Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014
Luận văn thạc sĩ về Một số giải pháp phát triển thị trường dịch vụ điện thoại di động của tập đoàn bưu chính viễn thông VN đến năm 2015
B
Kí hiệu DANH MỤC HÌNH VẼ
Trang
Hình 1.1 Sơ đồ đơn giản mạng Điện thoại di động
4
Hình 1.2 Quá trình thông qua quyết định mua hàng
14
Hình 1.3 Quá trình tiêu dùng sản phẩm mới
16
Hình 2.1 Phân chia Thị phần Dịch vụ Điện thoại di động năm 2006
27
Hình 2.2 So sánh giá cước Dịch vụ Điện thoại di động trả trước
33
Hình 2.3 So sánh giá cước Dịch vụ Điện thoại di động trả sau
33
Hình 2.4 Phân đoạn thị trường bằng công cụ giá
35
Hình 2.5 Sơ đồ kênh phân phối của mạng di động VinaPhone
45
Hình 2.6 Biểu đồ tăng trưởng thuê bao ĐTDĐ của VNPT
45
Hình 2.7 Tỷ lệ tăng thuê bao ĐTDĐ của VNPT
46
Hình 2.8 Biểu đồ Sản lượng và Doanh thu của VNPT
48
Hình 2.9 Mức tăng trưởng Sản lượng và Doanh thu của VNPT
48
Hình 2.10 Biểu đồ tăng trưởng thị phần Dịch vụ ĐTDĐ của VNPT
51
Hình 3.1 Định vị thị trường các dịch vụ Điện thoại di động
60
Hình 3.2 Chiến lược đẩy trong kênh phân phối
74
Hình 3.3 Đường thỏa mãn của khách hàng
76
C
Kí hiệu DANH MỤC BẢNG BIỂU Trang
Bảng 2.1 Sản lượng thuê bao Điện thoại di động toàn quốc 2001 - 06
24
Bảng 2.2 Các đợt giảm giá được VNPT thực hiện
34
Bảng 2.3 Thống kê thuê bao điện thoại di động của VNPT
45
Bảng 2.4 Sản lượng và doanh thu Dịch vụ Điện thoại di động của
VNPT
47
Bảng 2.5 Thị phần và tăng trưởng thị phần Điện thoại di động VNPT
50
Bảng 3.1 Cước dịch vụ GPRS/MMS
58
Bảng 3.2 Thời hạn và mệnh giá thẻ Di động trả trước của VNPT
72
D
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VNPT Vietnam Posts and Telecommunictions
(Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam)
TĐBCVTVN Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam
VMS Vietnam Mobile telecom Services Co
(Công ty thông tin di động)
ĐTDĐ Điện thoại di động
BCC Business Co-operation Contract
(Hợp đồng hợp tác kinh doanh)
GSM Global System for Mobile commmunication
(Hệ thống thông tin toàn cầu)
BTS Base Transceiver Station
(Trạm thu phát gốc)
MS Mobile Station
(Máy đầu cuối điện thoại di động)
BSC Base Station Controler
(Bộ điều khiển trạm gốc)
CDMA Code Division Multiple Access
(Đa truy nhập phân chia theo mã)
MSC Mobile Swiching Center
(Trung tâm chuyển mạch di động)
SMS Short Messaging System
(Nhắn tin bán tin ngắn)
GPRS General Package Radio Service
(Dịch vụ vô tuyến chuyển mạch gói)
MMS Multimedia Messaging System
(Nhắn tin đa phương tiện)
3G 3
thd
Generation – Thế hệ thứ 3
Trang 1
gMỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Với sự phát triển mạnh của khoa học công nghệ, đặc biệt là sự phát triển như
vũ bão của công nghệ thông tin, trong 10 năm trở lại đây ngành Viễn thông, trong
đó Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt nam (VNPT) là doanh nghiệp chủ đạo, đã
đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế Việt nam. Trong
giai đoạn 2001-2005, tổng doanh thu VNPT đã đạt 135.814 tỷ đồng, tổng nộp ngân
sách là 23.541 tỷ đồng. Chỉ riêng năm 2006 VNPT cũng đã có doanh thu đạt gần 33
ngàn tỷ đồng và đóng góp vào ngân sách khoảng 6,3 nghìn tỷ đồng.Trong cơ cấu
dịch vụ ngành Viễn thông của VNPT, dịch vụ điện thoại di động là một trong những
dịch vụ quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng doanh thu gần 47,41%.
Đưa vào thị trường Việt nam từ năm 1994, sau hơn 10 năm, đặc biệt trong
khoảng 5 năm trở lại đây, hoạt động kinh doanh dịch vụ điện thoại di động đã đạt
được những thành quả tích cực. Việt Nam đã có tốc độ phát triển thông tin di động
tăng cao đáng ngạc nhiên, luôn đạt ở mức 60-65%, trong khi tốc độ phát triển bình
quân của thông tin di động thế giới đạt hơn 30%, ở khu vực được cho là năng động
nhất - châu Á Thái Bình Dương đạt mức 39,5%. Tính riêng thị trường di động, tới
hết tháng12/2006, lượng thuê bao di động tại Việt Nam đã đạt trên 14,5 triệu thuê
bao thực, tăng hơn 4 lần so với cuối năm 2003. Ước cho đến năm 2010, con số này
sẽ nằm trong khoảng từ 36-45 triệu thuê bao.
Là quốc gia có tốc độ tăng trưởng thuê bao di động đứng thứ hai trong khối
ASEAN, Việt Nam không những là một thị trường tiềm năng mà trong tương lai,
Việt Nam sẽ tiếp tục có tốc độ phát triển vượt bậc, ước tính tới năm 2010 sẽ vượt
qua cả Thái Lan, Hàn Quốc, Malaysia (theo thông tin từ Hot Telecom – Canada).
Tuy vậy, đến thời điểm này cũng đã bộc lộ nhiều tồn tại cần tháo gỡ, đặc biệt
trong thời điểm hiện nay khi quá trình tự do hoá, mở cửa thị trường viễn thông
đang được xúc tiến mạnh mẽ theo xu hướng hội nhập của nền kinh tế Việt nam.
Trước những cơ hội và thách thức đặt ra đối với ngành Viễn thông Việt Nam khi ra
nhập WTO, những vẫn đề cần đặt ra với dịch vụ điện thoại di động của VNPT hiện
nay gồm có:
Thứ nhất: Dịch vụ điện thoại di động là dịch vụ mới ở Việt nam, công nghệ
nền của dịch vụ lại liên tục phát triển nên ở Việt nam còn thiếu nhiều kinh nghiệm
kinh doanh, phát triển thị trường dịch vụ, cần có sự nghiên cứu bổ xung.
Trang 2
Thứ hai: Trong nhiều năm, do đặc điểm độc quyền Nhà nước trong dịch vụ
điện thoại di động của VNPT ở Việt nam, nhiều hoạt động kinh doanh dịch vụ này
còn quan liêu, hành chính, chưa thực sự sáng tạo cần có sự cải tiến, đặc biệt là
trong lĩnh vực thị trường.
Thứ ba: Các nhà khai thác mới như S-Fone, Viettel, EVN Telecom,
HanoiTelecom có lợi thế của người đi sau là lựa chọn công nghệ khai thác hiện
đại hơn, khả năng cung cấp dịch vụ có nhiều ưu điểm, giá cước thấp. Chính sách
mở cửa thị trường dịch vụ thông tin di động của Nhà nước có nhiều ưu đãi đối với
doanh nghiệp mới nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lớn mạnh, thúc đẩy,
hoàn thiện thị trường cạnh tranh. Sự canh tranh ngày càng mạnh mẽ, bên cạnh đó
VNPT cũng gặp nhiều khó khăn hơn bởi chính sách của Nhà nước đối với doanh
nghiệp chiếm thị phần khống chế. Hơn nữa với sức ép giảm giá dịch vụ của xã hội
và cơ quan quản lý nhà nước, dẫn đến nguy cơ giảm doanh thu và lợi nhuận dịch
vụ. Để tiếp tục phát triển dịch vụ, VNPT cần có ngay các biện pháp duy trì, mở
rộng thị trường và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Thứ tư: Gia nhập WTO, trong những năm sắp tới sẽ có sự tham gia của các
nhà khai thác nước ngoài, thị trường thông tin di động sẽ sôi động hơn và cạnh
tranh ngày càng gay gắt hơn, nếu chỉ với hai công cụ cạnh tranh chủ yếu mà các
doanh nghiệp khai thác dịch vụ (trong đó có VNPT) hiện đang sử dụng tại các cuộc
đua trên thị trường dịch vụ di động là Giảm giá và Khuyến mãi thì thực sự việc giữ
vững và ổn định thị phần dịch vụ cho doanh nghiệp mình, đặc biệt là VNPT là một
vấn đề khó có thể thực hiện được.
Thứ năm: Công nghệ di động trên thế giới đang phát triển sang một giai đoạn
mới, thế hệ 2,5 và 3, tạo ra cơ hội cải tiến hoạt động kinh doanh phát triển nhiều
loại hình dịch vụ mới.
Để giải quyết những thách thức và cơ hội trên cần thực hiện nhiều biện pháp
đồng bộ. Một biện pháp hiệu quả nhất để đáp ứng đòi hỏi này là nâng cao hiệu quả
kinh doanh thông qua các giải pháp phát triển thị trường.
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn:
+ Xác định được các thành công, hạn chế của VNPT trong kinh doanh dịch vụ
thông tin di động.
+ Đưa ra một số giải pháp phát triển thị trường dịch vụ điện thoại di động
của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đến năm 2015.
Trang 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng của luận văn: Dịch vụ điện thoại di động của Tập đoàn Bưu chính
Viễn thông Việt nam (VNPT).
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các hoạt động phát
triển thị trường dịch vụ diện thoại di động của VNPT và vai trò của phát triển thị
trường đối với hiệu quả kinh doanh dịch vụ.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp:
+ Phương pháp phân tích, thống kê và so sánh;
+ Phương pháp tổng hợp, dự báo và mô hình hoá.
5. Dự kiến đóng góp của luận văn
+ Hệ thống hoá và phát triển lý luận cơ bản về hoạt động phát triển thị trường
của dịch vụ điện thoại di động.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động phát triển thị trường và hiệu quả
kinh doanh dịch vụ điện thoại di động của VNPT.
+ Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát triển thị trường dịch
vụ điện thoại di động của VNPT nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tới
2015.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn đuợc
chia thành 5 phần - chương:
Mở đầu
Chương I: Cơ sở lý luận về phát triển thị trường dịch vụ điện thoại di động.
Chương II: Thực trạng hoạt động phát triển thị trường dịch vụ ĐTDĐ của
VNPT.
Chương III: Các giải pháp phát triển thị trường để nâng cao hiệu quả kinh
doanh dịch vụ điện thoại di động của VNPT đến năm 2015.
Kết luận
Trang 4
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG
DỊCH VỤ ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG
I - TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG:
1.1 –
Đặc điểm của dịch vụ Điện thoại Di động
Điện thoại là loại hình dịch vụ cung cấp cho người sử dụng môi trường và
phương tiện để kết nối tới nhau và trao đổi thông tin bằng âm thanh, giọng nói. Điện
thoại di động là dịch vụ điện thoại trong đó người sử dụng có thể kết nối, liên lạc
với nhau ngay khi đang di chuyển vị trí trong vùng phục vụ. Vì dịch vụ điện thoại di
động sử dụng các máy điện thoại cầm tay không dây nên nó cũng thuộc vào dạng
dịch vụ điện thoại vô tuyến. Để có thể nắm rõ hơn về dịch vụ ĐTDĐ ta nghiên cứu
những đặc điểm của nó trên hai khía cạnh Kỹ thuật và Kinh tế
1.1.1 -
Đặc điểm kỹ thuật của dịch vụ điện thoại di động
Dịch vụ điện thoại di động được cung cấp trên một mạng liên kết của nhiều
thiết bị kỹ thuật, gọi là Mạng điện thoại di động. Mạng điện thoại di động có cấu
trúc kỹ thuật rất phức tạp. Tuy nhiên mạng dịch vụ điện thoại di động có một số đặc
điểm kỹ thuật như sau:
Hình 1.1: Sơ đồ đơn giản mạng điện thoại di động
MS
BTS
BSC
MSC
a) Trạm di động (MS – Mobistation):
Khái niệm kỹ thuật trạm di động MS trong thực tế chính là chiếc máy điện
thoại di động mà khách hàng sử dụng. Trong nhiều trường hợp người ta cũng gọi
thiết bị này là thiết bị đầu cuối khách hàng (CPE). MS có thể là thiết bị đặt trong
ôtô hay thiết bị xách tay hoặc thiết bị cầm tay. Loại thiết bị nhỏ cầm tay là trạm di
Trang 5
động phổ biến nhất. MS thực hiện chức năng giúp người sử dụng kết nối tới mạng
điện thoại di động (qua môi trường vô tuyến). Ngoài ra cũng cung cấp các giao diện
với người sử dụng (micro, loa, màn hiển thị, bàn phím ) hoặc giao diện với một số
thiết bị khác (giao diện với máy tính cá nhân, FAX, camera ).
b) Trạm thu phát gốc(BTS – Base Transceiver Station):
Trạm thu phát gốc trong thực tế thường gọi tắt là trạm thu phát BTS là thiết bị
cung cấp vùng phủ sóng cho dịch vụ điện thoại di động. Mỗi BTS phủ sóng được
một khu vực nhỏ – gọi là một (hoặc 1 vài) ô (cell) – có bán kính thông thường
khoảng 1,5 –2 Km. Số lượng trạm BTS càng nhiều thì diện tích vùng phủ sóng càng
lớn, vùng phục vụ của dịch vụ điện thoại di động càng rộng, khách hàng sử dụng
được dịch vụ (có sóng) ở nhiều nơi.
c) Bộ điều khiển trạm gốc (BSC - Base Station Controller):
Mỗi BSC thực hiện chức năng điều khiển một nhóm các trạm BTS và kết nối
BTS đến các trung tâm chuyển mạch MSC.
d) Trung tâm chuyển mạch các dịch vụ di động (MSC - Mobile Services
Switching Center): thực hiện chức năng chuyển mạch, kết nối người gọi đến người
được gọi và quản lý cuộc đàm thoại đó (cuộc gọi).
Như vậy, về cơ bản mạng điện thoại di động gồm có 4 bộ phận chính như đã
mô tả ở trên. Từ đặc điểm kỹ thuật trên cho thấy Chất lượng dịch vụ ĐTDĐ phụ
thuộc vào một số chỉ tiêu kĩ thuật cơ bản sau:
- Độ rộng của vùng phủ sóng và chất lượng vùng phủ sóng (nghĩa là phủ có
liên tục hay không, và sóng có đủ “mạnh” hay không. Vùng phủ hẹp thì sẽ có nhiều
nơi khách hàng di chuyển đến không sử dụng được dịch vụ (không có sóng). Chất
lượng phủ sóng kém thì cuộc gọi dễ bị “rớt” hoặc “âm thoại” kém, khó nghe.
- “Dung lượng vô tuyến” lớn hay nhỏ. Mỗi BTS có dung lượng “vô tuyến”
nhất định cho phép một số lượng nhất định các thuê bao thực hiện cuộc gọi một lúc.
Nếu có quá nhiều thuê bao trong “ô” của BTS cùng gọi đi thì sẽ có các thuê bao
không thực hiện được cuộc gọi (theo ngôn ngữ khách hàng là gọi nhiều lần mới
được một lần).
- “Dung lượng chuyển mạch” của MSC càng lớn thì thực hiện được càng
nhiều kết nối nghĩa là nhiều người hơn có thể gọi cùng một lúc.
Trang 6
1.1.2 - Đặc điểm kinh tế của dịch vụ điện thoại di động
Dịch vụ Điện thoại di động có một số đặc điểm kinh tế riêng, khác với một sản
phẩm hàng hoá thông thường.
- Dịch vụ điện thoại di động có tính chất vô hình, tính biến đổi, tính chia cắt
và tính không thể dự trữ. Đây là đặc điểm riêng có của các dịch vụ Bưu Chính
Viễn thông nói chung và của Dịch vụ Di động nói riêng.
Quá trình cung cấp dịch vụ là quá trình truyền đưa tin tức, hay nói cách khác
nó là hiệu quả có ích của việc truyền đưa tin tức từ người gửi (thuê bao chủ gọi) đến
người nhận (thuê bao nhận), chứ không phải là quá trình sản xuất ra tin tức mới, do
vậy nó có tính vô hình.
Mặt khác, nội dung thông tin trong quá trình truyền đưa không thể bị thay đổi,
hoặc chia cắt tại đầu nhận, song hình thức lại bị biến đổi do công nghệ truyền đưa
thông tin tác động lên hình thức của thông tin và chia ra nhiều công đoạn để thực
hiện dịch vụ: Âm thanh/hình ảnh/văn bản… bị biến đổi thành tín hiệu điện để
truyền đi (tại 2 công đoạn đi – truyền dẫn) và từ tín hiệu điện lại được biến đổi trở
lại tín hiệu âm thanh/hình ảnh/văn bản…tại công đoạn đến.
- Cũng như các dịch vụ Bưu Chính Viễn thông khác, Dịch vụ Điện thoại
Di động là một dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng, do tham gia vào hầu hết các hoạt
động kinh tế xã hội vì thế hiện nay nó được coi là một dịch vụ thiết yếu của đời
sống xã hội. Hầu hết các tầng lớp xã hội đều đã có cơ hội sử dụng loại hình dịch vụ
này. Hơn nữa, điện thoại di động là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng thông
tin liên lạc của xã hội nên dịch vụ này đã trở thành một bộ phận không thể thiếu
trong xã hội, giống như điện, nước, giao thông
- Dịch vụ điện thoại di động là sản phẩm tiêu dùng một lần. Một phút đàm
thoại đã trôi qua thì không thể “sử dụng” lại được. Muốn tiếp tục đàm thoại phải
tiếp tục tiêu dùng các đơn vị dịch vụ (các phút đàm thoại) mới.
- Quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ điện thoại di động là một quá
trình có tính tức thời và tính tại chỗ. Tính tức thời thể hiện ở quá trình tiêu dùng
diễn ra đồng thời với quá trình sản xuất ra dịch vụ. Dịch vụ có tính tại chỗ là vì dịch
vụ được tạo ra ở đâu thì được bán ngay tại đó.
Trong thực tế quá trình bán hàng dịch vụ điện thoại di động được chia thành
nhiều giai đoạn. Thông thường gồm hai giai đoạn chính: thuê bao dịch vụ và sử
dụng dịch vụ.
Trang 7
Thuê bao là khách hàng mua dịch vụ ở giai đoạn thứ nhất, trả cước để hoà
mạng và duy trì thuê bao tháng. Về bản chất có thể nói ở giai đoạn bán hàng thứ
nhất khách hàng đã mua một nửa dịch vụ vì đã có thể thụ động nhận các cuộc gọi
đến để trao đổi thông tin với những người khác. Giai đoạn này thường chỉ diễn ra
một lần và liên quan nhiều nhất đến kênh bán hàng và chăm sóc khách hàng và cũng
là giai đoạn khó khăn nhất, gắn bó chặt chẽ với hoạt động phát triển thị trường. Giai
đoạn này có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người mua và người bán và là điều kiện tiên
quyết để tiếp tục giai đoạn 2.
Giai đoạn bán hàng thứ hai là lúc khách hàng thực hiện cuộc gọi đi nghĩa là
chủ động gọi cho người xung quanh để đàm thoại. Khi này khách hàng đã mua các
phút thông tin (hoặc các đơn vị thông tin khác) và chấp nhận trả (trả trước và trả
sau) cước thông tin. Giai đoạn hai diễn ra tự động, không có sự tiếp xúc giữa người
bán và người mua. Giai đoạn này chủ yếu liên quan nhiều đến các vấn đề chất lượng
dịch vụ (chất lượng mạng lưới, chất lượng tính cước ).
Ngoài 2 giai đoạn bán hàng nói trên, cần lưu ý đến dịch vụ điện thoại di động
trả trước. Loại hình dịch vụ trả trước yêu cầu khách hàng mua thẻ trả trước. Hoạt
động bán thẻ trả trước lặp đi lặp lại nhiều lần (suốt đời thuê bao trả trước), có sự
tiếp xúc trực tiếp giữa người mua và người bán và có tính cạnh tranh cao nhất.
- Giống như đa số các dịch vụ viễn thông khác, dịch vụ điện thoại di động
có co dãn cầu theo giá dạng bậc thang. Một sự giảm giá nhỏ sẽ không có ảnh
hưởng đến sự thay đổi về cầu, hay nói theo ngôn ngữ kinh doanh điện thoại di động
là “mức giảm giá nhỏ sẽ không làm tăng tốc độ phát triển thuê bao cũng như lưu
lượng đàm thoại của các thuê bao”. Khi thực hiện một mức giảm giá đủ lớn (tới
ngưỡng) thì cầu dịch vụ điện thoại di động đột ngột tăng hay còn gọi là bùng nổ.
- Dịch vụ điện thoại di động còn mang một tính chất nữa của dịch vụ viễn
thông đó là tính chất kinh tế mạng. Mỗi thuê bao (khách hàng) có thể coi là một
nút trong một mạng liên kết gồm nhiều thuê bao khác nhau. Khi có nhiều “nút” thì
mối liên hệ giữa các nút tăng lên và cơ hội để xuất hiện một cuộc liên lạc giữa các
nút tăng lên. Nói cách khác càng nhiều thuê bao thì mỗi thuê bao gọi đi càng nhiều,
lưu lượng đàm thoại tăng nhanh hơn cấp số cộng. Thêm một thuê bao sẽ bán được
không phải 1 mà nhiều hơn 1 đơn vị sản phẩm. Đây là hiệu ứng “càng đông càng
vui” hay “hiệu ứng câu lạc bộ” hay “Hiệu ứng ngoại sai” của kinh tế mạng. Hiệu
ứng này càng được gia tăng nhờ vào tính chất 2 chiều của dịch vụ điện thoại di
động, nghĩa là có thể gọi đi và nhận cuộc gọi. Một thuê bao trên mạng dù không gọi
đi thì vẫn có ý nghĩa làm phát sinh lưu lượng vì các thuê bao khác sẽ gọi đến thuê
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét