Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Một số giải pháp nhằm tăng thu nhập , tiết kiệm chi phí, nâng cao kết quả kinh doanh tại Ngân Hàng cổ phần nhà Hà Nội Chi Nhánh Thanh Quan

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Ngân hàng phát triển.
Ngân hàng đầu t.
Ngân hàng chính sách.
Các tổ chức tín dụng và hợp tác.
Trong 5 loại này thì NHTM là loại hình phổ biến nhất, giữ vị trí then chốt
trong nền kinh tế của quốc gia. ở Việt Nam, hệ thống ngân hàng đợc khai sinh
theo sắc lệnh 15 ngày 6/5/1951 của chủ tịch nớc. Mặc dù đợc ra đời muộn hơn
rất nhều so với sự ra đời của các ngân hàng trên thế giới nhng mô hình tổ chức
của nó thì vẫn theo mô hình cũ, lạc hậu, đó là mô hình ngân hàng một cấp. Chỉ
đến khi nền kinh tế nớc ta đợc xác định là nền kinh tế thị trờng theo định hớng
chủ nghĩa xã hội thì mô hình tổ chức của ngân hàng mới đợc thay đổi. Sự thay
đổi đó đợc đánh dấu ở Nghị định 53 ra ngày 26/3/1988, theo đó hệ thống Ngân
hàng Việt Nam là hệ thống ngân hàng hai cấp: Cấp NHTW đảm nhiệm chức
năng độc quyền phát hành tiền; quản lý nhà nớc về tiền tệ và tín dụng; và là cơ
quan quản lý dự trữ ngoại hối của nhà nớc. Cấp thứ hai là các NHTM trực thuộc
NHTW có chức năng hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân
hàng trực tiếp đối với nền kinh tế. Pháp lệnh NHNN 5/1990 đã đánh dấu một b-
ớc ngoặt quan trọng trong hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam. Từ đây hệ
thống NHTM Việt Nam bớc sang một trang sử mới.
1.1.2. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trờng
1.1.2.1 NHTM là nơi thu hút tiền nhàn rỗi và cung ứng vốn cho nền
kinh tế
Trong nền kinh tế, không chỉ có riêng ngân hàng làm nhiệm vụ thu hút l-
ợng tiền nhàn rỗi và cung cấp vốn cho các chủ thể thiếu vốn, nhng NHTM vẫn
là tổ chức thực hiện công việc này hiệu quả nhất. Và đây đợc coi là chức năng
cơ bản nhất của ngân hàng, đồng thời tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức
năng khác. Khi thực hiện các chức năng làm trung gian tín dụng NHTM giống
nh chiếc cầu để nối giữa những ngời có vốn mà cha có ý tởng kinh doanh và
những ngời có ý tởng kinh doanh nhng cha có vốn. Hay nói cụ thể hơn là ngân
hàng đi vay để cho vay. Ngân hàng thực đợc việc này dựa trên cơ sở ngân
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hàng là một tổ chức chuyên kinh doanh về tiền tệ và tín dụng, có khả năng nhận
biết khả năng cung và cầu vốn trên thị trờng, và đặc biệt là có uy tín khá cao.
Dựa vào uy tín của ngân hàng mà những ngời có tiền đem vào đó để gửi, họ vừa
đạt đợc mục đích là đảm bảo an toàn cho tài sản của mình mà lại vừa có thu
nhập. Trên cơ sở đó ngân hàng đã tập hợp đợc khối tiền nhàn rỗi và cho những
ngời cần vốn vay. Nh vậy NHTM đã giúp góp phần tạo đợc lợi ích cho tất cả
các bên. Đối với ngời vay tiền sẽ thoả mãn đợc vốn để kinh doanh một cách
nhanh nhất, chi phí về thời gian và tiền bạc thấp nhất. Đối với bản thân NHTM
thì sẽ kiếm đợc lợi nhuận từ phần chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất
tiền cho vay. Cũng giống nh bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động kinh
doanh trên thị trờng, lợi nhuận này sẽ quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
ngân hàng. Và đối với tổng thể nền kinh tế, chức năng trung gian tín dụng sẽ
thúc đẩy tăng trởng kinh tế vì các thành phần kinh tế có vốn kịp thời để đáp ứng
yêu cầu sản xuất và tái sản xuất mở rộng. Ngoài ra khi có mặt của NHTM thì
quá trình luân chuyển hàng hoá diễn ra nhanh hơn. Nh vậy hoạt động đi vay
để cho vay của NHTM chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Và
khi thực hiện tốt chức năng này thì sẽ tạo ra nền tảng vững chắc để NHTM thực
hiện các chức năng khác.
1.1.2.2 NHTM là cầu nối giữa thị trờng tài chính trong nớc và quốc
tế.
NHTM là đơn vị có chi nhánh rộng khắp không chỉ trong nội bộ một
quốc gia mà còn cả ở nớc ngoài. Và lợi thế nh vậy NHTM dễ dàng thu hút và
mở rộng vốn đầu t nớc ngoài vào trong nớc. Đối với những ngời muốn đầu t vào
nớc khác có hai cách: một là đầu t trực tiếp và hai là đầu t gián tiếp. Hình thức
đầu t trực tiếp có thể đem lại lợi nhuận cao nhng đổi lại ngời ta phải nghiên cứu
nhiều yếu tố nh: môi trờng kinh doanh, môi trờng pháp lý, cơ sở vật chất hạ
tầng và khả năng thất bại cũng rất cao. Hình thức đầu t nớc ngoài đợc a
chuộng hơn là đầu t gián tiếp, có nghĩa là các nhà đầu t mua bán cổ phiếu , trái
phiếu trên thị trờng chứng khoán. Mà NHTM là chủ thể tham gia trên thị tr-
ờng chứng khoán ấy, nếu họ hoạt động tích cực sẽ làm cho thị trờng chứng
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
khoán sôi động, và nh vậy họ không chỉ lôi kéo ngời đầu t trong nớc đầu t mà
cả ngời đầu t nớc ngoài.
Mạng lới hoạt động vợt qua biên giới quốc gia của các NHTM đem lại
một lợi thế rất quan trọng khác. Đó là họ có điều kiện để am hiểu về môi trờng
pháp lý, môi trờng kinh doanh, cơ sở vật chất hạ tầng của nớc sở tại họ hoạt
động, từ đây họ có thể cung cấp thông tin đó cho các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu nớc nhà. Đa phần các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nớc bị thiếu
thông tin hoặc có thông tin nhng không đầy đủ và hoàn hảo nên dẫn đến có
quyết sách sai lầm. Vì vậy, đối với họ những thông tin mà ngân hàng cung cấp
sẽ giúp ích cho họ trong quá trình kinh doanh. Không chỉ các doanh nghiệp có
lợi mà qua đó các chi nhánh NHTM hoạt động ở nớc ngoài vừa thu đợc phí t
vấn và vừa nâng cao đợc uy tín. Khi nền kinh tế phát triển thì vai trò này sẽ đợc
đề cao hơn nữa.
1.1.2.3 Vai trò trung gian thanh toán .
Vai trò này thực hiện đợc thì phải dựa trên cơ sở là Ngân hàng làm thủ
quỹ cho xã hội. Theo đó thì các NHTM mở tài khoản tiền gửi, thực hiện quản lý
tài khoản và tiến hành thu, chi theo lệnh của khách hàng. Nếu càng có nhiều
đơn vị, cá nhân mở tài khoản ở ngân hàng thì việc thu chi sẽ càng đợc thực hiện
nhiều ngay trên tài khoản và lợng tiền mặt trong lu thông sẽ giảm. Việc giảm l-
ợng tiền mặt trong lu thông đem lại lợi ích cho nhà nớc mà ngời dân cũng đợc
hởng ích lợi đó. Mặt khác khi việc thanh toán qua ngân hàng tăng lên sẽ làm
cho tốc độ luân chuyển vốn và hàng hoá tăng lên; vốn nhàn rỗi sẽ đợc tập trung
nhiều hơn ở ngân hàng để đầu t cho nền kinh tế; tăng cờng đợc sự quản lý của
nhà nớc đối với các chủ thể kinh tế Phơng thức TTKDTM ra đời không chỉ
khắc phục đợc nhợc điểm của phơng thức thanh toán bằng tiền mặt mà còn có ý
nghĩa to lớn khác. Chính vì thế mà phơng thức thanh toán qua ngân hàng là xu
hớng phổ biến hiện nay. Nó cũng đợc coi là chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển
kinh tế, xã hội, văn minh của đất nớc. Ngời ta thấy rằng càng ở những nớc có
nền kinh tế phát triển thì tỷ trọng TTKDTM càng lớn
1.1.3 Các nghiệp vụ chủ yéu của NHTM.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.1.3.1 Các nghiệp vụ thuộc tài sản nợ và vốn.
Nghiệp vụ thuộc tài sản Nợ phản ánh nguồn vốn của ngân hàng. Từ sau
cuộc suy thoái kinh tế thế giới 1929-1930, phần lớn các NHTM trên thế giới
đều chú trọng đến việc quản lý tài sản Có. Tuy nhiên, tới năm 1960 ngời ta đã
giành sự quan tâm đến việc quản lý tài sản Nợ. Ngời ta nghiên cứu và chia bên
tài sản Nợ thành 3 nghiệp vụ nh sau:
*
Nghiệp vụ tiền gửi :
Tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn hay còn đợc gọi là tiền gửi thanh toán mà đặc
tính của nó là khách hàng có thể rút bất cứ lúc nào. Đối với loại tiền gửi này
mục đích chính của khách hàng là bảo đảm an toàn cho tài sản của họ và sử
dụng các tiện ích trên tài khoản đó. Do đó mức lãi suất tiền gửi mà ngân hàng
đa ra hầu nh không ảnh hởng đến số d và sự biến động trên tài khoản. Đây là
nguồn vốn rẻ nhất của ngân hàng vì trớc đây ngân hàng không trả lãi cho loại
tiền gửi này, ngày nay hầu hết các ngân hàng đều trả lãi, tuy nhiên đó chỉ là lãi
suất khuyến khích nên rất thấp.
Tiền gửi có kỳ hạn
Với loại này khách hàng đợc rút tiền ra sau một thời hạn nào đó mà
khách hàng đã cam kết với ngân hàng ví dụ nh 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12
tháng, 24 tháng Trớc đây, nếu khách hàng đến rút trớc thời hạn dù chỉ là một
ngày thì ngân hàng không trả lãi. Khi sự cạnh tranh giữa các ngân hàng cao, để
thu hút khách hàng thì các ngân hàng đã cho khách hàng rút trớc hạn hởng lãi
suất không kỳ hạn. Mức lãi suất là nhân tố hấp dẫn, quyết định đến lợng tiền
gửi vào ngân hàng vì mục đích của khách hàng là hởng lãi suất. Chi phí trả lãi
cao nhng nguồn vốn này ổn định, ngân hàng có thể chủ động lập kế hoạch sử
dụng vốn .
Tiền gửi tiết kiệm.
Tiền gửi tiết kiệm là tiền để dành của dân c đợc gửi vào ngân hàng nhằm
mục đích hởng lãi. Cũng giống nh tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm là loại
tiền gửi phi giao dịch. Mục đích của ngời gửi tiền là hởng lãi suất cho nên càng
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đa ra mức lãi suất cao thì ngân hàng càng có thể thu hút đợc nhiều vốn hơn. ở
Việt Nam có 3 loại tiền gửi tiết kiệm sau:
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn : về bản chất thì giống tiền gửi không
kỳ hạn tuy nhiên khách hàng không đợc hởng các dịch vụ thanh toán (trên tài
khoản loại này ) nên số d của nó ít biến động và khách hàng đợc hởng mức lãi
suất nhất định .
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng chỉ đợc rút
tiền sau một thời hạn nhất định. Cũng giống nh tiền gửi tiết kiệm, yếu tố lãi suất
sẽ quyết định đến lợng vốn huy động, lãi suất cao sẽ kích thích ngời dân tiết
kiệm tiêu dùng để gửi vào ngân hàng.
+ Tiền gửi tiết kiệm có mục đích : thờng là loại tiết kiệm trung và dài hạn
nhằm mục đích lớn nh: xây nhà ở, mua ô tô xịn Ngân hàng còn đa ra một số -
u đãi cho loại hình tiền gửi này là ngoài việc đợc hởng lãi, khách hàng còn đợc
hỗ trợ thêm tiền nếu có nhu cầu.
Xét trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thì bộ phận tiền gửi chiếm một
tỷ trọng lớn. Bộ phận này có ý nghĩa rất quan trọng vì ngoài u thế là chi phí rẻ
và nguồn vốn tơng đối ổn định thì tỉ trọng của nó còn thể hiện uy tín của ngân
hàng. Tất cả các ngân hàng đều quan tâm đến phát triển nghiệp vụ này.
*
Nghiệp vụ đi vay

Phát hành GTCG
Để thu hút đợc tối đa nguồn vốn từ hình thức này các ngân hàng thờng đa
ra nhiều loại hình đó là: phát hành theo mệnh giá; phát hành theo hình thức
chiết khấu. Trong từng loại ngân hàng còn chia nhỏ ra theo kỳ hạn trả lãi khác
nhau để phù hợp với mọi đối tợng khách hàng
Cùng với nghiệp vụ tiền gửi, nghiệp vụ này cũng thuộc nghiệp vụ huy
động vốn của ngân hàng. Khi áp dụng hình thức phát hành GTCG để huy động
vốn thì ngân hàng sẽ có ba điểm thuận lợi. Thứ nhất là ngân hàng không phải
duy trì DTBB nếu chỉ phát hành GTCG có thời hạn dới một năm. Thứ hai là
ngân hàng sẽ chủ động về khối lợng vốn huy động hơn là nhận tiền gửi. Thứ ba
là khi phát hành GTCG ngân hàng đã ấn định thời gian đáo hạn của nó cho nên
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ngân hàng cũng giữ vị thế là ngời chủ động về thời gian huy động. Thông thờng
việc phát hành GTCG là để phục vụ một mục đích đặt ra trớc đó của ngân hàng.
Nhận thấy các u điểm trên nên càng ngày các ngân hàng càng chú trọng đến
nghiệp vụ huy động vốn loại này.
Vay từ NHTW
Đây là nguồn vốn thờng xuyên nhng hết sức cần thiết đối với các
NHTM. Nguồn vốn này đảm bảo khả năng thanh toán của các NHTM khi
không vay đợc từ các nguồn khác, đôi khi nó là phao cứu hộ khi các NHTM
đang ở bên bờ vực sụp đổ. Thông qua các hình thức chiết khấu, tái chiết khấu
các GTCG, cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, cho vay có đảm bảo bằng cầm cố
thơng phiếu và các GTCG ngắn hạn khác NHTW thực hiện tái cấp vốn đối
với các NHTM. Đây là một nguồn để NHTM tạo nguồn vốn cho mình nhng
thông qua đó NHTW quản lý vĩ mô đối với các NHTM và thực hiện chính sách
tiền tệ đã đặt ra.
Vay từ các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác
Chi phí cho nguồn vốn này rất đắt, các ngân hàng chỉ vay trên thị trờng
tiền tệ liên ngân hàng khi không thể huy động từ các nguồn khác. Nguồn vốn
này không chỉ có chi phí cao mà thờng kém ổn định nên đối với loại này ngân
hàng thờng vay trong thời gian ngắn, phổ biến là vay qua đêm. Trong quá trình
hoạt động của mình thì các đều phải sử dụng nghiệp vụ này, tuy nhiên mức độ
sử dụng nhiều hay ít lại phụ thuộc vào từng ngân hàng trong từng giai đoạn cụ
thể nhng nói chung càng sử dụng ít càng tốt.
Các nguồn vốn khác của ngân hàng
Đó là đi vay từ các ngân hàng nớc ngoài, vay từ những công ty mẹ của
ngân hàng( những công ty nắm giữ ngân hàng ); phát hành hợp đồng mua lại
ở các nớc phát triển thì nghiệp vụ này mới phát sinh, còn các NHTM ở những n-
ớc đang phát triển nh Việt Nam thì hầu nh không có và nếu có cũng không đáng
kể.
*
Vốn của ngân hàng
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Cũng giống nh bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động trên thị tr-
ờng thì phải tự tạo cho mình một lợng vốn nào đó, mức vốn này đợc gọi là VTC.
Tuỳ từng ngành nghề và tuỳ từng quốc gia mà pháp luật quy định chủ doanh
nghiệp phải có hay không phải có một lợng vốn tối thiểu nào đó. Riêng với
ngành ngân hàng thì tất cả các quốc gia đều quy định phải có vốn pháp định.
Vốn pháp định là một phận của VTC vì VTC còn bao gồm cả quỹ dự trữ và vốn
coi nh tự có. Quỹ dự trữ của ngân gồm có quỹ dự trữ bổ xung vốn điều lệ và quỹ
dự trữ đặc biệt để bù đắp rủi ro. Quỹ dự trữ này đợc trích ra từ lợi nhuận sau
thuế của ngân hàng với hai mục đích: mục đích thứ nhất là đảm bảo an toàn
trong hoạt động kinh doanh vì đây chính là nguồn bù đắp khi ngân hàng thực sự
gặp rủi ro; mục đích thứ hai là làm tăng thêm nguồn VTC cho ngân hàng. Đây
là một trong số các chỉ tiêu để đánh giá uy tín của một ngân hàng. Còn vốn coi
nh tự có bao gồm lợi nhuận cha chia, các quỹ khác cha sử dụng nh quỹ khấu
hao TSCĐ, quỹ khen thởng phúc lợi, quỹ đầu t phát triển nghiệp vụ.
VTC của ngân hàng chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn
của ngân hàng nhng nó có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trớc hết nó quyết định
đến sự ra đời của một ngân hàng, tiếp nữa nó quyết định đến quy mô hoạt động
của ngân hàng, là tiếng nói góp phần nâng cao uy tín của ngân hàng trong quá
trình thu hút tiền gửi, cung cấp tiền vay cũng nh các sản phẩm dịch vụ ngân
hàng khác.
1.1.3.2 Nghiệp vụ tài sản Có
Nếu nghiệp vụ tài sản Nợ tạo nguồn vốn cho ngân hàng thì nghiệp vụ tài
sản Có là cách thức mà ngân hàng sử dụng nguồn vốn của mình. Để tạo đợc
nguồn vốn đã là khó nhng phải sử dụng và quản lý nó làm sao có hiệu quả thì
càng khó hơn. Các nhà ngân hàng đã xác định đợc nghiệp vụ tài sản Có bao
gồm các nghiệp vụ cơ bản sau:
a Nghiệp vụ ngân quỹ
Đây chính là khoản dự trữ của ngân hàng để vừa đáp ứng nhu cầu thanh
khoản, tín dụng của ngân hàng và vừa đảm bảo đợc hoạt động kinh doanh tiền
tệ có hiệu quả. Nghiệp vụ này bao gồm các loại sau:
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Tiền mặt tại quỹ: gồm tiền giấy và tiền làm loại đợc quản lý tại ngân
hàng lợng tiền mặt nhiều hay ít phụ thuộc vào quy mô hoạt động của ngân hàng
và thời gian kinh doanh. Loại này không mang lại lợi nhuận cho ngân hàng nh-
ng các ngân hàng bắt buộc phải duy trì vì nó đảm bảo nhu câu rút tiền, nhu cầu
tín dụng của khách hàng. Nếu tiền tồn quý không hợp lý sẽ mang lại tai hại cho
ngân hàng hoặc là không đáp ứng đợc khả năng thanh khoản, hoặc là dự trữ d
thừa sẽ mất đi khả năng sinh lời của đồng tiền. Vì vậy, các ngân hàng phải xác
định để mức độ duy trì tiền mặt tồn quỹ là hợp lý.
Tiền gửi tại các ngân hàng khác.
Mục đích của hoạt động này là duy trì hoạt động thanh toán giữa các
ngân hàng, giao dịch ngoại tệ, mua bán chứng khoán. Ngoài ra thì ngân hàng
gửi còn đợc hởng lãi, dù lãi suất thấp nhng với lợng tiền với lợng tiền gửi lớn
nh ngân hàng thì nó cũng tạo một khoản thu nhập và có hiệu quả hơn là để tại
quỹ.
Tiền gửi ở NHTW: gồm tiền DTBB và tiền gửi thanh toán tại NHTW.
Lợng tiền gửi ở NHTW liên tục biến động do hoạt động nhận tiền và trả tiền
(đối với riêng một ngân hàng) nhng bao giờ cũng phải giữ lớn hơn hay bằng tiền
gửi DTBB, nếu không ngân hàng thơng mại sẽ bị phạt.
Ba bộ phận chính tạo nên phần dự trữ của ngân hàng nhng mọi ngân hàng
đều phải duy trì, tuy nhiên mức độ bao nhiêu thì phụ thuộc vào tình hình hoạt
động của từng ngân hàng. Một ngân hàng hoạt động tốt là biết xác định dự trữ
hợp lý.
b Nghiệp vụ cho vay
Đây là nghiệp vụ cung ứng vốn của ngân ngân hàng trực tiếp cho các nhu
cầu sản xuất, tiêu dùng trên cơ sở thỏa mãn những điều kiện vay vốn của ngân
hàng. Hoạt động cho vay chiếm một tỷ trọng lớn nhất trong nghiệp vụ tài sản
có, nhng mức độ rủi ro của nó rất lớn. Ngày nay, các NHTM có xu hớng nâng
dần tỷ trọng hoạt động dịch vụ. Điều này, không có nghĩa các ngân hàng không
chú trọng tới hoạt động cho vay nữa mà thực chất là chỉ cho vay những dự án
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
thực sự đem lại lợi nhuận. Ngân hàng thông qua các hình thức sau để cấp tín
dụng cho nền kinh tế.
Cho vay ứng trớc: là loại hình cho vay theo hợp đồng tín dụng, trong đó
ngời đi vay đợc phép sử dụng trong hạn mức và có thời hạn nhất định.
Cho vay bằng chiết khấu thơng phiếu: là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn
trong đó ngân hàng mua những thơng phiếu cha đến hạn thanh toán của khách
hàng với số tiền bằng thơng phiếu trừ đi phần lợi tức chiết khấu và hoa hồng
phí.
Cho vay thuê mua: là hình thức tín dụng trung và dài hạn đợc thực hiện
qua việc cho thuê tài sản nh máy móc, thiết bị, các động sản và bất động sản
khác.
Cho vay vợt chi: là hình thức đặc biệt của tín dụng ứng trớc theo đó ng-
ời vay đợc phép sử dụng quá số tiền trên tài khoản tiền gửi của mình ở một hạn
mức nhất định và trong một thời gian xác định.
Tín dụng bằng chữ ký: trong hình thức này ngân hàng không trực tiếp
cho khách hàng vay nhng dùng chữ ký (uy tín) của mình để tạo điều kiện cho
khách hàng di vay vốn ở nơi khác.
Cho vay tiêu dùng: là cho vay để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân.
Loại cho vay này có rủi ro cao nên lãi suất cho vay cao.
c Nghiệp vụ đầu t
Hoạt động đầu t chủ yếu của ngân hàng là đầu t chứng khoán. Mục đích
khi ngân hàng đầu t là nhằm sinh lợi cho tài sản của mình. Thứ hai là đa dạng
hóa sản phẩm dịch vụ hay đa dạng hoá danh mục đầu t. Thứ ba là để phòng
ngừa rủi ro. Hoạt động của ngân hàng đợc xem là có mức độ rủi ro cao nhất. Vì
vậy, việc phòng ngừa rủi ro là hết sức cần thiết.
Xét về tỷ trọng trong tổng lợi nhuận thì lợi nhuận từ nghiệp vụ đầu t
mang lại chỉ đứng sau nghiệp vụ cho vay. Khi nền kinh tế càng phát triển thì thu
nhập mang lại từ nghiệp vụ này càng tăng.
1.1.3.3 Nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ ngân hàng
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ở nghiệp vụ này ngân hàng hoạt động trên ba mảng chính đó là dịch vụ
trên thị trờng chứng khoán; dịch vụ thanh toán; dịch vụ t vấn. Ngày nay, nghiệp
vụ này đợc các ngân hàng chú trọng đầu t vì nó vừa đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao của xã hội tức là thị trờng hoạt động rộng và rủi ro hoạt động thấp.
1.1.3.4 Nghiệp vụ ngoại bảng
Nghiệp vụ này không nằm trong bảng tổng kết tài sản của ngân hàng và
nó có đặc điểm là khi một nghiệp vụ ngoại bảng phát sinh thì không trực tiếp
làm biến động đến tài sản và nguồn vốn của ngân hàng. Nội dung của nghiệp vụ
ngoại bảng có thể tóm tắt ở các điểm sau:
Bán món trao tay có trách nhiệm liên đới
Tái chiết khấu ở các ngân hàng khác
Mở th tín dụng, thanh toán séc
Nghiệp vụ phái sinh
1.2 Hoạt động tài chính của NHTM
1.2.1 Hoạt động tài chính của NHTM
NHTM đợc xác định là một đơn vị kinh doanh độc lập, có t cách pháp
nhân và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Cũng giống nh
các doanh nghiệp khác hoạt động kinh doanh trên thị trờng, hệ thống ngân hàng
phải chịu sự quản lý của luật các doanh nghiệp, đợc quyền tự chủ trong kinh
doanh và tự do cạnh tranh với nhau. Tuy nhiên, nó lại khác với các doanh
nghiệp ở chỗ đối tợng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ. Mà đây lại là hàng
hoá nhạy cảm nhất trong nền kinh tế. Vì vậy, ngoài các quy định chung nh đối
doanh nghiệp, các NHTM còn phải chịu sự quản lý chặt chẽ của NHTW.
NHTW sẽ quy định tỷ lệ DTBB, khung lãi suất chỉ đạo, hệ số an toàn trong kinh
doanh, và các thể chế khác cho NHTM để đảm bảo an toàn trong hệ thống ngân
hàng. Hệ thống ngân hàng là hệ thống có mối quan hệ phức tạp nhất trong nền
kinh tế vì hoạt động nghiệp vụ của nó không chỉ liên quan đến mọi ngành nghề.
Chính vì thế mà không có luật phá sản ngân hàng. Khi một ngân hàng nào đó
gặp khó khăn thì NHTW phải đứng ra can thiệp để tránh sự đổ vỡ. Đây là sự đặc
biệt lớn của ngành ngân hàng so với các ngành nghề kinh doanh khác.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét