Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế
LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU.
Trong cơ cấu các ngành kinh tế của tỉnh Kiên Giang, Thủy sản đã được
xác đònh là một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Trong thời gian qua, hiện nay
và cũng như trong tương lai kinh tế thủy sản sẽ đóng góp một vai trò rất quan
trọng trong việc phát triển kinh tế tỉnh nhà.
Tiềm năng vùng biển, hải đảo và ven biển tỉnh Kiên Giang rất phong phú,
đa dạng; với lãnh hải thuộc vùng biển Tây Nam có 63.290 km
2
ngư trường gấp
10 lần diện tích đất liền và chiếm 1/5 diện tích vùng Vònh Thái Lan. Trữ lượng
vùng biển hơn 460.000 tấn thủy sản; với nguồn lợi phong phú gồm 273 loài, 139
giống thuộc 71 họ trong đó có hơn 20 loài cá kinh tế. Hằng năm cho phép khai
thác trên 200.000 tấn hải sản. Bờ biển dài gần 200 km tạo điều kiện thuận lợi
phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS). Hải đảo với ba quần đảo: Phú Quốc, Thổ
Chu và Nam Du có trên 105 hòn đảo lớn nhỏ che chắn là nơi tàu thuyền có thể
neo tránh gió bão để khai thác quanh năm. Do vậy vùng biển, hải đảo và ven
biển Kiên Giang chính là lợi thế so sánh của tỉnh nhà so với các tỉnh đồng bằng
sông Cửu Long trong quá trình đưa ngành Thủy sản tỉnh Kiên Giang phát triển
theo con đường công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Bên cạnh những tiến bộ đạt
được, kinh tế thủy sản vẫn còn nhiều khó khăn tồn tại. Chưa khai thác tốt tiềm
năng vùng biển, hải đảo, ven biển và bên trong nội đồng. Sản lượng khai thác
lớn nhưng giá trò thấp. Phát triển nuôi trồng và chế biến chưa cân đối với đánh
bắt. Trình độ khoa học công nghệ trong khai thác, nuôi trồng và chế biến còn
thấp dẫn đến năng suất sản lượng và giá trò hàng hoá không cao, kim ngạch xuất
khẩu (KNXK) thấp. Những tồn tại đó có nhiều nguyên nhân, một trong những
nguyên nhân cơ bản là vốn đầu tư (vốn ĐT) cho ngành Thủy sản trong những
năm qua chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của ngành Thủy sản, vốn ĐT
còn hạn chế, đònh hướng cơ cấu vốn ĐT trên từng lónh vực của ngành chưa
Trang 5/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế
chuyển biến nhanh theo hướng tính cực và có hiệu quả. Từ những vấn đề nêu
trên cần tìm ra những giải pháp về vốn ĐT nhằm đáp ứng cho yêu cầu phát triển
của ngành Thủy sản, giúp cho ngành Thủy sản phát huy các tiềm năng lợi thế
của mình để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, góp phần quan trọng vào việc hoàn
thành các chỉ tiêu kinh tế, xã hội của tỉnh Kiên Giang. Để giải quyết vấn đề vốn
ĐT cho ngành Thủy sản, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu luận văn là: “Một số
giải pháp về vốn ĐT nhằm phát triển ngành Thủy sản tỉnh Kiên Giang”.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI.
Một số giải pháp về vốn ĐT nhằm phát triển ngành Thủy sản tỉnh Kiên
Giang là vấn đề chưa được nêu ra trong các công trình nghiên cứu trước đây về
ngành Thủy sản tỉnh nhà. Trong phần nghiên cứu này chúng tôi tập trung đề cập
đến các lónh vực hoạt động cơ bản của ngành Thủy sản như khai thác, chế biến,
nuôi trồng và đồng thời chủ yếu là nguồn vốn sử dụng từ ngân sách nhà nước
(NSNN) và nguồn vốn của tín dụng ngân hàng (TDNH) trong việc đáp ứng yêu
cầu phát triển của ngành Thủy sản.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN.
- Làm rõ tiềm năng lợi thế và thực trạng các lónh vực hoạt động của
ngành Thủy sản tỉnh Kiên Giang.
- Đánh giá, lý giải về phương diện lý luận và thực tiễn của vai trò vốn
NSNN cũng như vốn TDNH đối với việc phát triển ngành Thủy sản tỉnh Kiên
Giang.
- Đề xuất các giải pháp để gia tăng hiệu quả sử dụng vốn ĐT NSNN và
vốn TDNH nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành Thủy sản.
4. ĐỐI TƯNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN.
- Đối tượng nghiên cứu:
Vấn đề vốn ĐT NSNN và vốn TDNH đối với sự phát triển của ngành
Thủy sản tỉnh Kiên Giang.
Trang 6/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu vốn ĐT NSNN và vốn TDNH trên các lónh vực: khai
thác, nuôi trồng, chế biến xuất khẩu thủy sản.
+Đề xuất các giải pháp để tăng cường phát huy hiệu quả sử dụng vốn ĐT
NSNN và vốn TDNH cho các lónh vực nói trên.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lòch sử đồng thời sử
dụng các phương pháp khác như: phương pháp diễn dòch, quy nạp, phân tích,
tổng hợp, phương pháp thống kê kết hợp nghiên cứu chọn lọc những kiến thức
lý luận đã được đúc kết rút ra từ thực tiễn tình hình triển khai thực hiện vốn ĐT
đối với sự phát triển của ngành Thủy sản. Luận văn cũng đã sử dụng các tài liệu
của Bộ Thủy sản, Sở Thủy sản, Cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước và một số
đơn vò liên quan về số liệu thống kê, các báo cáo quy hoạch, báo cáo tổng kết,
báo cáo tham luận vềø vốn ĐT, về hoạt động của ngành Thủy sản
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu 3 chương:
- Chương I: Vốn ĐT đối với sự phát triển của ngành Thủy sản.
- Chương II: Thực trạng vốn ĐT đáp ứng sự phát triển của ngành Thủy
sản tỉnh Kiên Giang trong những năm qua.
- Chương III: Một số giải pháp về vốn ĐT nhằm phát triển ngành Thủy
sản tỉnh Kiên Giang.
Trang 7/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế
CHƯƠNG I: VỐN ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH
THỦY SẢN.
1.1 TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ.
1.1.1 Khái niệm vốn đầu tư.
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các
hoạt động nào đó nhằm đem lại cho người đầu tư các kết quả nhất đònh trong
tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra. Nguồn lực bỏ ra có thể là tiền, tài
nguyên thiên nhiên, sức lao động, tài sản vật chất. Biểu hiện bằng tiền tất cả các
nguồn lực đã bỏ ra trên đây được gọi là vốn ĐT.
Trong các hoạt động đầu tư thì đầu tư phát triển có các đặc điểm khác
biệt chủ yếu như sau:
- Đòi hỏi một số vốn lớn và để nằm khê động trong suốt quá trình thực
hiện đầu tư. Đây là cái giá phải trả khá lớn của đầu tư phát triển.
- Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả
của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều thời gian với nhiều biến động xảy
ra.
- Thời gian cần hoạt động đòi hỏi để có thể thu hồi đủ vốn đã bỏ ra đối
với các cơ sở vật chất - kó thuật phục vụ sản xuất – kinh doanh thường là lớn và
do đó không tránh khỏi cái sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu
tố không ổn đònh về tự nhiên, xã hội, chính trò, kinh tế,…
Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế. Kết quả
nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức
trung bình thì tỉ lệ đầu tư phải đạt được từ 15 – 25% so với GDP tuỳ thuộc vào
ICOR của mỗi nước.
ICOR=
Vốn ĐT
Mức tăng GDP
Trang 8/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế
Từ đó suy ra:
Mức tăng GDP=
Vốn ĐT
ICOR
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn ĐT. Ở
các nước phát triển, ICOR thường lớn, từ 5-7 do thừa vốn, thiếu lao động, vốn
được sử dụng nhiều để thay thế cho lao động, do sử dụng công nghệ hiện đại có
giá cao. Còn ở các nước chậm phát triển, ICOR thấp, từ 2-3 do thiếu vốn, thừa
lao động nên có thể và cần phải sử dụng lao động để thay thế cho vốn, do sử
dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ. Chỉ tiêu ICOR của mỗi nước phụ thuộc
vào nhiều nhân tố, thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách
trong nước.
Về đầu tư và sự chuyển dòch cơ cấu kinh tế, kinh nghiệm của các nước
trên thế giới cho thấy, con đường tất yếu có thể tăng trưởng nhanh với tốc độ
mong muốn (từ 9 đến 10%) là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển nhanh
ở các khu vực công nghiệp và dòch vụ. Đối với các ngành nông, lâm nghiệp,
thủy sản, do những hạn chế về đất đai và các khả năng sinh học, để đạt được tốc
độ tăng trưởng từ 5-6% là rất khó khăn. Như vậy, chính đầu tư quyết đònh quá
trình chuyển dòch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng
trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát
triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình
trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, đòa thế,
kinh tế, chính trò,… của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn
đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển.
1.1.2 Các nguồn vốn đầu tư.
Có thể xem xét nguồn vốn ĐT dưới những góc độ khác nhau, dưới mỗi
góc độ nguồn vốn ĐT có hình thái biểu hiện riêng. Tuy nhiên, xét về bản chất
Trang 9/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế
thì các nguồn vốn ĐT đều là phần tiết kiệm hay tích lũy của toàn bộ nền kinh tế
có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội.
Trên góc độ của nền kinh tế, nguồn vốn ĐT có thể được chia thành nguồn
vốn ĐT trong nước và nguồn vốn ĐT nước ngoài.
Nguồn vốn ĐT trong nước bao gồm nguồn vốn Nhà nước; nguồn vốn từ
khu vực tư nhân và nguồn vốn từ thò trường vốn. Nguồn vốn ĐT Nhà nước bao
gồm nguồn vốn NSNN và nguồn vốn ĐT phát triển của DNNN.
Nguồn vốn nước ngoài bao gồm nguồn tài trợ phát triển chính thức (trong
đó ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu); nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại;
đầu tư trực tiếp nước ngoài và nguồn huy động qua thò trường vốn quốc tế.
1.2 VAI TRÒ CỦA NGÀNH THỦY SẢN TRONG CHIẾN LƯC PHÁT
TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI.
Việt Nam là một trong những nước có điều kiện đòa lý thuận lợi để phát
triển kinh tế thủy sản, với bờ biển dài khoảng 3.260 km, diện tích các vùng lãnh
hải và đặc quyền kinh tế rộng khoảng một triệu km
2
, diện tích các mặt nước nội
đòa trên 1,4 triệu ha, tuyến đảo với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, nhiều nơi có thể
xây dựng thành những căn cứ hậu cần nghề cá. Việt Nam lại nằm trong khu vực
kinh tế năng động nhất, có tốc độ phát triển nghề cá nhanh nhất thế giới, gồm
các thò trường nhập khẩu và tiêu thụ thủy sản lớn. So với một số nước trong vùng
như Thái Lan là nước đứng nhất, nhì thế giới về xuất khẩu thủy sản thì Việt Nam
có nhiều lợi thế hơn về điều kiện đòa lý và tự nhiên để phát triển thủy sản.
Trữ lượng thủy sản ở vùng biển Việt Nam khoảng 3 triệu tấn, với khả
năng khai thác cho phép khoảng 1,2-1,4 triệu tấn/năm. Ngoài cá, mực, còn có
hàng trăm ngàn tấn các loại nhuyễn thể, rong biển và đặc sản quý khác. Nói
chung về giống loài rất đa dạng, phong phú; do điều kiện thời tiết khí hậu đã tạo
khả năng tái tạo và bổ sung nguồn lợi sinh vật nhanh, biểu hiện ở chu kỳ sống
của sinh vật tương đối ngắn, thường chỉ 3-4 năm, tốc độ sinh trưởng khá cao, có
Trang 10/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế
nhiều loại sinh sản quanh năm, là nhân tố quan trọng chi phối tính bền vững của
nguồn lợi thủy sản và hệ sinh thái.
Về tài nguyên thủy sản nội đòa, theo thống kê chưa kể diện tích có thể
phát triển nuôi trên biển, tổng diện tích các loại hình mặt nước nội đòa có khả
năng NTTS là trên 1,4 triệu ha, đến nay mới chỉ sử dụng khoảng 700.000 ha,
nhưng Nhà nước chưa có chính sách khuyến khích để khơi dậy tiềm năng nhằm
cung ứng nhiều nguồn nguyên liệu thủy sản cho chế biến xuất khẩu.
1.2.1 Vai trò kinh tế:
Trong lòch sử phát triển nền kinh tế Việt Nam, kinh tế thủy sản có vai trò
và vò trí rất quan trọng trong đời sống kinh tế của đất nước:
• Đối với kinh tế trong nước, từ chỗ là một bộ phận không lớn thuộc khối
kinh tế nông nghiệp, với trình độ công nghệ rất lạc hậu vào những năm 80, đến
nay ngành Thủy sản đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ phát
triển nhanh. Trong 15 năm qua (từ 1980-1995) nhòp độ tăng giá trò KNXK bình
quân đạt được 189%/năm, trong 5 năm gần đây (1990-1995) bình quân
35,5%/năm, quy mô ngày càng tăng, giá trò KNXK năm 1995 tăng gấp trên 50
lần so với năm 1981 và giai đoạn 1995-1999 KNXK vẫn tiếp tục tăng bình
quân 15%/năm. Hiện nay xuất khẩu thủy sản đã đứng hàng thứ 3 về giá trò kim
ngạch trong các ngành hàng xuất khẩu, đã góp phần tích cực vào việc ổn đònh và
phát triển kinh tế đất nước.
So với kế hoạch 1986-1990, thì giai đoạn 1991-1995 tổng sản lượng thủy
sản tăng 32,43%, KNXK tăng 143,68%. Ngoài ra, so với năm 1990 thì năm 1995
tổng công suất tàu thuyền đánh cá tăng 64,84%, tổng công suất CBTS đông lạnh
tăng 64,71%.
• Đối với kinh tế thế giới, kinh tế thủy sản Việt Nam đã khắc phục được
tình trạng tách rời nền thương mại thế giới và đã xác lập được vò trí có ý nghóa
chiến lược, xếp thứ 19 về tổng sản lượng, thứ 30 về giá trò KNXK, thứ 5 về sản
Trang 11/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế
lượng nuôi tôm. Nếu năm 1996, hàng thủy sản Việt Nam đã được xuất khẩu
sang 25 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới thì đến nay đã lên tới trên 60 nước
và vùng lãnh thổ. Trong đó đáng chú ý là kim ngạch thủy sản xuất vào thò
trường Châu Âu và Bắc Mỹ ngày càng tăng nhanh và hàng thủy sản xuất khẩu
của Việt Nam ngày càng có uy tín trên thò trường thế giới.
1.2.2 Vai trò xã hội:
Việc khai thông thò trường đã thúc đẩy phát triển nhanh năng lực sản xuất
của khu vực tạo nguyên liệu (khai thác, NTTS), năng lực hậu cần dòch vụ nghề
cá, tạo nhiều việc làm với thu nhập ngày càng cao cho hàng chục vạn lao động,
đảm bảo đời sống cho hàng triệu người, làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn
vùng ven biển. Trong lónh vực chế biến hàng thủy sản xuất khẩu song song với
phát huy năng lực của các thành phần kinh tế để tạo công ăn việc làm, từng
bước thay đổi công nghệ mới với kỹ thuật tiên tiến, hiện đại đã cho phép nâng
cao được tay nghề, kó năng lao động, trình độ sử dụng máy móc thiết bò, khả
năng quản lí của người lao động để sản xuất ra những sản phẩm với chất lượng
tốt, giá trò cao, hiệu qủa mang lại ngày càng lớn hơn, trên cơ sở đó tăng thu nhập
cho người lao động.
Chính việc nâng cao hiệu qủa lao động của ngành Thủy sản, của kinh
doanh xuất nhập khẩu Thủy sản đã góp phần tăng nguồn thu ngân sách để đầu
tư phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời ngành Thủy sản cũng có điều kiện tái
sản xuất mở rộng trên các lónh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản
(CBTS),… thông qua việc đầu tư vốn, kó thuật,… cho nhân dân. Trên cơ sở đó tăng
cường mối quan hệ đoàn kết giữa Nhà nước và nhân dân và cùng nhau giải
quyết vấn đề phúc lợi xã hội.
1.2.3 Vai trò an ninh quốc phòng:
Khai thác hải sản (KTHS) là ngành sản xuất cơ bản của nghề cá, có vò trí
hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế biển của cả nước, vừa phát triển kinh
Trang 12/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế
tế vùng biển, hải đảo, vừa gắn với an ninh quốc phòng và chủ quyền quốc gia
trên biển. Vì vậy, thực hiện chương trình đánh bắt xa bờ, bên cạnh phát triển
nhanh đội tàu khai thác quốc doanh, còn có nghề cá nhân dân nếu được đầu tư
và khuyến khích thì họ vừa sản xuất vừa bảo vệ vùng biển quốc gia, đây chính
là lực lượng quốc phòng toàn dân hùng mạnh. Thực tế những năm qua lực lượng
tàu khai thác của ngư dân đã góp phần rất lớn trong việc bắt giữ tàu thuyền nước
ngoài xâm nhập vùng biển nước ta đánh bắt trộm hải sản, giữ vững an ninh trên
biển để bà con ngư dân an tâm ra khơi sản xuất.
1.2.4 Vai trò bảo vệ môi trường sinh thái:
Khoa học công nghệ và môi trường có vai trò hết sức quan trọng trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong giai đoạn mới. Đặc biệt,
vai trò này càng thể hiện rõ nét trong đònh hướng phát triển kinh tế thủy sản, vì
đây là ngành kinh tế - kỹ thuật có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái,
đến nhiều ngành sản xuất khác và nhất là khả năng đóng góp ngoại tệ lớn. Với
các thành tựu khoa học công nghệ đã đạt được, đã nhanh chóng được ứng dụng
vào lónh vực sản xuất giống các loài tôm, cá và hải sản khác có giá trò kinh tế
cao, phục vụ cho nghề nuôi tôm nước lợ, nuôi cá lồng bè và các loại hình nuôi
thủy sản khác.
Trong KTHS nếu có kế hoạch khai thác hợp lí; khai thác đi đôi với bảo vệ
và phát triển nguồn lợi thủy sản thì sẽ nuôi dưỡng phát triển nguồn lợi, không
dẫn đến phá hoại nguồn lợi, huỷ diệt vi sinh vật làm mồi cho các loài thủy sản,
phá huỷ thảm thực vật, làm xáo trộn nền đáy biển, phá hoại môi trường sống
của các loài thủy sản, hạn chế tối đa các nghề khai thác ven bờ để bảo vệ các
bãi sinh sản của các loài thủy sản có giá trò kinh tế.
Trong lónh vực CBTS nếu có quy hoạch hợp lí, vừa đảm bảo những yêu
cầu trong sản xuất chế biến, đồng thời bảo đảm môi trường sống xung quanh,
đòi hỏi các nhà sản xuất chế biến cố gắng đầu tư công nghệ dây chuyền sản
Trang 13/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế
xuất mới. Bởi vì thực tế cho thấy kó thuật chế biến càng tiên tiến hiện đại thì
hiệu qủa kinh tế mang lại càng cao và mức độ ô nhiễm môi trường càng giảm.
1.3 VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH
THỦY SẢN.
1.3.1 Vai trò nguồn vốn NSNN.
Một trong các chức năng quan trọng của Nhà nước là chức năng tổ chức
kinh tế. Để thực hiện chức năng này, Nhà nước sử dụng công cụ tài chính vó mô
quan trọng là NSNN để phân bố các nguồn tài chính cho sự phát triển của lãnh
vực sản xuất và các ngành kinh tế quốc dân. Chi đầu tư phát triển được cấp phát
chủ yếu từ ngân sách Trung ương và một bộ phận đáng kể từ ngân sách đòa
phương. Khoản chi này mang tính chất tích lũy, có ảnh hưởng trực tiếp đến tăng
năng suất xã hội và đối với các quan hệ cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.
Chi đầu tư phát triển bao gồm những khoản chi cơ bản sau:
- Chi đầu tư xây dựng cơ bản theo các dự án phát triển được hoạch đònh
bởi Nhà nước cho các công trình thuộc kết cấu hạ tầng, các công trình kinh tế,
các công trình và dự án phát triển văn hoá xã hội.
- Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp.
- Góp vốn cổ phần, vốn liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lónh vực
cần thiết có sự tham gia của Nhà nước.
- Chi cho quỹ hỗ trợ đầu tư Quốc gia và các quỹ hổ trợ phát triển đối với
các chương trình, dự án phát triển kinh tế.
- Chi dự trữ Nhà nước.
Trong đó chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã
hội là khoản tài chính có tính chất hình thành thế cân đối của nền kinh tế, tạo ra
tiền đề kích thích quá trình vận động vốn của các doanh nghiệp và đầu tư nhằm
mục đích tăng trưởng kinh tế. Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn tài chính của
Nhà nước hướng vào củng cố và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của nền kinh
Trang 14/ 75
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét