trị chứng khoán của các nớc bị khủng hoảng đợc thể hiện trên Bảng 1 đến
Bảng 4 .
Bảng 1 : Mức độ mất giá của các đồng tiền ASEAN từ tháng 4 năm 1997 đến
3 năm 1998
Đơn vị tính : %- Thời điểm gốc là đầu tháng 4/97
Nguồn : Asia Week March 6 -1998
Đầu tháng Malaysia
Ringgit
Indonesia
Rupiah
Singapore
Dollar
Philipine
Peso
Thailand
Bath
4/97
5
6
7
8
9
10
11
12
1/98
2
3
0
-1
-2
-3
-7
-15
-29
-26
-30
-37
-45
-32
0
-1
-2
-2
-9
-19
-30
-36
-39
-58
-85
-74
0
0
0
0
-2
-5
-7
-9
-11
-15
-17
-13
0
0
+3
+3
-9
-14
-24
-25
-25
-35
-40
-35
0
0
+3
+3
-19
-23
-27
-35
-37
-44
-53
-42
Bảng 2 : Tỷ giá các đồng tiền ASEAN trớc khi bị khủng hoảng so với USD
Thời điểm đầu tháng 4/97
Nguồn : Tin tham khảo hàng ngày
Malaysia
Ringgit
Indonesia
Rupiah
Singapore
Dollar
Philippines
Peso
Thailand
Baht
2,52 2415 1,43 26,2 25,5
5
Bảng 3 : Chỉ số chứng khoán các nớc trớc khi bị khủng hoảng
Thời điểm đầu tháng 2 năm 97
Nguồn : Tin tham khảo hàng ngày
Bangkok
SET
Manila
Composite
Jakarta
Composite
Kuala Lumpur
Composite
Singapore
ST Indl
710,45 3295,45 638,806 1260,20 2178,27
Bảng 4 : Mức độ sụt giảm của chỉ số chứng khoán trên thị trờng các nớc
ASEAN
Đầu
tháng
Bangkok
SET
Manila
Composite
Jakarta
Composite
Kuala
Lumpur
Composite
Singapore
ST Indl
2/97
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
1/98
2
3
0
-8
-5
-20
-30
-20
-13
-40
-40
-47
-49
-55
-39
-30
0
-4
-10
-22
-18
-19
-21
-29
-32
-40
-45
-49
-40
-35
0
0
-8
-4
0
+5
+3
-30
-25
-29
-40
-45
-25
-29
0
-1
-6
-7
-7
-11
-14
-20
-34
-35
-45
-55
-60
-42
0
0
-7
-10
-10
-10
-12
-15
-14
-29
-23
-30
-43
-31
Nguồn : ASIA Week March 6,1998
6
Nh vậy rõ ràng theo nh số liệu bảng trên thì luận điểm cho rằng sự phá
giá của đồng tiền các nớc này nh là một phơng thức trả lại giá trị đích thực cho
chúng nhằm tạo dựng lại niềm tin vào các điều kiện kinh tế vĩ mô của nền kinh
tế các nớc, đã hoàn toàn trở nên thiếu sức thuyết phục. Đồng tiền các nớc đã
không điều chỉnh để mất giá từ 20-30% nh IMF đã cảnh báo vào năm 1996 mà
hơn thế, mức độ mất giá đã lên tới 45-85%. Do đó những tác động của cuộc
khủng hoảng đến bản thân các nớc là hết sức to lớn và thể hiện trên nhiều chỉ
tiêu khác nhau.
II. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng.
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á năm 1997 có nhiều nguyên
nhân hết sức cơ bản và có liên quan mật thiết với nhau. Hội nghị Bộ trởng tài
chính của các nớc thành viên ASEAN vào ngày 2-12 tại Kulalampur đã chỉ ra
ba nguyên nhân cơ bản sau :
1/ Sự mất cân đối vĩ mô gắn liền với thiếu hụt lớn về thanh toán và sự
giảm sút đáng kể và tăng trởng kinh tế và xuất khẩu.
2/ Sự lệ thuộc nặng nề vào các khoản nợ ngắn hạn bên ngoài và cùng
với sự tăng nhanh tín dụng và các khoản vay không hiệu quả trong công
nghiệp ngân hàng đã làm suy yếu năng lực hoạt động của hệ thống ngân hàng
tài chính.
3/ Nhiều nguồn vốn lớn không công khai đã giữ vai trò chi phối các thị
trờng tiền tệ và gây sức ép với thị trờng khi quy mô của thị trờng lại nhỏ.
Diễn giải các nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở
châu á bao gồm các điểm cơ bản sau :
Thứ nhất : Nền kinh tế phát triển hớng ngoại quá lệ thuộc vào nớc
ngoài.
Sau những năm 70 các nớc bị khủng hoảng đã thực hiện chính sách công
nghiệp hoá hớng về xuất khẩu. Bản chất của chính sách này là đẩy mạnh quá
trình xuất khẩu để thu ngoại tệ. Trên thực tế chiến lợc phát triển kinh tế theo
7
chính sách này đã tỏ ra thành công trong suốt thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 ,
giúp cho các nớc này duy trì đợc tốc độ tăng trởng cao. Song do quá đề cao
chiến lợc phát triển hớng về xuất khẩu nên nền kinh tế các nớc đã lệ thuộc rất
nhiều vào xuất khẩu . Chẳng hạn ở Malaysia kim ngạch xuất nhập khẩu chiếm
tới 90% GDP . Trong khi đó các nớc này lại tập trung quá mức vào một số mặt
hàng chủ chốt nh điện tử , may mặc làm cơ cấu các mặt hàng sản xuất nghèo
nàn, mất cân đối. Bình quân từ năm 1994 , 1995 và đầu năm 1996 khoảng 70%
kim ngạch xuất khẩu của Singapore là hàng điện tử chiếm gần 50% GDP, đối
với Malaysia tỷ lệ này là 50% GDP và Hàn Quốc là 33,3% GDP, Thái lan
21,2% GDP và Philipin là 43,5% GDP. Trong bối cảnh ngày càng có nhiều nớc
cũng tập trung vào các mặt hàng này dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng lớn , thị
trờng có xu hớng bão hoà . Đặc biệt phải kể đến Trung quốc , sau những năm
80 Trung quốc tiến hành giảm giá NDT . Trong vòng 10 năm từ năm 1980 trở
lại đây Trung quốc đã 4 lần giảm giá NDT , so với USD mức mất giá lên tới
212,6% trong vòng 6 năm ( từ 1981-1987) vì vậy hàng hoá xuất khẩu của
Trung quốc tăng nhanh và cạnh tranh mạnh mẽ với hàng hoá của Thailand và
các nớc ASEAN do giá rẻ . Năm 1996 xuất khẩu của Trung quốc đã đạt tới
150 tỷ USD gần bằng tổng giá trị xuất khẩu của cả 4 nớc Malaysia. Thailand,
Indonexia. Philipine cộng lại. Đầu năm 1997 xuất khẩu của Trung Quốc tăng
25% trong khi đó xu thế đối với các nớc ASEAN lại giảm. Nhịp độ tăng xuất
khẩu của cả khu vực ASEAN đã giảm từ 20% năm 1995 xuống còn cha đầy
10% năm 1996, hầu hết các nớc phải gánh chịu những tổn thất to lớn khi tổng
cầu đối với các sản phẩm điện tử giảm mạnh , tổng thu nhập tính theo USD từ
xuất khẩu đồ điện tử chỉ tính từ 12/1995 đến tháng 7/1996 giảm 10% trong đó
Hàn quốc giảm 22,5%, Singapo giảm 6,5%, đài loan giảm 13%
2
. Xuất khẩu
giảm dẫn tới thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai tại các nớc này ngày càng
lớn . Khoản thâm hụt này năm 96 của cả Malaysia và Thái lan đều đạt mức
13,5 tỷ USD tơng ứng chiếm 5,5% và 7,9% so với GDP , đối với Indonesia vào
khoảng 8,7 tỷ USD chiếm 3,4% GDP .
8
Thứ hai : Vay nợ nớc ngoài đặc biệt là nợ ngắn hạn của các doanh
nghiệp quá cao và đầu t bất hợp lý (chủ yếu vào lĩnh vực bất động sản) của các
nớc Đông Nam á : Do cán cân các nớc này bị thâm hụt nên gánh nợ nớc ngoài
tăng vọt. Mức nợ này của các công ty Thái lan là 60 tỷ USD, của các công ty
Indonesia là 130 tỷ USD. Xem xét riêng ở Thái lan cho thấy năm 1993 nợ quá
hạn đã lên tới 40% GDP, năm 1994 con số này là 45% GDP, năm 95 chiếm
50% GDP đến năm 1996 mức nợ quá hạn là 52% GDP. Vay nợ nớc ngoài đã
tăng mạnh ở các nớc ASEAN trong những năm gần đây . Năm 1997 nợ nớc
ngoài của Indonesia bằng 188,7 % GDP, Malaysia là 88,9% GDP, Philipine
bằng 79,7% GDP và Thái lan là 97,1% GDP. Số nợ phải trả của các nớc đã vợt
quá 10% GDP .
Bên cạnh đó, điều nguy hiểm hơn là Chính phủ không kiểm soát đợc nợ
của các Ngân hàng và các doanh nghiệp. Nợ nớc ngoài bao nhiêu chính phủ
không nắm rõ. Thêm vào đó, chính phủ lại không xây dựng đợc khuôn khổ
pháp luật về năng lực giám sát trong quá trình tự do hoá tài chính. Trong cơ
chế quản lí bảo thủ và yếu kém nh vậy các doanh nghiệp sản xuất đua nhau
vay nợ một cách liều lĩnh, số nợ vợt quá tổng số vốn của doanh nghiệp từ
200% đến 400% .
Mặt khác các khoản vay nớc ngoài với lãi suất thấp lại đợc đầu t cho vay
với lãi suất cao ở hai khu vực không sinh lời trong ngắn hạn là đầu t bất động
sản và chứng khoán. Do việc đầu t quá mức vào bất động sản đã khiến cho thị
trờng này mang tính chất của một thị trờng bong bóng . Các ngân hàng và
tổ chức tài chính xuất phát từ sự tin tởng vào chế độ tỷ giá cố định đã không
dùng số ngoại tệ đợc vay để tài trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu mà không
ngừng đầu t và bất động sản và chứng khoán. Kết quả là khi thị trờng bất động
sản mất giá các khoản vốn đầu t này đã trở thành những khoản nợ khó đòi
hoặc không thể đòi đợc. Vì vậy bản chất của cuộc khủng hoảng phần nào là
một cuộc khủng hoảng nợ do vay vốn không đợc kiểm soát và đầu t thiếu
hiệu quả .
9
Thứ ba : Duy trì tỷ giá hối đoái cố định một cách cứng nhắc theo USD
của các nớc có nền kinh tế có dấu hiệu chững lại hoặc đi xuống, trong khi nền
kinh tế của Mỹ đang phát triển đã khiến cho các nớc này thay vì để đồng tiền
của mình sụt giảm theo đúng giá trị của nó lại phải tiêu tốn hàng chục tỷ USD
để cố gắng duy trì mức cân bằng giả tạo tới mức không thể kiềm giữ đợc nữa.
Đặc biệt là Thái lan, việc 13 năm liền Chính phủ Thái lan duy trì tỷ giá cố định
giữa đồng Baht và USD ( khoảng 25 Baht/1USD) là hết sức phi kinh tế, bởi
trong khoảng thời gian này, các quá trình kinh tế thế giới và khu vực diễn ra
rất mạnh mẽ, đồng đôla Mỹ ngày càng mạnh lên, đồng Baht yếu dần, cho đến
trớc thời điểm xảy ra khủng hoảng, đồng Baht đã giảm xuống còn 30,27
Baht/1USD. Lợi dụng điều này, các nhà đầu t đã tạo ra mức bán khổng lồ hàng
chục tỷ Baht để mua vài tỷ USD. Sức mạnh theo kiểu bán khống đã nâng cầu
USD lên 100 lần so với bình thờng và đẩy tỷ giá vợt xa tỷ giá thực. Kết quả
đồng Baht bị bẻ gãy.
Thứ t : Hệ thống ngân hàng tài chính yếu kém, công tác quản lý ngoại
hối lỏng lẻo : Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ ở cả Đông Nam á, Hàn quốc
và Nhật đã dẫn đến một số lợng nợ lòng vòng khổng lồ mà không kịp phát
hiện kịp thời. Các nớc có thị trờng tiền tệ khủng hoảng đều có mức nhập siêu
quá lớn, trong khi tỷ lệ dữ trữ ngoại tệ trên nợ nớc ngoài là quá thấp. Trong
năm 1996, tỷ lệ này của Hàn quốc là 31%, Inđonesia chỉ khoảng 12% và Thái
lan là 43,1%
Bảng 8 : Dự trữ ngoại tệ của các nớc ASEAN .
dự trữ ngoại tệ các nớc ASEAN
Năm Indonexia Malaysia Philippines Xingapore Thailan
Tháng 1
Tháng 2
Tháng 3
Tháng 4
Tháng 5
19,83
19,86
19,87
20,38
20,99
28,40
28,70
29,10
28,30
27,70
11,00
11,79
11,83
11,56
11,42
77,45
77,36
78,82
78,99
80,54
38,20
37,20
37,10
36,30
32,20
10
Tháng 6
Tháng 7
Tháng 8
21,08
21,67
20,38
28,00
23,30
21,10
-
9,60
-
81,85
79,51
78,05
31,40
30,40
25,90
Nguồn : Viện Phatra. Thái lan , tháng 9/1997
Cuối cùng chính sách tỷ giá cố định cứng nhắc tại các nớc này đặc biệt mâu
thuẫn với cơ chế tự do di chuyển vốn trong nền kinh tế các nớc từ đó làm hạn
chế và sai lệch khả năng kiểm soát các dòng vốn của Chính phủ .
***Thứ t : Hệ thống ngân hàng - tài chính yếu kém, công tác quản lí ngoại
hối lỏng lẻo .
Nhìn chung hệ thống ngân hàng - tài chính tại các nớc bị khủng hoảng
cha đáp ứng đợc yêu cầu của nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao . Trong một
thời gian dài sự yếu kém của hệ thống ngân hàng tài chính tại các nớc này đợc
che dậy bởi những thành tựu kinh tế của các nớc dẫn đến các thông tin phản
ánh bị lệch lạc , méo mó. Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng do nhiều
nguyên nhân đem lại song theo chúng tôi có thể do một số nguyên nhân chính
nh :
Thứ nhất : Chính phủ các nớc có sự can thiệp ( mức độ khác nhau ) vào hoạt
động kinh doanh của các ngân hàng và các công ty tài chính nhằm hớng các
hoạt động ngân hàng vào hỗ trợ cho chính sách phát triển kinh tế . Điều này
dẫn đến việc quản lí tín dụng lỏng lẻo và mở rộng đầu t quá mức khiến cho
hiệu quả kinh tế thấp.
Hai là : Bản thân các ngân hàng chậm trễ trong việc đổi mới hoạt động và bảo
thủ trong việc hiện đại hoá các hoạt động nghiệp vụ của mình và phụ thuộc rất
lớn vào sự trợ giúp của chính phủ .
Sự yếu kém trong hoạt động của hệ thống ngân hàng - tài chính thể
hiện trớc hết trong việc quản lí và cấp tín dụng trong nớc đợc coi là kém
hiệu quả và không chặt chẽ . Trên cơ sở của đà phát triển kinh tế đã tạo dựng
11
tốc độ mở rộng tín dụng đã tăng nhanh , vợt ra khỏi tầm kiểm soát. Tại các nớc
này trong những năm gần đây tốc độ cho vay đã vợt quá tốc độ tăng tiền gửi ở
các ngân hàng thơng mại. Các ngân hàng tại các nớc này đã chi và đầu t mà
không tính đến khả năng cạnh tranh với nớc ngoài, ngân hàng thơng mại trong
nớc cho vay một cách ồ ạt không cần giới hạn bằng hình thức quan hệ tín chấp
thay cho quan hệ thế chấp tài sản .
Bên cạnh đó việc phân bổ vốn còn bị chi phối nhiều bởi yếu tố chính
trị . Trong khi đó lợng vốn tín dụng khổng lồ này lại đợc chủ yếu đầu t
vào các lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn song chu kì vốn lại chậm mà điển hình là
lĩnh vực bất động sản và đầu t chứng khoán . Tại Malaysia tính từ cuối
năm 1992 đến tháng 12 năm 1996 tổng các khoản tín dụng dành cho khu
vực bất động sản và cổ phiếu tăng 2 lần , từ 34,24 tỷ Ringgit lên 68,32 tỷ
Ringgit trong khi tín dụng dành cho khu vực chế tạo chỉ tăng 88%. Tại
Indonexia tình trạng cho vay đầu cơ bất động sản cũng diễn ra mạnh mẽ ,
chiếm tới 25% tổng tín dụng. ở Thái lan thực trạng đầu t cũng không lấy
gì làm sáng sủa. Vốn vay qua hệ thống ngân hàng thái lan đợc tập trung
phần lớn vào lĩnh vực bất động sản và đầu t tài chính(Bảng dới )***
Bảng 9 : Việc sử dụng các khoản vay mợn qua các ngân hàng Thái lan ( giá trị
ròng )
Đơn vị : 100 tỷ Bath.
Các ngành 1993 1994 1995
Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ
Thực phẩm
Luyện kim
Hoá chất
Sx đồ dùng gia đình
Dệt
SXVL xây dựng
Sx máy móc
60,0
53,9
47,2
52,1
32,5
24,5
24,0
7,2
6,4
5,6
6,1
3,8
2,9
2,8
51,8
62,6
81,3
92,6
44,4
62,2
81,5
3,3
3,9
5,1
5,8
2,8
3,9
5,1
55,0
123,3
125,3
56,3
54,8
78,8
18,6
4,5
10,1
10,3
4,6
4,5
6,5
1,5
12
Dầu khí
Xây dựng
Thơng mại
Đầu t chứng khoán
Khai thác mỏ
Dịch vụ
Bất động sản
Những ngành khác
2,0
22,9
147,9
66,4
0,7
55,3
116,4
140,4
0,2
2,7
17,5
7,8
0,1
6,5
13,7
16,6
47,8
38,4
268,9
263,5
-3,5
83,3
160,3
254,3
3,0
2,4
16,9
16,6
-0,2
5,2
10,1
16,0
36,5
45,9
153,6
226,1
3,4
-16,4
115,6
142,3
3,0
3,8
17,6
18,5
0,3
-1,3
9,5
11,7
Tổng cộng 847,0 100,0 1589,5 1218,9 100,0
Nguồn : Nền kinh tế TháI lan đối mặt với điều chỉnh cơ cấu - Nhóm nghiên
cứu kinh tế Châu á FUMYUKI-TESTUJI SANO , Viện Nomura.
Điều nguy hiểm hơn là các khoản tín dụng trên do nhiều lí do đã không đ-
ợc bảo đảm. Chính vì vậy khi nền kinh tế bị đình đốn, xuất khẩu giảm sút làm
cho các doanh nghiệp vay vốn không có khả năng hoàn trả đã đa các tổ chức
ngân hàng đến bờ vực của sự phá sản, gây lên các cú sốc trong hệ thống tài
chính ngân hàng và và khởi đầu cho sự khủng hoảng.
Thêm vào đó, chính sách quản lí nợ của hệ thống ngân hàng các nớc bị
khủng hoảng cha đợc coi trọng đúng mức. Trong khi thị trờng tài chính tại các
nớc này có mức độ tự do hoá mạnh, các luồng vốn đợc di chuyển dễ dàng thì
cơ chế quản lí, giám sát của NHNN đối với các NHTM và của NHTM đối với
các doanh nghiệp lại lỏng lẻo và không kiểm soát dẫn đến tình trạng vạy nợ n-
ớc ngoài tràn lan. Tại hầu hết các nớc bị khủng hoảng đều duy trì chính sách
lãi suất trong nớc cao hơn nhiều so với lãi suất bên ngoài nên càng khuyến
khích hàng loạt các công ty vay nợ từ nớc ngoài để hởng chi phí vốn thấp.
Chẳng hạn, tại Thái lan 9/10 công ty do Viện Pharta Thankit thống kê đã vay
nợ tại nớc ngoài với lãi suất là 8,5% năm thấp hơn rất nhiều so với lãi suất
trong nớc là 13,5% / năm.
13
Đồng thời hệ thống ngân hàng tại các nớc này đã không điều chỉnh hợp lí
tỷ lệ vay nợ ngắn hạn và dài hạn. Khoản vay ngắn hạn ngày càng gia tăng. Chỉ
tính riêng ở Thái lan đã tăng gần 42% trong vòng 2 năm từ 29,3 tỷ USD năm
1994 lên đến 41,5 tỷ USD năm 1996. Còn đối với Indonesia theo ớc tính số nợ
nớc ngoài ngắn hạn chiếm 34,3 tỷ USD trong tổng số 120,5 tỷ vay nợ nớc
ngoài. Trong khi đó các nớc đều duy trì tỷ giá cố định theo USD vì vậy khi nền
kinh tế các nớc bị lâm vào tình trạng sa sút về xuất khẩu , tăng trởng chậm kéo
theo tình trạng thiếu ngoại tệ để thanh toán nợ nớc ngoài đã đến hạn. Tình
hình đó dẫn đến sức ép về phá giá đồng bản tệ ngày càng mạnh. Điều này càng
xấu thêm khi những lời đồn đại về khả năng phá giá đồng bản tệ đã thúc dục
các công ty và cá nhân đổ xô đi mua ngoại tệ nhằm trang trải các khoản nợ.
Hành động này cộng hởng với sự gia tăng đầu cơ càng làm tăng sức ép đối với
đồng bản tệ vốn đợc coi là bị đánh giá quá cao trong bối cảnh nền kinh tế đình
đốn của các nớc.
Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng các nớc này còn thể hiện trong việc
chậm trễ có các giải pháp đối phó với tình trạng di chuyển vốn ngoại tệ một
cách khá tự do. Chính sách quản lí ngoại hối quá lỏng lẻo đã tạo điều kiện cho
sự chuyển đổi dễ dàng giữa đồng bản tệ và ngoại tệ dẫn đến không kiểm soát
đợc sự rời đi của các dòng vốn do sự bán tháo đồng nội tệ để lấy USD khi xuất
hiện các dấu hiệu bất ổn định trên thị trờng tiền tệ .
Tóm lại, theo chúng tôi khủng hoảng tiền tệ tại các nớc Châu á năm 1997
là kết quả của một nền kinh tế hớng ngoại bị lệ thuộc nặng nề vào một số
ngành công nghiệp xuất khẩu và vào các khoản vay nợ, đặc biệt là các khoản
vay ngắn hạn bên ngoài không đợc kiểm soát. Trong khi đó các nớc lại duy trì
một chính sách tỷ giá hối đoái cố định một cách cứng nhắc với sự vận hành
của hệ thống ngân hàng tài chính yếu kém.
III/ Tính chất của cuộc khủng hoảng
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét