấn lướt chủ trương của ngoại trưởng Cyrus
Vance và R.Holbrooke là “thúc đẩy song song việc cải thiện quan hệ
với Việt Nam và Trung Quốc”. Ngày 23.8.78, trong lúc Mỹ đàm
phán về bình thường hoá quan hệ với ta ở Paris, ngoại trưởng Mỹ
C.Vance đã đi thăm Bắc Kinh. Cho đến khi Đặng Tiểu Bình tuyên bố
“Trung Quốc là NATO phương Đông” và “Việt Nam là Cuba phương
Đông” (19.5.78) và Brzezinski đi thăm Trung Quốc (20.5.78) thì
chính quyền Carter đã chọn con đường bình thường hoá quan hệ với
Trung Quốc và gác sang bên việc bình thường hoá quan hệ với Việt
Nam.
Ngày 21.8.78, Quốc hội Mỹ còn cử một đoàn 7 hạ nghị sĩ thuộc cả
hai đảng Dân chủ và Cộng hoà do hạ nghị sĩ Dân chủ
G.V.Montgomery, chủ tịch Uỷ ban POW/MIA, dẫn đầu sang Việt
Nam chủ yếu để trao đổi với thứ trưởng Phan Hiền về vấn đề tìm
kiếm “người Mỹ mất tích trong chiến tranh” (MIA). Ta đã trao trả
cho Mỹ một số bộ hài cốt để tỏ thiện chí hợp tác trong vấn đề MIA.
Và theo yêu cầu của họ, tôi đã dẫn đoàn Montgomery đi miền Nam,
thăm thánh thất Cao Đài và một trại người Campuchia tị nạn chiến
tranh ở biên giới Tây Ninh. Đấy là lần đầu tiên ta cho phép một
đoàn Mỹ chính thức thăm thành phố Hồ Chí Minh kể từ khi giải
phóng miền Nam.
Sau đó đúng một tháng, tôi sang Nữu-ước để tiếp tục cuộc đàm
phán về bình thường hoá quan hệ với Mỹ. Cuộc đàm phán vòng 4
về bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Mỹ không kéo dài như năm
1977 ở Paris. Lần này trưởng đoàn đàm phán của ta là thứ trưởng
ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch. Còn phía Mỹ vẫn là R.Holbrooke. Đến
lúc này khi ta quyết định rút bỏ đòi hỏi “Mỹ phải bồi thường chiến
tranh – viện trợ 3,2 tỷ đô la mới bình thường hoá quan hệ” và nhận
công thức “bình thường hoá quan hệ không điều kiện” của Mỹ thì đã
muộn. Sở dĩ Mỹ tiếp tục đàm phán vấn đề bình thường hoá với ta
lúc đó là chỉ nhằm làm Việt Nam chập chững trong quan hệ với Liên
Xô và trong vấn đề Campuchia, trong khi đó Mỹ đã chuyển hướng
sang phía Trung Quốc. R.Holbrooke nói với ta: “Mỹ coi trọng châu
Á; Mỹ cần bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Nhưng Mỹ lo
ngại Liên Xô đặt căn cứ ở Cam Ranh.”
Trong khi chờ đợi phía Mỹ trả lời dứt khoát về vấn đề bình thường
hoá quan hệ, khoảng hạ tuần tháng 11, anh Thạch về Hà Nội trước;
còn tôi vẫn ở lại Nữu-ước để giữ cầu. Ngày 30.11.78, R.Oakley, trợ
lý ngoại trưởng Mỹ, trả lời sự thúc dục của tôi, còn nói: “Mỹ không
thay đổi lập trường bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, nhưng
phải chậm lại vì cần làm rõ 3 vấn đề Campuchia, Hiệp ước Việt-Xô
và vấn đề người di tản Việt Nam”. Rồi họ trao cho tôi tấm ảnh toà
nhà của sứ quán nguỵ trên đường R. ở Hoa-thịnh-đốn, nói là sẽ trao
trả ta toà nhà đó làm trụ sở đại sứ quán, và yêu cầu ta cung cấp sơ
đồ ngôi nhà cũ của tổng lãnh sự quán Mỹ tại đường Tràng Thi (?)
Hà Nội.
Tôi ở lại Nữu-ước mãi tới cuối tháng 1.79, sau khi ta đưa quân vào
Campuchia giúp bạn đánh đuổi Polpot giải phóng Nông-Pênh. Ngày
9.1.79, ngoại trưởng Mý Cyrus Vance nói: “Các cuộc nói chuyện Mỹ
- Việt Nam về bình thường hoá đã tan vỡ do cuộc xâm lược
Campuchia của Việt Nam”. Tôi nghĩ, thực ra Mỹ đã quyết định dứt
bỏ quá trình đàm phán bình thường hoá quan hệ với ta từ khi tham
gia khỏi COMECON và ký Hiệp ước hữu nghị với Liên Xô (3.11.78),
để bắt tay với Trung Quốc chống Liên Xô ở châu Á - Thái Bình
Dương. Ngày 15.12.78, Mỹ và Trung Quốc đã ra thông cáo chung
chính thức công nhận nhau và thiết lập quan hệ ngoại giao từ ngày
1.1.79. Việc Đặng Tiểu Bình đi thăm Mỹ (29.1 - 4.2.79) đánh dấu
việc bình thường hoá quan hệ Mỹ - Trung Quốc, cũng là chính thức
xếp lại việc bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Mỹ tới 17 năm
sau. Khi ấy tôi còn lưu lại ở Nữu-ước nên được chứng kiến cảnh Hoa
kiều Nữu-ước đón Đặng: trong khu người Hoa (Chinatown), dọc
một đường phố treo toàn cờ đỏ năm sao11, còn dọc một đường phố
song song treo toàn cờ “thanh thiên bạch nhật” [11] ! Trong khi
gặp Carter ở Hoa-thịnh-đốn. Đặng Tiểu Bình đã tỏ ý sẽ tiến công
vào Việt Nam và không gặp phải phản ứng bất lợi nào từ phía Mỹ.
Theo Bzrezinski, trong cuộc hội đàm với Carter hôm 29.1, Đặng yêu
cầu có sự cộng tác giữa Mỹ và Trung Quốc để chống Liên Xô. Còn
Carter có phần thận trọng hơn, đồng ý cần có những cuộc tham
khảo chặt chẽ giữa hai nước để chặn chủ nghĩa bành trướng của
Liên Xô, nhưng thận trọng tránh đề cập tới đề nghị của Đặng. Sau
đó, ngày 16.2.79, Carter có nêu 6 nguyên tắc xử sự khi Trung Quốc
xâm lăng Việt Nam: Mỹ không can thiệp trực tiếp; khuyến khích các
bên tự kiềm chế; Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và Trung Quốc
rút quân khỏi Việt Nam; cuộc xung đột không đe doạ lợi ích trước
mắt của Mỹ; không đặt lại vấn đề bình thường hoá với Trung Quốc;
quyền lợi đồng minh của Mỹ không bị đe doạ. Cũng từ đó, cuộc
xung đột Campuchia và quan hệ với Việt Nam đã được đặt trong
khuôn khổ của mối quan hệ giữa 3 nước lớn Mỹ-Xô-Trung. Và cũng
từ đó Mỹ gắn vấn đề quan hệ Mỹ - Việt Nam với quá trình giải
quyết vấn đề Campuchia.
Là nhân chứng lịch sử và cũng là người trực tiếp tham gia các hoạt
động ngoại giao này với tư cách là vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ Bộ Ngoại
giao, trực tiếp tham gia đoàn đàm phán về bình thường hoá quan
hệ với Mỹ ở Paris năm 1977, rồi ở Nữu-ước năm 1978, tôi thật sự
đau xót vị ta đã bỏ lỡ mất cơ hội củng cố thế đứng của Việt Nam
trong hoà bình để tập trung phát triển đất nước sau bao năm chiến
tranh, lỡ cơ hội san bằng khoảng cách với các nước cùng khu vực.
Trong tập hồi ký của mình [12], Lý Quang Diệu đã nhận xét: “Năm
1975 thành phố Hồ Chí Minh có thể sánh ngang với Bangkok.
Nhưng nay (năm 1992) nó tụt lại đằng sau tới hơn 20 năm”.
Việc ta từ chối lời đề nghị “bình thường hoá quan hệ không điều
kiện” của Mỹ, làm cao trước việc ASEAN ngỏ ý muốn Việt Nam
tham gia tổ chức khu vực này, theo tôi, đã đưa lại những hệ quả vô
cùng tai hại cho nhân dân và đất nước ta. Liệu Trung Quốc có dám
tiếp tay cho bọn diệt chủng Polpot khiêu khích ta và có dám đánh
ta năm 1979 nếu như Việt Nam sau Chiến thắng 1975 có một chiến
lược “thêm bạn bớt thù” thực sự cầu thị hơn ? Việc bình thường hoá
quan hệ với Mỹ và việc gia nhập khối ASEAN mãi ngót 20 năm sau
(1995) ta mới thực hiện được một cách khá chật vật.
Theo tôi, tư duy đối ngoại có phần cứng nhắc của ta lúc ấy quả đã
không theo kịp bước chuyển biến của chính trị thế giới thể hiện qua
sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn sau sự kiện Việt Nam
1975, để dám có những quyết sách linh hoạt kịp thời đem lại lợi ích
to lớn lâu dài cho dân tộc ta. Ngược lại, việc ta bỏ lỡ cơ hội bình
thường hoá quan hệ với Mỹ lúc này đã khiến Việt Nam gần như đơn
độc trước một Trung Quốc đầy tham vọng.
Còn với Trung Quốc, sau khi có Hiệp định Paris 1973, Trung Quốc
có lợi ích duy trì nguyên trạng ở Đông Dương, nhất là việc Việt Nam
chia cắt thành hai miền dưới hai chế độ chính trị khác nhau là phù
hợp với ý đồ lâu dài của họ ở Đông Nam Á. Sau khi đi thăm Trung
Quốc về, thượng nghị sĩ Mỹ K.Mansfield báo cáo trước Quốc hội Mỹ
(1.2.75): “Trung Quốc tán thành để hai nước Việt Nam tiếp tục tồn
tại. Trung Quốc cho rằng một nước Campuchia thống nhất, trung
lập là điều chủ yếu trong một Đông Dương ổn định.”
Từ 1973 đã xảy ra những va chạm ở biên giới Việt-Trung. Năm
1974, Trung Quốc chiếm ngon lành nốt phần còn lại ở quần đảo
Hoàng Sa của ta. Có người cho rằng chỉ sau khi ta ngã hẳn theo
Liên Xô thì Trung Quốc mới chống ta. Song sự thật là các hoạt động
thù địch của Trung Quốc đối với Việt Nam đã xảy ra từ trước khi
Việt Nam tham gia khối SEV (tháng 6.78) và ký Hiệp ước hữu nghị
với Liên Xô (tháng 11.78). Tháng 12.75, sau khi thăm Trung Quốc
qua Paris, H.Kissinger nói: “Mỹ đang tính toán việc sử dụng Trung
Quốc để hạn chế ảnh hưởng của Việt Nam ở khu vực.”
Nét đặc trưng của giai đoạn 1975-1978 là Campuchia trở thành tiêu
điểm của sự đối đầu giữa một bên là Trung Quốc và một bên là Việt
Nam được Liên Xô ủng hộ. Sự đối đầu ấy trở thành xung đột quân
sự ngay từ tháng 5.75 và phát triển lên thành cuộc chiến tranh biên
giới Tây-Nam nước ta. Trong khi trả lời phỏng vấn, ngày 8.1.78, Z.
Brzezinski, cố vấn an ninh của tổng thống Mỹ, đã nhận định: “Điều
lý thú đây là trường hợp đầu tiên của một cuộc chiến tranh qua tay
người khác [13] giữa Liên Xô và Trung Quốc: xung đột giữa Việt
Nam được Liên Xô ủng hộ và Campuchia được Trung Quốc ủng hộ.”
Như vậy chỉ hơn 4 năm sau khi giải phóng được đất nước, ta lại bị
xô đẩy vào cuộc chiến thảm khốc ở Campuchia, đối đầu ngay với
Trung Quốc, kẻ đã từng là đồng minh chiến lược của ta trong 30
năm chiến đấu chống xâm lược phương Tây. Sau hai cuộc kháng
chiến gian khổ, dân ta mới chỉ được hưởng mùi vị của chiến thắng
và hoà bình êm ả chưa đầy 5 năm. Vết thương chiến tranh chưa
lành thì đã lâm vào cảnh nửa hoà bình nửa chiến tranh. Chiến tranh
chống Mỹ tuy gian khổ khốc liệt song Việt Nam còn có được mặt
trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ, còn trong cuộc chiến đấu
chống diệt chủng Polpot thì Việt Nam hầu như hoàn toàn cô lập.
Các nước cùng khu vực lo sợ Việt Nam sau khi “hạ xong”
Campuchia sẽ phát huy sức mạnh quân sự ra cả Đông Nam Á. Còn
Trung Quốc ra sức vu khống “Việt Nam xâm lược Campuchia” và có
mưu đồ lập “Liên bang Đông Dương” để làm chủ cả Lào lẫn
Campuchia, xoá mờ tính chất “chống diệt chủng” của việc Việt Nam
đưa quân vào Campuchia.
Cùng thời gian này, do những khó khăn kinh tế – xã hội chồng chất
của thời kỳ chiến tranh chưa được tháo gỡ, lại bị bao vây cấm vận
bên ngoài nên trong nước đã nảy sinh ra tình trạng “vượt biên” trốn
ra nước ngoài của một bộ phận dân chúng ở cả miền Nam lẫn miền
Bắc, tạo thêm gánh nặng về đối ngoại cho ta, bôi đen thêm hình
ảnh Việt Nam trên quốc tế. Vấn đề Campuchia và vấn đề “thuyền
nhân” [14] lúc đó quả là gánh nặng trên mặt trận đối ngoại của ta
trong thập niên 80 của thế kỷ 20.
Nửa cuối của thập kỷ 70 này là thời gian ta chồng chất nhiều sai
lầm về đối ngoại nhất trong suốt lịch sử dựng nước sau cách mạng
(từ 1945 đến nay):
• Ta không khôn ngoan duy trì quan hệ cân bằng với Trung Quốc và
Liên Xô, nhân tố cực kỳ quan trọng đảm bảo thắng lợi của ta trong
kháng chiến chống Mỹ.
• Bỏ lỡ cơ hội bình thường hoá quan hệ với Mỹ, năm 1977, khi
chính quyền Carter đã chủ động đề nghị hai bên bình thường hoá
quan hệ không điều kiện.
• Đánh giá sai và không gia nhập khối ASEAN ngay từ 1976 khi cả
6 nước này đều mong muốn ta tham gia vì lợi ích của mỗi một quốc
gia và của chung khu vực.
• Dính líu quá sâu và quá lâu vào vấn đề Campuchia.
Những sai lầm này có hệ quả liên quan chặt chẽ với nhau, gây thiệt
hại lớn cho ta về đối ngoại về an ninh-quốc phòng, về phát triển
kinh tế trong một thời gian dài.
(còn tiếp)
Trần Quang Cơ
[1] Pentagone Papers
[2] proceed on this basis in any relations between the two sides
[3] Prisoner of War/Missing in Action
[4] “I believe that the interests of peace and security will benefit
from placing the past behind us and developing the basis for a new
relationship between our two countries”
[5] selective application of past agreements
[6] full accounting
[7] substantially
[8] package deal
[9] Interest section
[10] Cờ CHND Trung hoa (BT)
[11] Cờ Trung hoa Dân quốc - Đài loan (BT)
[12] From Third world to First – Từ thế giới thứ Ba đến thế giới thứ
Nhất
[13] Proxy War
[14] boat people
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=1095
(trả lời: HongYen)
Post #: 4
Hồi Ký * Trần Quang Cơ - 27.12.2006 9:53:06
HongYen
VIP

Bài viết đã đăng: 7553
Gia nhập ngày: 25.7.2003
Đến từ: Sài Gòn
Hiện trạng: offline
MỘT NHIỆM KỲ ĐẠI SỨ KHÔNG TẺ NHẠT


Hồi ức và Suy nghĩ
Trần Quang Cơ
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
“… Trong lịch sử 50 năm của nước CHND Trung Hoa thì có hơn
30 năm Trung Quốc hết chống Liên Xô lại chống Việt Nam.
Trên cơ sở đó, tôi hoài nghi là liệu có thể đứng trên lý tưởng
chung XHCN để tranh thủ Trung Quốc được chăng ?…”
Chương 2
MỘT NHIỆM KỲ ĐẠI SỨ KHÔNG TẺ NHẠT

Tháng 10.82, tôi được bổ nhiệm đi làm đại sứ tại Vương quốc Thái
Lan – một điểm tiền tiêu của mặt trận đối ngoại thời kỳ ấy vì chính
quyền Thái Lan lúc đó gắn bó rất chặt với Trung Quốc trong việc
nuôi dưỡng bè lũ diệt chủng Polpot chống Việt Nam. Không thể nói
nhiệm kỳ đại sứ của tôi ở Thái Lan khi đó là bình lặng hay tẻ nhạt.
Hầu như không có tháng nào là không có những đám đông biểu
tình trước sứ quán hò hét phản đối Việt Nam “xâm lược”
Campuchia, xâm phạm lãnh thổ Thái. Thông thường những hoạt
động này trở nên náo nhiệt vào đầu mùa khô hàng năm, cùng lúc
với các hoạt động quân sự bắt đầu trên biên giới Campuchia – Thái.
Đám “biểu tình” – có khi là dân “xám-lô” [1], có khi là tổ chức dân
vệ Thái, có khi là đám người Việt phản động ở mấy tỉnh Đông Bắc –
thường tụ tập trong Công viên Lum-pi-ni ở gần đại sứ quán ta trên
đường Oai-rơ-lét [2], để nhận tiền “biểu tình phí”.
Báo chí Thái Lan hồi đó hình như rất khoái theo dõi phản ánh các
hoạt động của đại sứ Việt Nam, đặc biệt là những khi có cuộc gặp
gỡ không lấy gì làm vui vẻ giữa Bộ Ngoại giao Thái Lan và đại sứ
Việt Nam. Phải nói rằng nhiệt độ không khí “chuyện trò” giữa tôi với
các vị quan chức ngoại giao Thái phản ánh khá trung thành cường
độ chiến sự ở vùng biên giới Campuchia Thái Lan. Tôi không thể
nào quên lời phát biểu đầy phẫn nộ của ngài Tư lệnh lục quân đầy
quyền uy Ac-thit Kham-lang-ec với báo chí: “Chẳng cần có đại sứ
Việt Nam ở Thái Lan nữa”, sau khi tôi đã lịch sự nhưng kiên quyết
từ chối nhận hai bức công hàm phản đối của ngoại trưởng Thái. Bức
công hàm ngày 17.4.83 của Thái phản đối quân đội Việt Nam đã
bắn rơi chiếc máy bay trinh sát L19 làm chết viên phi công lái máy
bay đó, và sau đó lại bắn hỏng một chiếc trực thăng của quân đội
Thái. Còn công hàm ngày 1.5.84 phản đối quân đội Việt Nam “pháo
kích vào lãnh thổ Thái” thuộc tỉnh Surin làm chết và bị thương một
số dân làng. Tuyên bố giận dữ của tướng Ac-thit đã được một số
báo Thái phụ hoạ, trong đó tờ nhật báo tiếng Anh Daily News [3] có
xã luận viết: “Chính phủ (Thái Lan) cần yêu cầu Việt Nam thay
ngay đại sứ của họ ở Bangkok để phản đối việc ông này đã từ chối
nhận công hàm phản kháng của Thái”. Sự việc đó xảy ra vào thời
gian đầu mùa khô 1984-1985, lúc quân tình nguyện Việt Nam mở
chiến dịch đánh thẳng vào vùng “đất thánh” và xoá sạch các căn cứ
của 3 phái Khmer phản động nằm trên đường biên giới Campuchia -
Thái Lan và cắm sâu vào đất Thái Lan. Cũng thời gian đó đã xảy ra
những vụ tập kích và pháo kích của quân Trung Quốc vào mấy tỉnh
biên giới phía Bắc nước ta để phối hợp cứu nguy cho bọn diệt chủng
Polpot ở mặt trận phía Tây nước ta.
Thông qua báo chí Thái, tôi cũng đã có dịp làm cho nhân dân Thái
Lan rõ sự thật về vấn đề Campuchia trong khi trả lời phỏng vấn của
tờ Kledlap [4] ngày 15.4.84:
Hỏi: Ngài có tán thành ý kiến cho rằng chiến tranh Campuchia là
cuộc xung đột giữa Liên Xô - Việt Nam một bên với Trung Quốc –
Khmer Đỏ một bên, còn ASEAN và các bên khác chỉ đóng vai trò
phụ ? Nếu đúng như vậy, Ngài có ý kiến thế nào về sáng kiến của
ông Adam Malik về đàm phán Liên Xô - Việt Nam - Trung Quốc để
giải quyết vấn đề Campuchia ?
Trả lời: Thực chất của cái gọi là vấn đề Campuchia hiện nay là việc
Trung Quốc sử dụng một trong những công cụ đắc lực nhất và cũng
là thô bạo nhất của họ để can thiệp và đe doạ an ninh của các nước
Đông Dương, trước hết là Campuchia. Nếu cho rằng đây là xung đột
giữa Liên Xô - Việt Nam với Trung Quốc – Khmer Đỏ thì là mắc bẫy
Trung Quốc cả, đều là sai lầm nguy hiểm. Vì như thế sẽ không thấy
được mối đe doạ lớn đối với an ninh của tất cả các nước khu vực
này là chủ nghĩa bành trướng và bá quyền Trung Quốc, Liên Xô từ
trước đến nay chỉ giúp nhân dân ba nước Đông Dương bảo vệ độc
lập và xây dựng hoà bình đất nước mình, không đe doạ ai cả. Vì
vậy, xin miễn phát biểu về ý kiến của ông Adam Malik ở đây.
Hỏi: Chiến tranh ở Campuchia kéo dài sẽ ảnh hưởng đến kinh tế
Việt Nam và ASEAN, không rõ ai sẽ chịu đựng được lâu hơn ai ?
Trả lời:Tôi nghĩ rằng không nên đặt vấn đề như vậy, vì sẽ trúng
hiểm kế của Bắc Kinh. Thủ đoạn lớn của họ trong chính trị quốc tế
xưa nay vẫn là “ngồi trên núi xem hổ đánh nhau” [5]. Nước chúng
ta không lớn như họ, vì vậy ta cần phải thông minh hơn họ, ít nhất
cũng không mắc mưu họ. Lợi ích của nhân dân các nước Đông Nam
Á không cho phép chúng ta kéo dài tình hình đối đầu hiện nay để
cho các nước khác đứng ngoài hưởng lợi.
Trong chuyến đi Inđônêxia tháng 3 vừa qua của Bộ trưởng Nguyễn
Cơ Thạch, Việt Nam và Inđônêxia đã nhất trí nhận định là để tình
hình tiếp tục như hiện nay là có hại cho các nước trong khu vực
trong cố gắng xây dựng nền kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân
mình. Hai bên đã thừa nhận là giải quyết được tình hình này sẽ có
lợi cho tất cả các nước Đông Nam Á. Nếu không sẽ chỉ có lợi cho
các bên thứ ba.
Hỏi: Không rõ Ngài có thể khẳng định được hay không rằng trong
tình hình hiện nay quân Việt Nam sẽ không tràn qua biên giới Thái
Lan.
Trả lời: Về điều này chúng tôi có thể đảm bảo chắc chắn rằng
chúng tôi không xâm phạm lãnh thổ của Thái Lan.
Hỏi: Nhưng chính quyền và quân đội Thái Lan đã vạch rõ điều đã
xảy ra. Một số phóng viên nước ngoài cũng đưa tin này.
Trả lời:Xin khẳng định lại rằng trong đợt tấn công bọn Khmer Đỏ
vừa qua, bọn này đã chạm vào lãnh thổ Thái Lan. Lực lượng của
chúng tôi đã dừng lại ở biên giới chứ không xâm phạm lãnh thổ
Thái Lan, mặc dù phía Thái Lan đã tạo điều kiện cho bọn này chạy
sang. Về tin nói rằng bắt được tù binh Việt Nam, có xác binh sĩ và
xe tăng Việt Nam trong đất Thái Lan là hoàn toàn bịa đặt.
Hỏi: Ngài Tư lệnh tối cao kiêm Tư lệnh Lục quân (Ac-thit Khăm-
lang-ẹc) đã đưa ra tin này.
Trả lời: Chính Ngài Tư lệnh tối cao quân đội khẳng định tin nói rằng
quân đội Thái Lan đã sử dụng máy bay A.37 ném bom phá huỷ kho
vũ khí của Khmer Đỏ, cũng chưa rõ kho này nằm trên đất Thái Lan
hay trên đất Campuchia. Trong khi chiến sự đang xảy ra ở biên giới,
quân đội Thái Lan đã không tạo điều kiện cho phóng viên nước
ngoài vào làm tin ở khu vực đó. Nhiều phóng viên nước ngoài rất
bất bình về việc này và nói rằng quân đội Thái Lan đưa tin rất lộn
xộn, hôm nay nói thế này, ngày mai lại nói thế kia, không thống
nhất. Ví dụ như lúc đầu nói bắt được 40 tù binh Việt Nam, sau đó
nói là bắt được 41 người, tiếp đó nói chỉ bắt được 6 người, còn là
người Khmer.
Hỏi: Không rõ Việt Nam sẽ có biện pháp sớm chấm dứt chiến sự
như thế nào?

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét