Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHCT Nghệ An

Chuyên đề tốt nghiệp
+ Ngân hàng thông báo ( Advising Bank ) : Là ngân hàng thực hiện
thông báo L/C cho Người thụ hưởng theo yêu cầu của NHPH. NHTB thường
là ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của NHPH ở nước nhà xuất khẩu.
Ngoài ra, tuỳ từng trường hợp, còn có thể có các ngân hàng khác tham
gia vào phương thức thanh toán L/C như ngân hàng xác nhận (Confirming
bank), ngân hàng chiết khấu (Negotiating bank), ngân hàng chấp nhận
(Accepting bank), ngân hàng hoàn tiền (Reimbursing bank)
+Ngân hàng xác nhận ( confirming bank):Là ngân hàng bổ sung sự xác
nhận của mình đối với L/C theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của NHPH.
+Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank):Là ngân hàng mà tại đó L/C
có giá trị thanh toán hoặc chiết khấu,hoặc lá bất cứ ngân hàng nào nếu có giá
trị tự do.
Sự khác biệt giữa thanh toán tín dụng chứng từ với các phương thức thanh
toán khác được thể hiện rõ nét ở những ưu, nhược đIểm của phương thức
thanh toán này, ngoài những khác biệt rõ nét như phương thức thanh toán tín
dụng chứng từ đảm bảo công bằng cho người xuất khẩu và người nhập khẩu
hơn các phương thức khác, phạm vi áp dụng rộng hơn nhưng ngược lại lại
phức tạp và tốn kém cho người xuất khẩu và người nhập khẩu hơn các
phương thức thanh toán khác, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ bắt
buộc có sự tham gia của bên thứ ba là ngân hàng.
1.1.2.2. Các loại thư tín dụng chủ yếu.
a. Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C)
Là loại thư tín dụng mà người yêu cầu mở có toàn quyền đề nghị ngân
hàng mở thư tín dụng sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ nó mà không cần báo
trước cho người hưởng lợi biết (đương nhiên việc đó phải diễn ra trước khi
thư tín dụng được thanh toán).Như vậy loại thư tín dụng có thể huỷ ngang
thuộc loại cam kết không bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý. Đứng trên giác độ
quyền lợi của bên bán, loại thư tín dụng này không đảm bảo quyền lợi cho họ;
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
5
Chuyên đề tốt nghiệp
do đó ngày nay nó ít được sử dụng trong thương mại quốc tế .
b.Thư tín dụng không thể huỷ ngang ( Irrevocable L/C ).
Đây là loại thư tín dụng mà sau khi nó đã được mở ra thì mọi việc liên
quan tới sửa đổi bổ sung hoặc huỷ bỏ nó ngân hàng mở chỉ có thể được tiến
hành trên cơ sở sự thoả thuận của các bên có liên quan.
c.Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (Confirm
irrevocable L/C).
Đây là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, được một ngân hàng
khác đảm bảo trả tiền cho người thụ hưởng theo yêu cầu của ngân hàng mở
thư tín dụng đó.
Do có hai ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho người hưởng lợi cho
nên loại thư tín dụng này được coi là rất đảm bảo quyền lợi cho bên bán.
d. Thư tín dụng không thể huỷ ngang, miễn truy đòi (Irrevocable
without recourse L/C).
Đây là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang mà sau khi người thụ
hưởng đã được trả tiền thì ngân hàng mở không có quyền đòi lại tiền trong bất
kỳ tình huống nào.
e. Thư tín dụng chuyển nhượng (Irrevocable transferable L/C).
Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang mà ngân hàng trả tiền được
phép trả toàn bộ hay một phần số tiền của thư tín dụng cho một hay nhiều
người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên.
f. Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C).
Là loại thư tín dụng mà sau khi đã sử dụng xong hoặc đã hết thời hạn
hiệu lực lại tự động có giá trị như cũ và được tiếp tục sử dụng sau một thời
gian nhất định.
g. Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C)
Là loại thư tín dụng được mở ra dựa trên cơ sở số tiền của một thư
tín dụng khác đã được mở trước đó. Loại thư tín dụng này thường được sử
dụng nhiều trong phương thức giao dịch mua bán qua trung gian, chuyển
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
6
Chuyên đề tốt nghiệp
khẩu. Việc vận hành quá trình thanh toán theo loại thư tín dụng này nói
chung khá phức tạp; đặc biệt là những điều kiện về thời hạn, về bộ chứng
từ …
h. Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C).
Là loại thư tín dụng chỉ có giá trị hiệu lực khi thư tín dụng của bên
đối tác cũng đã được mở ra.
k.Thư tín dụng thanh toán dần (Deferred L/C ).
Là loại thư tín dụng mà ngân hàng mở sẽ thanh toán dần dần trị giá
thư tín dụng cho người hưởng lợi theo tiến trình chuyển giao hàng hoá của họ
với bên mua. Loại thư tín dụng này thích ứng với các hợp đồng giao hàng
nhiều lần .
l. Thư tín dụng có điều khoản đỏ (Red clause L/C).
Là loại thư tín dụng có một điều khoản đặc biệt, thể hiện ở chỗ: người
yêu cầu mở cho phép người thụ hưởng được nhận một số tiền nhất định trong
tổng số tiền của thư tín dụng đã mở, ngay cả khi người này còn chưa thực
hiện nghĩa vụ xuất chuyển hàng hoá cho người mua.
m. Thư tín dụng dự phòng (Standby L/C).
Là loại thư tín dụng được phát hành với mục tiêu nhằm trực tiếp bảo
vệ quyền lợi cho bên mua.
1.2.Vai trò của hoạt động TTQT đối với hoạt động kinh doanh của ngân
hàng.
Cùng với sự phát triển của các nghiệp vụ kinh doanh và dịch vụ trong
nước, xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế đã tạo điều kiện cho các nghiệp vụ
ngân hàng quốc tế ra đời và phát triển, trong đó TTQT là mảng hoạt động có
vai trò quan trọng đối với mỗi ngân hàng trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt
giữa các ngân hàng.
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ nhất, TTQT là nghiệp vụ bổ sung, hỗ trợ cho các mặt hoạt động
khác của ngân hàng, chẳng hạn như khi phát triển hoạt động TTQT sẽ tăng
cường được khả năng huy động và sử dụng vốn ngoại tệ của ngân hàng.
Thứ hai, tiến hành hoạt động TTQT tốt sẽ giúp ngân hàng đáp ứng tốt
hơn nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó nâng cao được uy tín của mình
Thứ ba, TTQT sẽ giúp ngân hàng mở rộng quan hệ hợp tác với các
ngân hàng khác trên thế giới, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình đổi mới công
nghệ ngân hàng, từ trang bị kỹ thuật đến đào tạo chuyên viên, góp phần đưa
ngân hàng trở thành ngân hàng đa năng, hiện đại, phục vụ ngày càng tốt hơn
nhu cầu của khách hàng.
Thứ tư, TTQT là dịch vụ trung gian, phí thu được từ hoạt động TTQT
không phải là thu nhập chủ yếu nhưng cũng góp phần đáng kể vào tổng thu
nhập của ngân hàng. Hơn nữa, mức phí trong hoạt động TTQT cũng là công
cụ để ngân hàng thực hiện chiến lược lôi cuốn khách hàng
Nói tóm lại, TTQT là mảng hoạt động rất quan trọng của ngân hàng, nó
không chỉ tạo ra thu nhập mà còn là nhân tố giúp ngân hàng nâng cao uy tín,
tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng qui mô nghiệp vụ hoạt động cũng như
tăng cường mối quan hệ của mình với các ngân hàng khác trên toàn thế giới.
1.2.1.Các tiêu chí phản ánh việc mở rộng hoạt động TTQT theo phương
thức tín dụng chứng từ
Hướng tới các mục tiêu:
 Thoả mãn tối đa nhu cầu khách hàng về thanh toán quốc tế: Đáp ứng
nhu cầu khách hàng về các hình thức L/C, số lượng, qui mô, địa điểm,
thời gian trong hoạt động thanh toán quốc tế.
 Thu hút tối đa khách hàng cho hoạt động thanh toán quốc tế bằng
phương thức tín dụng chứng từ nói riêng và cho hoạt động kinh doanh
của NH nói chung.
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
8
Chuyên đề tốt nghiệp
 Đảm bảo an toàn, hiệu quả trong hoạt động thanh toán quốc tế bằng
phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng.
 Nâng cao uy tín, vị thế của ngân hàng đối với khách hàng và các đối tác
nước ngoài.
1.2.2. Các nhân tố tác động đến việc mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế
theo phương thức tín dụng chứng từ bao gồm các nhân tố sau:
+ Các nhân tố chủ quan ( Xuất phát từ phía các ngân hàng ):
- Dự trữ ngoại tệ
- Tỷ giá hối đoái
- Uy tín của ngân hàng trong TTQT
- Đội ngũ cán bộ và công nghệ thanh toán
- Hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu
+ Các nhân tố khách quan:
- Chính sách của chính phủ và ngân hàng nhà nước về TTQT
- Chịu sự điều chỉnh của các bộ luật quốc tế
1.2.3.Các biện pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương
thức tín dụng chứng từ
- Nghiên cứu đa dạng hoá các hình thức L/C
- Mở rộng mạng lưới ngân hàng đại lý
- Đổi mới công nghệ ngân hàng
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương
thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng công thương Nghệ An
2.1.Tổng quan về Ngân hàng công thương Nghê An
2.1.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển
Hệ thống ngân hàng Việt Nam được thành lập ban đầu là ngân hàng
một cấp; một hệ thống ngân hàng nhà nước vừa hoạt động quản lý nhà nước
về ngân hàng, vừa cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng.
Đến năm 1989, hệ thống ngân hàng được tách thành hai cấp: Ngân
hàng Nhà nước quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng, và các Ngân hàng
thương mại nhà nước cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. NHCTNA
cũng được ra đời từ đó.
Trước đây, NHCTNA là chi nhánh ngân hàng cấp 1 trực thuộc
NHCTVN, tổ chức gồm trụ sở chính, 02 chi nhánh ngân hàng cấp 2 và một số
phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm. NHCTNA hoạt động chủ yếu trên địa bàn tỉnh
Nghệ An, ngoài ra NHCTNA còn hoạt động ở một số địa bàn khác theo sự chỉ
đạo của NHCTVN hoặc liên kết với các tổ chức khác.
Đến năm 2006, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về thành lập,
điều chỉnh chi nhánh, phòng giao dịch; 02 chi nhánh ngân hàng cấp 2 trực
thuộc NHCTNA được tách ra khỏi NHCTNA và được điều chỉnh thành ngân
hàng cấp 1 trực thuộc NHCTVN. Từ đó đến nay, NHCTNA không có chi
nhánh trực thuộc.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Công Thương Nghệ An.
- Căn cứ Điều lệ tổ chức và hoạt động của ngân hàng Công Thương
Việt Nam được thống đốc Ngân hàng nhà nước phê chuẩn tại quyết
định số 67/QĐ-NH 5 ngày 27/03/1993.
- Căn cứ Quyết định số 090/Qđ-HĐQT-NHCT ngày 04/6/02003 của hội
đồng quản trị về việc “Phê duyệt mô hình tổ chức kinh doanh và mô hình hiện
đại hoá chi nhánh”.
- Theo đề nghị của tộng giám đốc Ngân hàng công thương Việt Nam.
Quyết định: Chuyển mới mô hình tổ chức của chi nhánh Ngân
hàng công thương Nghệ An theo dự án hiện đại hoá Ngân hàng công thương,
thì Cơ cấu tổ chức của NHCTNA được thể hiện qua sơ đồ sau:
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
10
Chuyên đề tốt nghiệp
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
Các
Điểm
giao
dịch
Bộ phận kiểm tra, kiểm soát
Các
Phòng
giao
dịch
Phòng
tiền tệ
kho
quỹ
Phòng
quản lý
rủi ro
11
Chuyên đề tốt nghiệp
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
Phòng
thông
tin
điện
toán
Ban Giám đốc
Phòng
thanh
toán
xuất
nhập
khẩu
Phòng
kế toán
giao
dịch
12
Chuyên đề tốt nghiệp
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
Quan hệ kiểm tra, kiểm soátQuan hệ quản lý, điều hành
Phòng
khách
hàng

nhân
Phòng
tổ
chức-
hành
chính
Phòng
khách
hàng
doanh
nghiệp
13
Chuyên đề tốt nghiệp
NHCTNA có 160 cán bộ công nhân viên, trong đó có 145 người đã tốt
nghiệp từ Đại học trở lên, chiếm 90%.
Chức năng, nhiệm vụ các bộ phận trong NHCTNA như sau:
1. Ban giám đốc:
- Quản lý, điều hành mọi hoạt động tại NHCTNA.
2. Phòng tổ chức- Hành chính:
- Thực hiện công tác tổ chức, đào tạo cán bộ;
- Quản lý lao động, tiền lương, BHYT, BHXH, các chế độ liên quan
đến chính sách của cán bộ công nhân viên;
- Thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục vụ hoạt động kinh
doanh;
- Thực hiện công tác bảo vệ, an ninh trật tự, an toàn tài sản tại
NHCTNA.
3. Phòng khách hàng doanh nghiệp:
- Trực tiếp giao dịch với khách hàng là các doanh nghiệp để khai thác
vốn bằng VND và ngoại tệ;
- Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản
phẩm tín dụng;
- Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm, dịch vụ
ngân hàng cho các doanh nghiệp;
- Tham mưu cho Ban giám đốc dự kiến kế hoạch kinh doanh;
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh;
- Báo cáo hoạt động kinh doanh;
- Thực hiện công tác thi đua, khen thưởng;
- Làm đầu mối trong việc thực hiện chế độ kiểm tra, kiểm soát nội bộ
của NHCTNA.
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét