Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

72691

Giá nội địa của hàng khập khẩu tăng lên do giá trị của đồng nội tệ giảm so
với ngoại tệ hoặc do ảnh hởng của khủng hoảng
Thuế và các khoản nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nớc tăng
II. Thực trạng lạm phát ở Việt Nam thập kỉ 90.
Trong giai đoạn này, lạm phát ở Việt Nam là lạm phát vừa phải, nghĩa là lạm
phát ở mức một con số, xảy ra khi tốc độ tăng giá chậm. Hiện ở phần nhiều các
nớc phát triển lạm phát đợc duy trì ở mức vừa phải, tỉ lệ là bao nhiêu còn tuỳ
thuộc vào tình trạng phát triển của nền kinh tế và môi trờng chính sách tiền tệ
từng thời kì. Với điều kiện lạm phát vừa phải, giá cả tăng chậm (thờng xấp xỉ
bằng mức tăng tiền lơng hoặc cao hơn chút ít), tác hại của nó là không nguy
hiểm mà trái lại có tác dụng kích thích sản xuất, thúc đẩy các hoạt động đầu t.
Thập kỉ 90 này tỉ lệ lạm phát ở nớc ta đạt dới một chữ số cùng với tốc độ tăng tr-
ởng bình quân 8,6%/năm. Để hiểu đợc thực trạng lạm phát trong thập kỉ 90,
chúng ta có thể xem xét và phân tích các số liệu về tỉ lệ lạm phát qua các năm
trong bảng.
Tỉ lệ lạm phát (tính theo tháng)
Đơn vị : %
năm
tháng
90 91 92 93 94 95 96 97 98 99
1 2,9 13,2 4,4 1,7 1,8 3,8 0,9 0,8 1,6 1,7
2 3,8 8,7 5,5 1,9 3,7 3,4 2,5 1,8 2,2 1,9
3 1,9 0,5 0,5 -0,5 -0,4 0,2 0,8 -0,5 -0,8 -0,7
4 2,5 2,2 0,9 -0,2 0,3 1,0 0,1 -0,6 1,6 -0,6
5 2,6 3,0 1,3 1,5 0,6 1,8 -0,5 -0,5 1,4 -0,4
6 2,1 1,7 0.1 -0,3 0,9 0,8 -0,5 0,1 0 -0,3
7 3,6 2,5 0,3 -0,2 0,2 0 -0,7 0,2 -0,5 -0,4
8 5,8 3,4 0,3 0,5 0,9 0,3 -0,4 0,1 1,1 -0,4
9 4,3 3,7 0 -0,1 1,6 0,5 0,3 0,6 1,0 -0,6
10 6,1 2,8 -0,2 -0,3 1,3 0,1 0,1 0,3 0,3 -1,0
11 7,9 5,6 1,98 0 1,7 0,1 0,9 0,3 0,1 0,4
12 - 6,06 1,35 1,2 1,1 0,3 1,0 1,0 0,8 -

5
Công cuộc đổi mới kinh tế ở nớc ta thời gian qua đã thu đợc những kết quả bớc
đầu rất khả quan, tạo niềm tin trong dân chúng cũng nh các nhà đầu t trong và
ngoài nớc. Nhng nhiều ngời cũng lo sợ khả năng nền kinh tế Việt Nam sẽ rơi
vào tình trạng thiểu phát và khó có thể thoát ra khỏi vòng xoáy này. Tính xác
thực của nó là hết sức rõ ràng, đợc thể hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế giảm
sút trong thời gian gần đây. Biểu đồ trên cho ta thấy tỉ lệ lạm phát thập kỉ 90 là
luôn biến đổi với xu thế giảm dần nhng đôi khi vẫn có sự tăng lên đáng kể.
*Thời kì hai năm đầu 1990-1991.
Nhìn lại thời kì 1990-1991 tái lạm phát, hai nhân tố trực tiếp có liên quan đến
việc tăng đáng kể lạm phát hai chữ số (trên 60%/năm) là:
1. ảnh hởng có tính quyết định của thị trờng quốc tế về sự thay đổi căn bản thị
trờng xuất nhập khẩu, quan hệ kinh tế đối ngoại. Do biến động chính trị ở Liên
Xô (cũ) và các nớc XHCN Đông âu, khu vực tập trung tuyệt đại bộ phận kim
ngạch XNK của Việt Nam và cũng là khu vực cung ứng các nguồn tài chính chủ
yếu cho Việt Nam gần nh bị cắt đứt hoàn toàn. Hơn nữa, kim ngạch xuất khẩu
qua khu vực I (đồng rúp) năm 1991 chỉ hơn 18% (so với năm 1986) và 10% (so
với năm 1989), trong khi kim ngạch nhập khẩu tơng ứng là 20% và 17%. Sự
kiện chiến tranh vùng Vịnh làm cho giá xăng dầu tăng đột ngột, ảnh hởng khá
nặng nề đến lạm phát. ở Việt Nam, trong quý III-1990 giá xăng dầu đợc điều
chỉnh và làm tăng giá điện cũng nh giá một loạt hàng nhập khẩu.
2. Các chỉ tiêu tài chính, tiền tệ cũng trực tiếp ảnh hởng đến tình trạng lạm phát.
Tuy chỉ tiêu tăng trởng GDP và các bộ phận hợp thành nó trong năm 1990 và
cả năm 1991 đều có tốc độ tăng khá cao nhng do ảnh hởng chủ yếu của những
biến động trong quan hệ quốc tế đã làm thay đổi trong cán cân thơng mại và
cán cân thanh toán.
*Thời kì hai năm tiếp theo 1992-1993.

6
Đánh dấu một xu thế mới về diễn biến lạm phát ở Việt Nam. Trong giai đoạn
này tốc độ tăng giá và lần đầu tiên xuất hiện lạm phát một con số (tháng
11/1993, tỉ lệ lạm phát là 0%). Những nhân tố tác động đến việc hạ thấp nhanh
chỉ số lạm phát đó là:
1. Kết quả của công cuộc đổi mới trong suốt 7 năm qua đã tạo ra những chuyển
biến tích cực trong cơ cấu và cơ chế kinh tế theo hớng kinh tế thị trờng, tạo
động lực thúc đẩy tổng sản phẩm trong nớc GDP tăng nhanh.
2. Sự tăng trởng GDP có xu hớng đáp ứng quỹ tiêu dùng và từ năm 1991 nền
kinh tế bắt đầu có tích luỹ, đến năm 1993 đạt gần 10%. Điều này cho thấy đã
có bớc ngoặt trong lịch sử kinh tế Việt Nam, sản xuất nông nghiệp tăng
mạnh, giải quyết đợc vấn đề lơng thực.
3. Cán cân thơng mại đợc cải thiện rõ rệt, từ nhập siêu liên tục chuyển qua thời
kì cân bằng (nhập siêu ở mức độ không đáng kể, kim ngạch XNK đạt trên 6
tỉ USD và bằng 118% tổng kim ngạch năm 1990, xấp xỉ bằng 140% năm
1991)
4. Cán cân thanh toán bắt đầu có khả năng hoàn thành dự trữ ngoại tệ, làm cho
quỹ điều hoà và điều hành tỉ giá hối đoái đợc chủ động.
5. Các biện pháp hạn chế sự tăng quá mức của cầu đã đem lại những kết quả tức
thời: hạn chế chi tiêu ngân sách, khơi tăng nguồn thu, giảm bội chi, hạn chế
và tiến tới ngừng phát hành bù đắp thiếu hụt ngân sách.
6. Từ năm 1990 đã bắt đầu thực hiện cuộc cải cách hệ thống ngân hàng theo h-
ớng chuyển từ đơn cấp sang hai cấp. Chính sách lãi suất thực dơng, chính
sách một tỉ giá sát với tỉ giá thị trờng, tỉ giá hối đoái thực tế và việc khắc
phục lạm phát từ kênh tín dụng đã góp phần quan trong trong ổn định và phát
triển kinh tế, chống lạm phát.
7. Do kết quả chính sách đổi mới và mở cửa, hàng hoá nớc ngoài vào Việt Nam
ngày càng nhiều góp phần cân đối tiền-hàng. Dù Mĩ vẫn duy trì cấm vận nh-

7
ng luồng ngoại tệ từ xuất khẩu, đầu t trực tiếp, dịch vụ, tín dụng, viện trợ và
các kênh phi mậu dịch vẫn đợc đa vào nớc ta nh một thứ hàng hoá có giá làm
tăng khả năng đáp ứng của cung ứng đối với tiêu dùng.
* Năm 1994, tiếp tục kiểm soát lạm phát đồng thời thực hiện nhiệm vụ cân bằng
tăng trởng kinh tế đi đôi với chuyển biến mạnh mẽ về ổn định và tăng cờng
quốc phòng, an ninh xã hội.
* Năm 1995, lạm phát tiếp tục biến động và chủ yếu có xu hớng giảm, mức thấp
nhất là 0% vào tháng 7.
* Bắt đầu từ năm 1996, nền kinh tế có dấu hiệu giảm phát, cuối quý I giá cả
giảm liên tục và chuyển sang âm. Đến quý IV giá mới nhích lên do đợc điều
chỉnh mức tăng của tổng phơng tiện thanh toán.
* Năm 1997, cơn bão khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu á đã cuốn các nớc
trong khu vực rơi vào vòng xoáy của nó. Việt Nam tuy không chịu tác động trực
tiếp nhng cũng bị ảnh hởng ít nhiều.
* Năm 1998, mức gia tăng lạm phát 9,2% gấp khoảng 2,5 lần năm 1997, chấm
dứt thời kì thiểu phát tiền tệ kéo dài 2 năm (1996-1997). Sở dĩ lạm phát năm này
tăng mạnh là do biến động và gia tăng các yếu tố kích cầu của nền kinh tế, tuy
phân tán, rời rạc và cha nồng độ (liên quan đến bố trí cơ cấu đầu t, chi tiêu ngân
sách, giảm khung thuế tiêu thụ đặc biệt, tăng u đãi tín dụng, tạo việc làm, xoá
đói giảm nghèo ) cũng bắt đầu phát huy tác dụng.
* Năm 1999, lạm phát là 0,1% - đây là năm lạm phát thấp cha từng thấy từ trớc
tới nay. Các nhà kinh tế đã ví lạm phát nhẹ đối với nền kinh tế giống nh chất
nhờn giúp cỗ máy không bị hoen rỉ và hoạt động êm ả hơn. Tiền tệ cung ứng
nhiều hơn so với khối lợng hàng hoá tăng lên trong năm là nguyên nhân của lạm
phát vừa phải, giúp nền kinh tế ổn định và GDP tăng trởng nhanh.
* Dự tính năm 2000 này tỉ lệ lạm phát ở nớc ta sẽ đợc kiểm soát ở mức 6% , tốc
độ tăng trởng kinh tế ở mức 5,5-6%.

8
Trong khoảng 10 năm qua, chúng ta đã đạt đợc nhiều thành tựu trong kiểm soát
lạm phát nhng lại có ít kinh nghiệm trong chống thiểu phát. Một số nguyên
nhân tạo nên lạm phát thấp trong năm 1999, đặc biệt thiểu phát ở 8 tháng cuối
năm:
1. Thiểu phát đã đợc báo trớc. Theo báo cáo thờng niên năm 1998 của NHNN
Việt Nam, khối lợng tiền cung ứng năm 1998 tăng 23,9% so với năm 1997
nhng thấp hơn số tiền cung ứng năm 1996 là 2,2%. Cũng theo báo cáo, khối
lợng tiền mặt trong lu thông tăng 7,4% so với năm 1997 nhng con số tăng
thấp nhất so với nhiều năm trớc đó. Cuối năm 1998, tiền mặt trong lu thông
chiếm tỉ trọng 26,6% tổng phơng tiện thanh toán, giảm 4,2% so với năm
1997. Trong khi thanh toán qua ngân hàng giữa nhân dân với doanh nghiệp,
với Nhà nớc hoặc ngợc lại hầu nh không đáng kể, tiền gửi tiết kiệm có kì hạn
tại các NHTM chiếm tỉ trọng 50,6% tổng phơng tiện thanh toán, tăng 9,2%
so với năm 1997. Đó là những dấu hiệu cảnh báo thiểu phát sẽ đến trong năm
1999.
2. Vai trò của ngân hàng chống thiểu phát trong 8 tháng liên tục là không nhạy
bén. Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ nh hạ lãi suất cho vay,
giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với NHTM, hạ lãi suất tái cấp vốn chỉ đợc
thực hiện trong 6 tháng cuối năm.

9
Biểu đồ lạm phát năm 1999tỉ lệ %
-1
-0.5
0
0.5
1
1.5
2
T
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Tóm lại, năm 1999 là năm mà thực trạng lạm phát Việt Nam đợc quan tâm nhiều
nhất vì đã xuất hiện những hiện tợng ít thấy từ trớc tới nay. Khi nhìn nhận vấn
đề này đã có nhiều quan điểm tiếp cận theo từng góc độ khác nhau, nhng tất cả
chúng ta đều thấy rằng lạm phát trong 11 tháng đầu năm 1999 chỉ đạt mức
-0,4%, trung bình mỗi tháng khoảng 0,036%. So với cùng kì các năm từ năm
1990 trở lại thì con số này là đáng khích lệ, vậy giảm phát có phải là một lợi thế
kinh tế ? Nhìn nhận vấn đề ở góc độ mang tính học thuật và tích cực hơn, thì
hiện tợng lạm phát thấp nh vậy cha hẳn là điểm xấu, mà trên thực tế đã và đang
là những cơ hội lớn nhằm tiến hành các giải pháp điều chỉnh chính sách chiến l-
ợc về điều hành kinh tế vĩ mô.
Tỉ lệ lạm phát trong thập kỉ 90
tỉ lệ %

10
0
10
20
30
40
50
60
70
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Trớc hết, lạm phát thấp gần nh là điều kiện cơ bản nhất mang lại cơ hội giảm
dần lãi suất tiền gửi và tiền vay, để một mặt vừa phù hợp với thông lệ quốc tế,
mặt khác trả lại cho lãi suất chức năng quan trọng nhất là công cụ hỗ trợ tăng tr-
ởng. Tất nhiên không thể suy luận vấn đề một cách đơn giản theo kiểu giảm
phát bao nhiêu thì điều chỉnh lãi suất bấy nhiêu bởi lãi suất là một biến số cực kì
phức tạp và NHTƯ phải có trách nhiệm tính toán nhiều khía cạnh trong mối t-
ơng quan đồng bộ với trình độ phát triển của nền kinh tế để công bố một mức lãi
suất phù hợp. Nhớ lại đầu thập niên 90, trong giai đoạn siêu lạm phát với chỉ số
giá có lúc vợt quá hai con số, lãi suất tiền gửi tiết kiệm đạt mức kỉ lục
13%/tháng (tức 156%/năm) còn lãi suất tiền vay xấp xỉ 15%/tháng (180%/năm)
thì chúng ta mới thấy đợc tác hại do lạm phát gây ra dờng nh quá sức chịu đựng
của nền kinh tế. Qua nhiều lần điều chỉnh, lãi suất tiền gửi hiện nay vào khoảng
0,5%/tháng (6%/năm) và lãi suất tiền vay là 0,9%/tháng (10,8%/năm), so với
một số ngoại tệ mạnh trên thế giới thì lãi suất ở nớc ta vẫn còn khá cao, tuy
nhiên trong khu vực thì mức này là vừa phải. Điều này cho phép chúng ta có cơ
sở để kết luận rằng nền tài chính-tiền tệ Việt Nam đang bớc vào giai đoạn thay
đổi mang tính bớc ngoặt, và từ nền tảng này chúng ta sẽ tự tin hơn khi hội nhập
với thế giới.

11
III.Các chỉ số đo lờng lạm phát
1. Chỉ số Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Nền kinh tế thị trờng của ta hiện nay đang có những chuyển biến theo xu hớng
tốt. Thập kỉ 90 ở nớc ta, công cuộc đổi mới nền kinh tế theo cơ chế thị trờng có
sự quản lí vĩ mô của Nhà nớc đã đạt đợc nhịp độ tăng trởng tơng đối đều và bắt
đầu có tích luỹ, đầu t đợc mở rộng, sản xuất lu thông phát triển.
Chỉ số này đo lờng mức giá bình quân của tất cả các hàng hoá, dịch vụ tạo nên
tổng sản phẩm quốc nội. Nó đợc xác định theo công thức sau:
GDP danh nghĩa
Chỉ số giảm phát GDP =
GDP thực tế
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) từ 1990-1999
Năm Tốc độ tăng GDP (%)
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
5,10
5.96
8,65
8,07
8,83
9,54
9,34
8,15
5,80
5,00

12
Tham khảo những con số trên chúng ta thấy vào thời kì 1990-1996, nhờ chính
sách mở cửa mà sức lao động đợc giải phóng, kinh tế nớc ta đã tăng trởng với
tốc độ khá cao. Nhng khi quy mô kinh tế lớn dần, sự tăng trởng có chiều rộng
bắt đầu có sự hạn chế và những yếu kém bộc lộ rõ nét, thêm vào đó là cuộc
khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu á năm 1997 đã cuốn nhiều nớc trong khu
vực vào vòng xoáy của nó. Việt Nam tuy không trực tiếp bị ảnh hởng song do có
quan hệ thơng mại, mậu dịch, đầu t với các nớc bị khủng hoảng nên cũng phải
chịu sức ép không nhỏ, tốc độ tăng trởng có dấu hiệu chững lại. Nếu năm 1997
tốc độ tăng trởng đạt tới 8,15% thì đến quý I năm 1999 chỉ còn 4% và cả năm
1999 là khoảng 5%. Vì thế nhiều ngời cho rằng quý I năm 1999 nói riêng và cả
năm nói chung là đáy của sự giảm tốc độ tăng trởng.
Tác động của cuộc khủng hoảng đã đa đến những tổn thất cho nền kinh tế trên
các mặt:
Nguồn vốn đầu t nớc ngoài giảm sút gây ra sự hẫng hụt lớn trong đầu t phát
triển.
Thu nhập, sức mua của ngời dân giảm dẫn đến sức tiêu thụ hàng hoá trên thị
trờng giảm, làm cho các nhà sản xuất và cung ứng dịch vụ gặp rất nhiều khó
khăn trong tiêu thụ sản phẩm.
Nền kinh tế từ chỗ luôn phải đối phó với tình trạng lạm phát thì nay phải đề
phòng nạn giảm phát.
Thu nhập của đại bộ phận dân c trong năm không tăng, nạn thất nghiệp tràn
lan.
Sức sản xuất trong nớc vốn đã yếu đuối lại càng đình trệ dới sức ép của hàng
giả, hàng trốn lậu thuế
Một số doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả, làm ăn thua lỗ nhng vẫn
đợc nhà nớc cho giảm thuế, khoanh nợ hay xoá nợ. Lợng hàng hoá của các
doanh nghiệp này tung vào thị trờng chỉ làm tăng thêm tổng cung. Trong khi

13
đó thu nhập của ngời lao động giảm khiến khoảng chênh lệch giữa khối lợng
hàng hoá và nhu cầu có khả năng thanh toán ngày càng lớn.
Nớc ta đang đứng trớc ngỡng cửa của kỉ nguyên tăng trởng, giải quyết tốt mối
quan hệ giữa lạm phát và tăng trởng là một vấn đề hết sức quan trọng. Việc điểm
lại cách nghiên cứu và kinh nghiệm của nớc ngoài cùng những đánh giá trên
giúp cho chúng ta nhìn nhận vấn đề một cách sáng tỏ hơn.
Trớc hết, phải khảng định rằng tăng trởng và lạm phát là hai trọng số kinh tế
không những Chính phủ mà cả ngời dân đều quan tâm. Tăng trởng cao, lạm phát
thấp là điều mà bất kì ai trong chúng ta đèu mong muốn. Dễ thấy rằng tăng tr-
ởng cao sẽ dẫn đến tăng tổng cầu trong ngắn hạn, trong khi tổng cung cha kịp
biến đổi cho phù hợp vì các yếu tố sản xuất cha phát huy tác dụng, cho nên nếu
các chính sách của Chính phủ không đủ mạnh thì lạm phát xảy ra là tất yếu. Tuy
nhiên trong dài hạn, khi chiến lợc tăng trởng thành công thì việc tăng sản lợng
tiềm năng sẽ giúp một phần vào kiềm chế lạm phát. Bởi vậy trong dài hạn,
chúng ta cần đặt mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức bình quân, thấp hơn tỉ lệ
tăng trởng. Nừu tốc độ tăng trởng bình quân là 10-12% thì lạm phát cần phải ở
mức dới 10%. Chỉ với tỉ lệ nh vậy mới huy động đợc tiết kiệm từ nội bộ nềnkinh
tế, mới khuyến khích đợc đầu t và đảm bảo thành quả của tăng trởng. Tuy nhiên
trong ngắn hạn, do xuất phát điểm của ta còn thấp thì lạm phát có thể sẽ vợt tốc
độ tăng trởng. Vì vậy để lạm phát không tuột khỏi tầm kiểm soát của Nhà nớc
thì trong quá trình điều hành kinh tế cần đặc biệt chú ý đến các biện pháp hạn
chế lạm phát do tăng trởng gây nên. Ví dụ nh chiến lợc xuất khẩu cần đi kèm
với nhập khẩu để làm giảm bớt tổng cầu, chiến lợc đầu t với tiết kiệm để giảm
tiêu dùng
Tóm lại, mối quan hệ giữa tăng trởng và lạm phát không rõ ràng và thiếu ổn
định. Chính vì vậy trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô cần phải linh hoạt
mới đạt đợc mục tiêu mà Đảng và Nhà nớc đề ra là tăng trởng nhanh và ổn định.
2. Chỉ số lãi suất.

14

Xem chi tiết: 72691


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét