phí đầu tư cơ sở hạ tầng công cộng, hình thành các ngành then chốt…
Trợ giá.
Giải quyết các vấn đề xã hội: chi hoạt động bộ máy nhà nước, lực lượng công
an,quốc phòng, giáo dục, y tế, hỗ trợ thất nghiệp, ủng hộ thiên tai…
Tất cả đều chi từ nguồn NSNN có hạn. Do vậy, để đầu tư dự án phát triển kinh tế-
xã hội hay để bù đắp bội chi Nhà nước cũng cần huy động thêm nguồn tài chính từ
các chủ thể khác.
Ngoài ra, các tổ chức tín dụng cũng thường xuyên cần huy động nguồn tài chính để
cho vay, các nhà đầu tư cần vốn cho dự án mới, các hộ gia đình, cá nhân cần nguồn
tài chính để trang trải nhu cầu chi đột xuất.
Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường cũng tồn tại những chủ thể thừa vốn:
Doanh nghiệp: nguồn vốn đang thừa đó là những khoản thu nhập chưa có nhu cầu
sử dụng (ngắn hạn hoặc dài hạn như doanh thu tiêu thụ chưa tới kì thanh toán, số
tiền quỹ khấu hao cơ bản chưa dùng, lợi nhuận tái đầu tư chưa dùng ) những khoản
này đều có thể cho vay.
Các hộ gia đình, cá nhân có tiền để dành, tiền được thừa kế, mặc dù số tiền mỗi cá
nhân, hộ gia đình có được không phải lớn nhưng thành phần này lại chiếm tỉ trọng
cao trong xã hội (khoảng 70%) nên nếu tập trung lại thì sẽ trở thành một nguồn tài
chính vô cùng mạnh.
Còn có quỹ tiền tệ của các tổ chức xã hội, quỹ bảo hiểm mà chưa sử dụng cũng là
nguồn cung ứng vốn.
Các chủ thể thừa vốn không muốn để phí nguồn tài chính nhàn rỗi của mình, họ tìm
kiếm lợi nhuận thông qua hoạt động đầu tư, còn các chủ thể thiếu vốn dùng nó để
bổ sung vốn cho hoạt động SXKD và các nhu cầu đầu tư khác sao cho có hiệu quả
và tiết kiệm.
Vấn đề là làm sao để cho đầu tư gặp được tiết kiệm; phải có nơi để tạo ra sự
gặp gỡ này. Sự gặp gỡ này chính là quá trình giao lưu vốn hay nói khác hơn là cần
tạo ra một nơi để cho những nguồn vốn nhàn rỗi không có chỗ đầu tư giao lưu với
những nhà đầu tư đang cần vốn.
Ban đầu, việc vay và cho vay dựa trên sự quen biết, tín nhiệm (anh em, hàng xóm,
bạn bè…) nên phạm vi và số lượng rất hạn chế.
Khi các chủ thể gặp nhau thông qua vai trò của người trung gian là Ngân hàng thì có
sự dễ dàng hơn, việc luân chuyển vốn được nhanh chóng và đáng tin cậy hơn.
Nhưng phạm vi lựa chọn các phương án cho vay của Ngân hàng không được rộng
lớn,lãi suất không phải lúc nào cũng hấp dẫn người gửi tiền vào để có tiềm lực
mạnh, việc gửi và rút tiền gặp nhiều phiền hà, việc cho vay không phải lúc nào cũng
dễ dàng với bất kì ai…
Có thể khẳng định rằng: một nền kinh tế muốn tăng trưởng thì phải có hoạt động
đầu tư; trước khi muốn đầu tư, phải huy động vốn từ nguồn tiết kiệm; đầu tư có hiệu
quả sinh ra lợi nhuận lại làm tăng thêm nguồn tiết kiệm. Bắt nguồn từ mối quan hệ
nhân quả giữa đầu tư và tiết kiệm, một yêu cầu đặt ra là cần có nhiều hình thức huy
5
động vốn mới, nhanh chóng, linh hoạt hơn, góp phần giải quyết cân đối giữa cung
và cầu về nguồn tài chính trong xã hội.
Các công cụ huy động vốn xuất hiện dưới nhiều hình thức để đáp ứng yêu cầu đó:
Các giấy tờ ghi nợ: Nhà nước phát hành trái phiếu công trình, công trái , doanh
nghiệp phát hành thương phiếu, trái phiếu…
Các công ty cổ phần phát hành cổ phiếu để huy động vốn.
=> giấy tờ ghi nợ, cổ phiếu gọi chung là chứng khoán (CK)
Khi CK xuất hiện thì cũng xuất hiện nhu cầu mua bán, chuyển nhượng giữa các chủ
sở hữu khác nhau: người này có nhu cầu rút vốn đầu tư hoặc di chuyển vốn cần bán
thì có người khác muốn mua CK đó. Chính điều này làm xuất hiện một loại thị
trường đặc biệt để cân đối cung cầu về vốn trong nền kinh tế là “thị trường tài
chính”.
Như vậy, thị trường tài chính (TTTC) ra đời là để giải quyết mâu thuẫn giữa cung
và cầu về vốn trong nền kinh tế thông qua các công cụ tài chính đặc biệt là các loại
CK.
6
1.2. Khái niệm về thị trường tài chính:
Bắt nguồn từ mối quan hệ nhân quả giữa đầu tư và tiết kiệm: một nền kinh tế muốn
tăng trưởng thì phải có hoạt động đầu tư; trước khi muốn đầu tư, phải huy động vốn từ
nguồn tiết kiệm; đầu tư có hiệu quả sinh ra lợi nhuận lại làm tăng thêm nguồn tiết kiệm. Vì
vậy, mối quan hệ nhân quả này tuần hoàn và tạo nên sự phát triển kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, vấn đề là làm sao để cho đầu tư gặp được tiết kiệm; phải có nơi để tạo ra sự gặp
gỡ này. Đó chính là quá trình giao lưu vốn hay nói khác hơn đó là thị trường tài chính, là
nơi tạo ra cơ chế cho những nguồn vốn nhàn rỗi không có chỗ đầu tư giao lưu với những
nhà đầu tư đang cần vốn.
Như vậy, thị trường tài chính là thị trường giao dịch, mua bán, trao đổi các sản
phẩm tài chính ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để đáp ứng nhu cầu khác nhau của các chủ thể
trong nền kinh tế. Trong đó, các chủ thể thừa vốn thì tìm kiếm lợi nhuận thông qua hoạt
động đầu tư, còn các chủ thể thiếu vốn bổ sung vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và
các nhu cầu đầu tư khác. Việc hình thành quá trình giao lưu vốn giữa những chủ thể thừa
vốn và thiếu vốn đã tạo nên một thị trường với đầy đủ cơ chế như trong một nền kinh tế thị
trường. Đồng thời, do sản phẩm trên thị trường là sản phẩm tài chính, có tính nhậy cảm và
ảnh hưởng đến mọi thành phần trong nền kinh tế nên thị trường tài chính là thị trường bậc
cao. Do đó, thị trường tài chính phải là loại thị trường bậc cao, chỉ tồn tại và hoạt động
trong điều kiện của nền kinh tế thị trường.
1.3. Chức năng của thị trường tài chính:
Chức năng đầu tiên, cũng là chức năng quan trọng nhất của thị trường tài chính là
khơi thông các nguồn vốn và dẫn vốn để đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế xã hội. Để
thực hiện được chức năng này, thị trường phải tạo ra các kênh huy động vốn từ nơi thừa,
như: cá nhân, hộ gia đình, các đơn vị kinh tế, tổ chức đoàn thể xã hội, Chính phủ, … ở
trong và ngoài nước để chuyển sang các nhà đầu tư thiếu vốn, như: các đơn vị kinh tế,
Chính phủ, cá nhân, hộ gia đình, …
Chức năng thứ hai của thị trường tài chính là kích thích tiết kiệm và đầu tư. Thị
trường tạo ra sân chơi, để những người có tiền nhàn rỗi có cơ hội đầu tư như nhau và được
tự do tham gia vào thị trường để tìm kiếm những nơi đầu tư có suất sinh lợi cao nhất, tạo
thành thói quen tích lũy tiền tệ một cách thường xuyên hơn, là một nguồn đầu vào không
thể thiếu của thị trường. Nếu thị trường không kích thích được người dân tích lũy và tham
gia vào thị trường như là một kênh dẫn vốn cho nền kinh tế thì thị trường đó sẽ không thể
hoạt động tốt. Đồng thời, nhà đầu tư trên thị trường khi tìm kiếm nguồn vốn tài trợ cho các
hoạt động đầu tư phải nhận thức được việc sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất, có hiệu
suất sử dụng đồng vốn cao nhất để bảo toàn vốn, sinh lời và tích lũy. Chính vì vậy, thị
trường tài chính có chức năng nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động của toàn bộ nền
kinh tế, kích thích đổi mới, áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến để tăng hiệu quả
đầu tư, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội.
7
Chức năng thứ ba của thị trường tài chính là làm gia tăng tính thanh khoản cho các
tài sản tài chính. Tính thanh khoản là tính chất dễ dàng chuyển hóa các tài sản tài chính
thành tiền mặt và được thực hiện ở thị trường thứ cấp, là thị trường mua bán, giao dịch cổ
phiếu và các giấy tờ có giá đã phát hành trên thị trường sơ cấp. Tính thanh khoản ở thị
trường tài chính càng cao thì càng thu hút nhiều chủ thể tham gia vào thị trường và giúp
chủ sở hữu các tài sản tài chính dễ dàng chuyển đổi danh mục đầu tư theo yêu cầu. Do đó,
mỗi thị trường khác nhau có tính thanh khoản khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển
các định chế tài chính của thị trường ấy. Nếu các cơ chế của thị trường thông thoáng sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho các công cụ tài chính lưu thông thông suốt. Ngoài ra, thị trường tài
chính còn có chức năng định giá tài sản tài chính, phân phối vốn trên thị trường theo tín
hiệu của thị trường.
Tùy thuộc vào các chức năng khác nhau của thị trường cũng như các tiêu chí phân loại
khác nhau, thị trường tài chính cũng có nhiều cách phân loại khác nhau. Nhưng tựu trung
lại, thị trường tài chính thường có ba cách phân loại cơ bản: theo thời hạn, tính chất luân
chuyển vốn và theo cơ cấu của thị trường.
1.4. Phân loại thị trường tài chính:
8
Căn cứ theo thời hạn luân chuyển vốn, thị trường tài chính được phân thành: thị
trường tiền tệ, thị trường hối đoái và thị trường chứng khoán.
- Thị trường tiền tệ là thị trường giao dịch, mua bán các chứng từ có giá
ngắn hạn. Các chứng từ có giá ngắn hạn như: tín phiếu Kho bạc, khoản vay ngắn hạn giữa
các Ngân hàng, thỏa thuận mua lại, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, … Đây là thị trường
nhằm thỏa mãn những nhu cầu vốn trong ngắn hạn. Căn cứ theo mục đích này của thị
trường mà không cần quan tâm đến thời hạn của các chứng từ có giá, khái niệm trên được
hiểu theo nghĩa của thị trường mở thì thị trường tiền tệ là thị trường giao dịch, mua bán
ngắn hạn các giấy tờ có giá.
- Thị trường hối đoái là thị trường giao dịch, mua bán, trao đổi ngoại tệ và
các phương tiện thanh toán quốc tế. Thị trường ngoại hối là một cơ chế mà nhờ đó giá trị
tương đối của các đồng tiền quốc gia được xác lập. Đặc điểm của thị trường ngoại hối là
tiền được đổi lấy tiền, đây là thị trường thực sự và tất yếu mang tính quốc tế; cứ khi nào
mà dân chúng ở những khu vực đồng tiền khác nhau còn kinh doanh với nhau thì các giao
9
dịch ngoại hối còn rất cần thiết. Ngày nay, thị trường hối đoái mang tính toàn cầu nhờ sự
phát triển của công nghệ thông tin. Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, các doanh nghiệp
trong nước đều phải tham gia các thị trường hối đoái để mua - bán, vay - cho vay ngoại tệ.
Các nghiệp vụ trên thị trường hối đoái phần lớn mang tính chất ngắn hạn (không quá một
năm) nên thị trường này được xem là một bộ phận của thị trường tiền tệ. Khi đó, thị trường
tài chính chỉ bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn.
- Thị trường chứng khoán là thị trường giao dịch, mua bán các chứng từ có
giá trung hạn và dài hạn. Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng nhất của thị
trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát
hành; qua đó, thực hiện chức năng của thị trường tài chính là cung ứng nguồn vốn trung và
dài hạn cho nền kinh tế. Sản phẩm tài chính trên thị trường chứng khoán là các loại trái
phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như: chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phát sinh
- hợp đồng tương lai, quyền chọn, quyền mua cổ phiếu, chứng quyền. Thị trường chứng
khoán tập trung vốn cho đầu tư và phát triển kinh tế. Do đó, nó có tác động rất lớn đến môi
trường đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Căn cứ vào cơ cấu của thị trường, thị trường tài chính được phân thành thị trường
sơ cấp và thị trường thứ cấp.
- Thị trường sơ cấp là thị trường phát hành lần đầu các chứng từ có giá để
huy động và tập trung vốn. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà
phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành. Thị trường sơ
cấp có đặc điểm là nơi duy nhất mà các chứng khoán đem lại vốn cho người phát hành, tạo
ra hàng hóa cho thị trường giao dịch và làm tăng vốn đầu tư cho toàn bộ nền kinh tế.
Những người bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp thường là Kho bạc, Ngân hàng Nhà
nước, Công ty phát hành, Tập đoàn bảo lãnh phát hành, …Thị trường sơ cấp thường diễn
ra trong một thời gian nhất định.
- Thị trường thứ cấp là thị trường mua bán trao đổi các chứng từ có giá đã
phát hành lần đầu. Trên thị trường này, các nhà đầu tư chuyển nhượng quyền mua bán
chứng khoán và điều đó làm cho chứng khoán đã phát hành có tính thanh khoản. Khoản
tiền thu được từ việc bán chứng khoán thuộc về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh
chứng khoán chứ không thuộc về nhà phát hành nên luồng tiền chỉ vận chuyển giữa những
nhà đầu tư chứng khoán trên thị trường. Thị trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của
thị trường chứng khoán, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp. Giao dịch trên thị trường
thứ cấp phản ánh nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá giao dịch chứng khoán do cung - cầu
trên thị trường quyết định.
Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thị
trường sơ cấp là cơ sở và là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của thị trường thứ cấp;
vì đó là nơi cung cấp hàng hóa chứng khoán lưu thông trên thị trường thứ cấp. Ngược lại,
thị trường thứ cấp là động lực, là điều kiện cho sự phát triển của thị trường sơ cấp; vì nếu
không có thị trường thứ cấp để lưu hành, mua bán, trao đổi tạo ra tính thanh khoản cho
chứng khoán thì rất khó để phát hành và thu hút nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp. Việc
phân biệt thị trường sơ cấp và thứ cấp chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết. Trên thực tế, tổ chức
thị trường không phân biệt đâu là thị trường sơ cấp, đâu là thị trường thứ cấp. Vì tại một thị
trường có thể cùng diễn ra đồng thời hoạt động mua bán chứng khoán mới phát hành và
chứng khoán mua bán lại. Điều cần quan tâm là phải coi trọng thị trường sơ cấp vì đây là
thị trường tạo vốn và có cơ chế giám sát chặt chẽ thị trường thứ cấp để bảo vệ thị trường
tài chính ổn định.
10
Căn cứ vào tính chất luân chuyển vốn, thị trường tài chính được phân thành thị
trường công cụ nợ và thị trường công cụ vốn.
- Thị trường công cụ nợ là thị trường phát hành, mua bán các chứng khoán
nợ. Thực chất các công cụ nợ (trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, …) là các thỏa thuận có tính
hợp đồng. Trong đó, người vay vốn thanh toán cho người giữ công cụ một khoản tiền cố
định trong những khoản thời gian nhất định (thanh toán lãi) cho tới kỳ hạn cuối cùng thì
thanh toán giá trị gốc. Trên cơ sở kỳ hạn thanh toán, công cụ nợ được chia làm ba loại khác
nhau:
- Công cụ nợ ngắn hạn.
- Công cụ nợ trung hạn.
- Công cụ nợ dài hạn.
Quan hệ vay mượn dựa trên công cụ nợ thường ấn định trước thời hạn và lãi suất cố định.
Người sở hữu công cụ nợ không có quyền biểu quyết trong quản trị điều hành của bên vay.
- Thị trường công cụ vốn là thị trường phát hành, mua bán các chứng khoán
vốn. Vốn được huy động trên thị trường bằng việc bán cổ phần, chứng chỉ quỹ đầu tư, …
Người nắm giữ cổ phiếu gọi là cổ đông, họ góp vốn vào các doanh nghiệp cổ phần trên cơ
sở gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được chia cổ tức dựa
trên kết quả kinh doanh theo số lượng cổ phần mà họ nắm giữ. Chính vì vậy mà giá trị cổ
tức không ổn định như người giữ công cụ nợ nhưng cổ tức có thể cao hoặc thấp hơn lãi trái
phiếu, vì nó tùy thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng họ có quyền biểu
quyết trong quản trị điều hành doanh nghiệp vì họ là chủ sở hữu. Người giữ chứng khoán
vốn có nhiều rủi ro hơn người giữ chứng khoán nợ trong trường hợp doanh nghiệp bị phá
sản. Người giữ chứng khoán nợ được ưu tiên thanh toán nợ trước.
Ngoài ra, trong cách phân loại này, còn có thị trường công cụ phái sinh. Đây là thị trường
phát hành và mua bán các chứng khoán phát sinh, như: chứng quyền, quyền chọn, hợp
đồng tương lai, …
Ngày nay, một thị trường tài chính không nhất thiết phải có không gian vật lý. Vì
vậy, thị trường tài chính còn được phân theo thể thức sau:
- Thị trường thô sơ và thị trường vi tính hóa.
- Thị trường thường trực và thị trường huy động.
- Thị trường chứng khoán đã đăng ký và thị trường lưu lượng chứng khoán.
Mỗi cách phân loại thị trường tùy thuộc vào tiêu chí mà chúng ta muốn hướng đến.
Từ những cơ sở lý luận nêu trên, thị trường tài chính tại Việt Nam cũng đã được hình thành
và phát triển. Nhằm đánh giá thực trạng của thị trường tài chính Việt Nam, tiểu luận này
chỉ tập trung phân tích trên ba thị trường trong phân loại theo thời hạn luân chuyển vốn. Đó
là thị trường tiền tệ, thị trường hối đoái và thị trường chứng khoán.
1.5.Vai trò của thị trường tài chính.
Vai trò đầu tiên : và cũng là quan trọng nhất của thị trường tài chính là kênh
dẫn vốn từ người tiết kiệm đến người kinh doanh, giúp cho việc chuyển vốn từ
người không có cơ hội đầu tư sinh lời đến những người có cơ hội đầu tư sinh lời.
Để thực hiện được vai trò này, thị trường phải tạo ra các kênh huy động vốn từ nơi
thừa, như: cá nhân, hộ gia đình, các đơn vị kinh tế, tổ chức đoàn thể xã hội, Chính
11
phủ, … ở trong và ngoài nước để chuyển sang các nhà đầu tư thiếu vốn, như: các
đơn vị kinh tế, Chính phủ, cá nhân, hộ gia đình… bằng hình thức tài trợ trực tiếp
hoặc tài trợ gián tiếp:
Tài trợ trực tiếp:
Người cần vốn phát hành các loại CK lần đầu ( CK khởi thủy) để huy
động nguồn vốn nhàn rỗi của người có vốn nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động của
mình. Ở đây, quan hệ giữa người có vốn và người cần vốn không phải qua bất kì
trung gian nào, nguồn tài chính vận động thẳng từ người thừa vốn đến người thiếu
vốn trong khi CK vận động theo chiều ngược lại. Do đó mà vốn được lưu chuyển
nhanh chóng hơn nhiều so với thông qua các tổ chức tài chính trung gian, đáp ứng
kịp thời nhu cầu vốn của các chủ thể.
Tài trợ gián tiếp:
Các trung gian tài chính phát hành CK thứ cấp để huy động các nguồn tài chính tạm
thời nhàn rỗi của những người có vốn, sau đó mới dùng số tiền này mua lại CK khởi
thủy của những người thiếu vốn. Ở đây, nguồn tài chính không vận động thẳng từ
người thừa vốn sang người thiếu vốn mà phải qua các trung gian nhất định.
Vai trò thứ hai :Thị trường tài chính thúc đẩy nâng cao việc sử dụng vốn có
hiệu quả hơn, không chỉ đối với người có tiền đầu tư mà còn cả với người vay tiền
để đầu tư.
Người cho vay sẽ có lãi thông qua lãi suất cho vay. Người đi vay vốn phải
tính toán sử dụng vốn vay đó hiệu quả nhất do họ phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho
người cho vay đồng thời phải tạo thu nhập và tích lũy cho chính bản thân mình, bên
cạnh đó người cho vay cũng phải cân nhắc, lựa chọn dự án hoạt động hiệu quả cao,
an toàn, ít rủi ro với khả năng sinh lãi cao nhất trước khi đầu tư vào đó. Chính cái
sân chơi với đích đén là đầu tư và tiết kiệm để sinh lời và tích lũy mà TTTC tạo ra,
đã kích thích các nhà đầu tư tích cực tính toán trong kinh doanh vì mục tiêu cuối
cùng là lợi nhuận.
Với sự linh hoạt của thị trường tài chính, người có tiền nhàn rỗi có nhiều cơ
hội để lựa chọn hình thức và thời điểm đầu tư thích hợp hơn, như: dễ dàng bán các
CK đã mua để rút vốn và thực hiện đầu tư vào các CK khác, tức là, có thể lưu
chuyển vốn từ nơi kinh doanh kém hiệu quả sang nơi kinh doanh có hiệu quả, tạo ra
sự luân chuyển vốn một cách linh hoạt trong nền kinh tế.
Vai trò thứ ba:
Thị trường tài chính được hình thành tùy thuộc vào điều kiện chính trị - kinh tế - xã
hội của mỗi nước nên có những đặc thù riêng ở thị trường của mỗi nước. Tuy nhiên,
ngày nay với tốc độ tự do hóa toàn cầu, không một thị trường nào có thể phát triển
riêng lẻ mà phải có mối liên hệ lẫn nhau. Điều đó được thể hiện bằng việc mức độ
tự do hóa thị trường tài chính trong nước và mức độ hội nhập vào nền kinh tế thế
12
giới. Vì thế mà hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới đều tiến hành cải cách tài
chính tiền tệ theo xu hướng tự do hóa tài chính. Việc hình thành và phát triển thị
trường tài chính của mỗi quốc gia sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho quá trình hội
nhập của mỗi quốc gia, mở ra khả năng to lớn cho sự hợp tác và phát triển. TTTC sẽ
tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư mua, bán CK mà không cần phải qua các
thủ tục phức tạp và không cần số vốn lớn như các hình thức đầu tư trực tiếp. Như
vậy TTTC bổ sung thêm hình thức đầu tư của nước ngoài vào trong nước, tận dụng
được nguồn vốn của nước ngoài, cung cấp cho sự phát triển kinh tế xã hội trong
nước.
Vai trò thứ tư.
TTTC đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách tài chính –
tiền tệ của Nhà nước trong việc điều hoà các hoạt động kinh tế- xã hội.
Bằng việc sử dụng các công cụ của TTTC cùng với cơ chế hoạt động của thị
trường, Nhà nước có thể thực thi có hiệu quả các chính sách tài chính và tiền tệ như:
Thông qua thực hiện chính sách thị trường mở bằng việc mua, bán chứng
khoán của Chính phủ, thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu của các
NHTM, Nhà nước có thể thực hiện việc điều hành lưu thông tiền tệ.
TTTC là nơi Nhà Nước tiến hành vay nợ dân chúng một cách dễ dàng nhất. Điều
này sẽ giúp Nhà nước giải quyết bội chi NSNN, mà không phải phát hành tiền, từ
đó ngăn chặn lạm phát, kiềm chế lạm phát giúp thực hiện cả chính sách tài chính và
tiền tệ.
13
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét